NHỮNG BƯỚC ÐƯỜNG THEO CHÚA
HỒI KÝ THÁNH I-NHÃ

 

DO CHA LUIS G. DA CÂMARA, S.J.

NGHE THÁNH I-NHÃ KỂ

SAU ÐÓ ÐỌC CHO NGƯỜI KHÁC GHI CHÉP LẠI.

Hoàng Sóc Sơn
giới thiệu, dịch và chú thích

 

NỘI DUNG.

Lời mở

Dẫn nhập

Lời nói đầu của cha Jeronimo Nadal

Lời nói đầu của Cha Luis G. da Câmara

Ðược mời gọi phục vụ Đức Kitô

Hướng đến giúp đỡ các linh hồn

Ði học và tìm bạn

Nhận sứ mạng từ vị đại diện Đức Kitô

Phụ lục

Tham khảo

 

 

LỜI MỞ

 

            Những bước đường theo Chúa là tựa do chúng tôi đặt cho tập sách thường được gọi là Hồi Ký (hay Tự Truyện, hay Tự Thuật) của thánh I-nhã. Nội dung do chính thánh I-nhã kể lại cho cha Luis Gonalves da Câmara trong hai năm 1553 và 1555. Cha này ghi chép những điều cốt yếu, sau đó đọc cho thư ký chép lại. Tập sách được hoàn thành vào tháng 12 năm 1555 tại Genova, nước Ý.

            Vào năm 1552, thánh I-nhã đã 61 tuổi, đã làm Bề Trên Cả tiên khởi Dòng Tên 11 năm, đang ở nhà Ðức Mẹ Trên Ðường, trụ sở Dòng Tên lúc đầu, tại Rôma. Vì ngài hay ốm đau, người ta sợ ngài không sống được bao lâu nữa. Các môn đệ của ngài, đặc biệt là hai cha Juan de Polanco và Jeronimo Nadal, nài nỉ ngài kể lại Thiên Chúa đã dẫn dắt ngài từ khi ngài hoán cải đến thời điểm ấy thế nào. Không phải là tò mò, các cha ấy nghĩ rằng thấy được hoạt động của Thiên Chúa trong tâm hồn thánh I-nhã thì cũng hiểu được nguồn gốc và tinh thần đích thực của Dòng Tên. Vì thế các cha ấy ước mong thánh I-nhã kể lại để làm như một bản di chúc thiêng liêng. Ơn gọi của thánh I-nhã chẳng phải là mô hình và mẫu gương sống động cho cả Dòng sao?

            Tuy nhiên, khó khăn đến từ chính thánh I-nhã. Một mặt ngài rất bận rộn vì vừa phải điều hành Dòng, vừa phải soạn thảo Hiến Chương, lại còn phải phụ trách một số hoạt động bác ái nữa. Mặt khác, và có lẽ đây là lý do chính, ngài không muốn nói về chính mình. Nhưng ngày 4.8.1553, ngài đã quyết định kể cho cha L.G. da Câmara.

            Cha L. G. da Câmara sinh tại Bồ Ðào Nha khoảng năm 1519, là con viên Tổng Ðốc Madeira. Năm 1535, cha đến Paris học ngôn ngữ và triết lý. Tại đó, cha gặp chân phước Phêrô Favre và biết nhóm các bạn cùng chí hướng với thánh I-nhã. Năm 1545, cha về Bồ Ðào Nha và gia nhập Dòng Tên. Tháng 5 năm 1553, cha được gọi về Rôma để báo cáo tình hình Dòng Tên tại Bồ Ðào Nha. Xong nhiệm vụ, cha được thánh I-nhã giữ lại làm quản lý nhà Ðức Mẹ Trên Ðường. Cha là một người rất gần gũi với thánh I-nhã trong đời sống hằng ngày, lại có trí nhớ rất tốt và đặc biệt hết sức quan tâm đến những gì liên hệ tới thánh I-nhã. Sáng hôm 4.8.1553, cha gặp thánh I-nhã trong vườn để nói chuyện về đời sống thiêng liêng. Khi cha nói về hư vinh, thánh I-nhã chỉ cho cha cách thắng được loại cám dỗ này. Ngài kể lại việc ngài phải mất hai năm chiến đấu mới thắng được. Thấy những điều mình kể giúp được cho cha L. G. da Câmara, ngài nhận ra nếu kể lại tiến trình ngài đã trải qua từ một kẻ ham danh đến một người hành hương, chẳng những ngài có thể giúp cha ấy mà giúp được nhiều người khác nữa. Thế là ngài quyết định kể cho cha ấy những bước đường theo Chúa của ngài. Thật bất ngờ: điều cha Polanco và cha Nadal nài nỉ mãi không được thì cha L. G. da Câmara lại 'bất chiến tự nhiên thành'.

            Thánh I-nhã bắt đầu kể câu chuyện vào cuối tháng 8 năm 1553. Cha L. G. da Câmara chăm chú lắng nghe, rồi ngay lập tức về phòng ghi chép lại những điểm cốt yếu, sau đó đọc cho một thư ký chép lại từng chữ. Cha L. G. da Câmara cho biết mình 'không viết một chữ nào ngoài những điều đã nghe Cha [1] nói'. Cha Nadal cho biết cha L. G. da Câmara 'có trí nhớ tuyệt vời'. Tuy nhiên, giữa những điều cha L. G. da Câmara viết ở Lời nói đầu và trong bản Hồi Ký, vẫn có một vài chi tiết không khớp [2]. Dầu sao, chúng ta có thể yên tâm là chúng ta chắc chắn những gì được viết ra diễn tả đúng như thánh I-nhã muốn.

            Thánh I-nhã không kể liên tục từ đầu đến cuối, nhưng vì nhiều lý do khác nhau, ngài chia làm ba đợt:

            Ðợt 1, trong tháng 8 và tháng 9 năm 1553: từ đầu đến giai đoạn Manresa.

            Ðợt 2, từ 9 đến 23 tháng 3 năm 1555: từ giai đoạn Manresa đến chuyện thánh I-nhã đi Rouen.

            Ðợt 3, từ 22 tháng 9 đến 20 hay 22 tháng 10 năm 1555: từ chuyện thánh I-nhã đi Rouen đến hết.

            Sau hai đợt đầu, cha L. G. da Câmara đọc cho thư ký chép lại bằng tiếng Tây Ban Nha tại Rôma. Sau đợt ba, cha đọc cho thư ký chép lại bằng tiếng Ý, vì không có thư ký biết tiếng Tây Ban Nha, tại Genova. Sau đó, cha ấy viết Lời nói đầu, có lẽ trước khi thánh I-nhã qua đời (31.7.1556), vì không thấy nhắc gì đến việc ngài qua đời. Ngoài ra, cha ấy còn viết thêm 13 ghi chú ngoài lề nữa.

            Bản gốc đã thất lạc. Chúng ta còn giữ được một vài bản sao được chép lại từ khá sớm, thí dụ bản cha Nadal dùng vào năm 1557, khi đi kinh lý nhiều cộng đoàn Dòng Tên. Cha Nadal, có lẽ không biết là trước đó cha L. G. da Câmara đã viết Lời nói đầu rồi, nên viết Lời nói đầu khác, trong khoảng 1561-1576. Trong khoảng 1558-1561, cha Annibal du Coudret, Dòng Tên, người Pháp, dịch bản Hồi Ký sang tiếng Latinh.

Một điều đáng tiếc là 10 năm sau khi thánh I-nhã qua đời, thánh Phanxicô Borja, trong cương vị Bề Trên Cả Dòng Tên, đã ra lệnh cho cha Pedro Ribadeneira [3] viết bản tiểu sử đầu tiên về thánh I-nhã, nhưng cũng ra lệnh gạch bỏ những trích dẫn bản Hồi Ký, vì cho rằng bản tường thuật của thánh I-nhã không đầy đủ và chắp nối. Thế là di chúc và giáo huấn của vị sáng lập bị Dòng Tên hầu như quên mất! Năm 1731 nhóm Bollandistes ấn hành và phát hành bản dịch Latinh (trong Acta Sanctorum, vol. VII Julii), và đánh số lề từ 1 đến 101 như hiện chúng ta thấy. Phải chờ thêm hơn 170 năm nữa, bản Tây Ban Nha -Ý mới được xuất bản lần đầu năm 1904 (Monumenta Ignatiana Scripta de Sancto Ignacio de Loyola 1, Madrid). Ðây là ấn bản phê bình đầu tiên. Một ấn bản phê bình khác, cùng với bản dịch Latinh, được ấn hành năm 1943 trong bộ Fontes Narrativi de S. Ignatio de Loyola 1: Narrationes scriptae ante annum 1587 (Roma: MHSI 1943). Từ đây, bản Hồi Ký ngày càng được đọc và nghiên cứu chu đáo hơn. Ngày nay, tập Hồi Ký được coi như viên ngọc trong di sản của thánh I-nhã, là nền móng cho mọi nghiên cứu và học hỏi về thánh I-nhã.

            Bản Hồi Ký do cha L. G. da Câmara hoàn thành không có tựa và không phân chương. Cha Nadal đặt tựa là Acta P. Ignatii ut primum scripsit P. Ludovicus Gonzalves excipiens ex ore ipsius Patris. Xin phép dịch là Hạnh cha I-nhã theo như thoạt tiên cha L. G. da Câmara đã được nghe chính ngài kể, sau đó viết lại. Các bản dịch sang tiếng Anh và tiếng Pháp khá tự do trong việc đặt tựa và phân chương. Thí dụ cha A. Thiry gọi là Récit du Pèlerin, Autobiographie de Saint Ignace de Loyola và chia thành 7 chương, thêm phần Tâm sự ở cuối; cha J.N. Tylenda gọi là A Pilgrim's journey, the Autobiography of Saint Ignatius và chia thành 11 chương.

            Bản dịch tiếng Việt đầu tiên do cha Hoàng Văn Lục, S.J., thực hiện năm 1975 với tựa là Trên đường tìm Chúa và chia thành 10 chương cùng với phần cuối được gọi là Bản đúc kết. Tại sao cần một bản dịch mới? Bản dịch cũ đã được thực hiện cách nay trên 25 năm. Trong thời gian này, có nhiều nghiên cứu về bản Hồi Ký đã giúp chúng ta có thể hiểu sâu rộng hơn sứ điệp của thánh I-nhã. Vả lại, bản dịch cũ rất ít chú thích, làm cho người đọc khó lĩnh hội hết được bản văn. Với bản dịch này, chúng tôi sẽ cố gắng sử dụng những nghiên cứu gần đây để dịch và chú thích, hi vọng sẽ giúp được người đọc hơn.

            Tại sao đặt tựa là Những bước đường theo Chúa? Bản Ðịnh Thức Thể Chế Dòng Tên do thánh I-nhã và các bạn cùng chí hướng soạn thảo, rồi được Tòa Thánh phê chuẩn, gọi Dòng Tên là một con đường dẫn đến với Thiên Chúa. Thánh I-nhã là tổ phụ Dòng Tên đã được Thiên Chúa dẫn qua các chặng đường mà các Giêsu hữu được mời gọi đi lại hành trình ấy. Ðó là ý của thánh I-nhã khi thuật lại Chúa đã dẫn dắt ngài thế nào. Ý của cha Nadal khi xin và ý của thánh I-nhã khi kể đều coi đây là di chúc và giáo huấn của vị sáng lập Dòng Tên, nhằm giúp anh em trong Dòng đi đến nguồn gốc và nền tảng của Dòng. Chính trong cái nhìn đó, chúng ta mới hiểu được những bước đường theo Chúa của thánh I-nhã cũng phải là những bước đường theo Chúa của từng Giêsu hữu cũng như của toàn thể Dòng Tên: (1) quyết tâm phục vụ Ðức Kitô; (2) phục vụ Ðức Kitô bằng cách giúp đỡ các linh hồn; (3) không sống và làm việc đơn độc nhưng trong một nhóm bạn mà mà Chúa Giêsu là đầu; (4) nhận sứ mạng từ Ðức Thánh Cha trong cương vị người thay thế Ðức Kitô ở trần gian.

            Thánh I-nhã là một trong những người gây tranh cãi hạng nhất trong lịch sử Hội Thánh cũng như lịch sử thế giới. Người ta có cái nhìn rất khác nhau về ngài, thậm chí đôi khi hoàn toàn trái ngược nhau. Rất nhiều người chỉ nói về ngài theo thành kiến hay suy đoán, hoặc theo người này người kia nói. Ðọc bản Hồi Ký, chúng ta mới biết đời sống nội tâm phong phú và thâm sâu của ngài, để thấy đa số các ý kiến về ngài, ngay cả nơi những tác giả khá nổi tiếng, đôi khi chỉ mới dừng lại ở phần vỏ chứ chưa đi vào phần ruột của ngài. Riêng tại Việt Nam, người ta còn hiểu rất ít về thánh I-nhã. Ngay cả những sách viết về ngài, vốn rất hiếm, lại khá sơ sài, mà nhiều khi chỉ là những suy đoán! Ðã đến lúc chúng ta để cho ngài trực tiếp nói với người Việt Nam nói chung, và với người Công Giáo Việt Nam nói riêng. Bản Hồi Ký chính là cơ hội để chúng ta được nghe đích thân ngài nói, chứ không chỉ nghe người ta nói về ngài.

Ước mong bản dịch cùng với giới thiệu và chú thích của chúng tôi giúp người đọc hiểu được chính xác và sâu xa hơn một chút về một vị thánh có vai trò khá quan trọng trong lịch sử đời tu, lịch sử Hội Thánh, và lịch sử thế giới.

 

Hiển Linh 1.1.2002

HOÀNG SÓC SƠN

 

DẪN NHẬP

Hành trình thiêng liêng cỦa thánh I-nhã

 

            Những bước đường theo Chúa khởi đầu với sự kiện Pamplona năm 1521 và kết thúc với năm 1538, sau khi thánh I-nhã đến ở hẳn tại Rôma. Ðó là 17 năm quan trọng đặc biệt trong cuộc đời thánh I-nhã (1491-1556), 17 năm người ta thường gọi là giai đoạn hành hương. Tuy nhiên, đó chưa phải là toàn bộ đời sống ngài. Chúng tôi sẽ trình bày sơ lược 30 năm đầu (1491-1521) và 18 năm cuối (1538-1556), nhờ đó chúng ta có thể dễ hiểu 17 năm giữa hơn. Chúng ta cũng biết rằng Những bước đường theo Chúa không phải là bản tự thuật đầy đủ và theo nghĩa thông thường của thánh I-nhã:

1) Ngài không chỉ thuật lại như một nhà báo, mà ngài nhìn lại cả đời sống dưới ánh sáng đã nhận được trong suốt cuộc đời, đặc biệt là kinh nghiệm thần bí.

2) Hình như ngài chỉ kể những gì các bạn đầu tiên của ngài chưa biết: vì thế đôi khi ngài kể sơ sài về một sự kiện rất quan trọng, thí dụ thị kiến La Storta, nhưng đôi khi lại kể khá chi li về những sự kiện không thật cần thiết, thí dụ trong chuyến hành hương Giêrusalem;

            3) Hình như ngài kết thúc đột ngột vì cha L. G. da Câmara phải đi Tây Ban Nha.

            Ngoài ra, lúc ấy, thánh I-nhã đã tương đối lớn tuổi, và rất bận rộn, nên có thể bỏ qua một số chi tiết. Thứ đến, ngài cũng không quan tâm đặt những điều ngài kể trong bối cảnh lịch sử thế giới và Hội Thánh đang chuyển biến, mà chỉ thuật lại những điều ngài xét là sẽ giúp ích cho con cái thiêng liêng của ngài thôi.

Chúng ta sẽ cố gắng bổ sung những điều ấy trong bài dẫn nhập này.

 

I

BA MƯƠI NĂM ÐẦU 1491-1521

            Thánh I-nhã tên thật là Inigo López de Loyola. Ngài sinh năm 1491 [4] tại lâu đài Loyola, thuộc giáo xứ Azpeitia, trong tỉnh Guipuzcoa, miền bắc Tây Ban Nha. Gia đình ngài thuộc dân tộc thiểu số Basco. Tiếng mẹ đẻ của ngài là tiếng Basco (khác với tiếng Tây Ban Nha). Ngài là con trai út trong gia đình: trên ngài có 10 anh chị; ngoài ra cha ngài còn có ít là hai người con ngoại hôn nữa.

            Gia đình ngài thuộc hàng quí tộc ở Tây Ban Nha, đã lập được nhiều công trạng với triều đình và luôn luôn trung thành với triều đình. Cha ngài làm chủ lâu đài Loyola, có quyền thu tô của nông dân trong vùng, có quyền chỉ định cha sở nhà thờ xứ Azpeitia. Về đời sống tôn giáo, gia đình ngài luôn luôn gắn bó với Hội Thánh Công Giáo. Tuy nhiên, về đời sống luân lý, gia đình ngài không phải lúc nào cũng đáng nêu gương. Thí dụ cha ngài có mấy người con rơi; anh ngài, linh mục Pero, cha sở Azpeitia, khi qua đời cũng để lại mấy người con rơi.

            Tên rửa tội của ngài là Inigo (người Tây Ban Nha thường thêm dấu ngã trên chữ n để đọc là I-nhi-gô), được Latinh hóa là Enneco. Trong tiếng Basco hiện thời, thay vì Inigo, người ta viết là Eneko. Ðây là tên vị viện phụ đan viện Biển Ðức Ona ở Burgos, qua đời năm 1057, và dân chúng trong vùng tôn kính như một vị thánh. Ignatius (Inhaxiô hay I-nhã) lần đầu tiên xuất hiện trong văn bằng tốt nghiệp đại học Paris của ngài năm 1535, hình như đơn giản vì các nhân viên đại học tưởng Inigo trong tiếng Basco chính là Ignatius trong tiếng Latinh. Về sau, ngài có lòng sùng kính đặc biệt thánh giám mục Inhaxiô thành Antiôkhia.

            Có lẽ ngài mồ côi mẹ từ nhỏ. Chúng ta không thấy thánh I-nhã nhắc đến mẹ của ngài lần nào. Ngài được gia đình giao cho bà Maria de Garín gần nhà nuôi dưỡng. Bà vú nuôi này là vợ một người thợ rèn, tức là thuộc giới bình dân. Bà đã dạy ngài nói, đọc kinh, và cả lòng đạo của người bình dân xứ Basco. Sau khi ngài qua đời, bà xác định năm sinh của ngài là 1491 chứ không phải 1493 như lúc ấy có nhiều người nghĩ. Chúng ta không biết chính xác ngài ở với bà vú nuôi trong thời gian nào. Anh cả của ngài là Juan Perez chết năm 1496 trong một chiến dịch của Tây Ban Nha ở Napoli, nước Ý. Anh thứ hai là Martín García hưởng quyền thừa kế. Anh này cưới chị Magdalena de Araoz năm 1498. Có lẽ trong khoảng thời gian này, thánh I-nhã trở về lâu đài của gia đình, vì có chị dâu chăm sóc, và để học hành. Trình độ học vấn của ngài vào lúc hoán cải là biết đọc biết viết. Có lẽ gia đình thuê thầy đến dạy ngài tại nhà, như các gia đình quí tộc đương thời thường làm. So với mặt bằng dân trí thời nay thì trình độ học vấn của ngài thấp, nhưng so với người đương thời thì kể là đủ.

            Có lẽ cha ngài muốn sau này ngài làm linh mục để hưởng bổng lộc nhà thờ xứ Azpeitia, nên hình như đã cho ngài 'chịu chức cắt tóc' [5]. Tuy nhiên, có lẽ ngài muốn tiến thân trên đường công danh hơn, nên năm 15 tuổi, được cha gởi đến tập sự tại dinh quan Thống Ðốc Ngân Khố Hoàng Gia Juan Velásquez de Cuéllar ở Arévalo, cách Loyola chừng 600 km. Cùng với các con trai của viên thống đốc, ngài được huấn luyện làm quan chức triều đình sau này: cỡi ngựa, đấu kiếm, giao tiếp, ca hát, khiêu vũ... Cũng tại Arevalo, ngài làm quen với những cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp rất thịnh hành thời đó. Viên thống đốc thường phải đi đây đó để giải quyết công việc, nhiều khi thánh I-nhã cũng tháp tùng.

            Một sự kiện đáng kể trong giai đoạn này xảy ra trong dịp lễ Hóa Trang (thứ ba trước Lễ Tro) ngày 2.2.1515. Thánh I-nhã bị tố cáo là 'kẻ chủ mưu' trong một vụ 'rất nghiêm trọng' xảy ra vào 'ban đêm, có sắp đặt trước', được thực hiện bằng một cuộc 'phục kích'. Cho đến nay, người ta vẫn không biết điều gì đã thực sự diễn ra. Sau đây là điều người ta phỏng đoán. Cụ thân sinh thánh I-nhã đã qua đời năm 1507. Gia đình Loyola 'bảo trợ' giáo xứ Azpeitia, nghĩa là có quyền chỉ định cha xứ. Từ lâu, cha xứ Azpeitia trên danh nghĩa (được hưởng giáo bổng) là cha Juan de Anchieta. Cha này sống ở triều đình, coi sóc nhà nguyện của hoàng gia, giao việc của giáo xứ cho các cha phụ tá. Năm 1515, cha này tính về hưu, nên chỉ định người cháu là cha García López de Anchieta kế nhiệm, trong khi gia đình Loyola muốn anh của thánh I-nhã là linh mục Pero López làm cha sở để hưởng giáo bổng. Lợi dụng đêm lễ Hóa Trang, thánh I-nhã cùng với người anh linh mục tổ chức một 'tiết mục' nào đó chống lại các giáo sĩ ở Azpeitia. Sự việc được kể là nghiêm trọng, nên hai anh em thánh I-nhã bị truy tố ra tòa. Hai anh em nại đến luật: cả hai là giáo sĩ, nên không thể bị truy tố ra tòa án dân sự. Người anh là linh mục nên cứ luật thì chỉ bị xét xử ở tòa án đạo. Riêng thánh I-nhã, người ta không thấy tên trong danh sách những người chịu chức cắt tóc trong sổ sách của giáo phận Pamplona [6]. Vả lại, ai cũng thấy ngài không hề cắt tóc theo kiểu hàng giáo sĩ thời đó (chỉ để tóc lại thành như một vòng tròn trên đầu) và cũng không hề thấy ngài mặc áo giáo sĩ (áo chùng thâm); trái lại ngài để tóc dài tới vai, đội mũ có gắn lông chim, mặc quần áo màu sáng, mang giày chật, mang kiếm và dao găm, đôi khi còn mặc áo giáp nữa, đúng như các hiệp sĩ đương thời. Nhưng rồi mọi chuyện cũng được bỏ qua, vì gia đình ngài rất thế lực và 'nén bạc đâm toạc tờ giấy!

Ðầu năm 1516, vua Fernando của Tây Ban Nha qua đời, lẽ ra công chúa Juana thừa kế ngai vàng cả hai vương quốc Castilla và Aragon tồn tại song song ở Tây Ban Nha từ gần 300 năm, nhưng vì bà bị coi là điên, nên con bà là Carlos (cháu ngoại vua Fernando và nữ hoàng Isabel, thường được gọi là Các Quân Vương Công Giáo, đồng thời là cháu nội hoàng đế Maximilian nước Ðức; từ năm 1519 lên nối ngôi ông nội làm hoàng đế Ðức, trong khi vẫn giữ ngôi vua Tây Ban Nha) lên nối ngôi, và chính thức thống nhất Tây Ban Nha. Nhà vua ra lệnh cho Arévalo và các thành phố khác thuộc quyền của thống đốc Velasquez trợ cấp cho thái hậu Germaine (vợ sau của vua Fernando). Viên thống đốc cùng với dân chúng trong vùng, nhất là những khu vực được miễn thuế, không chấp nhận, và mưu toan kháng cự bằng võ lực. Thống đốc Velasquez bị cách chức năm 1516 và qua đời năm 1517.

            Thánh I-nhã đến giúp việc cho công tước Antonio Manrique de Lara, xứ Nájera, kiêm phó vương xứ Navarra. Hai sự kiện nhỏ xảy ra trong thời gian này nói lên phần nào con người của thánh I-nhã. Năm 1520, dân chúng Nájera nổi loạn chống lại công tước. Thánh I-nhã đã cùng với đoàn quân vào dẹp loạn. Dân trong thành bị đoàn quân của công tước cướp đoạt tài sản, nhưng thánh I-nhã không hề đụng đến cây kim sợi chỉ của dân. Ðầu năm 1521, dân hai thành phố San Sebastian và Hernani trong tỉnh Guipuzcoa nổi loạn, thánh I-nhã được công tước phái đến để dàn xếp hòa bình, và ngài đã thành công.

            Chính từ bối cảnh ấy, thánh I-nhã tham dự vào trận đánh tại Pamplona mà ngài dùng để khởi đầu Những bước đường theo Chúa.

 

II

MƯỜI BẢY NĂM HÀNH HƯƠNG 1521-1538

            Khi chọn ai để thi hành một sứ mạng đặc biệt, thường Thiên Chúa chuẩn bị rất kỹ, nhưng không cho đương sự biết hết ngay từ đầu, mà dùng các biến cố để dần dần cho người ấy biết ý định của Chúa và chuẩn bị người ấy đón nhận và thi hành sứ mạng. Khoa sư phạm của Chúa là 'từng bước một thôi' như Ðức Hồng Y John Newman diễn tả.

1.                 Phục vụ Ðức Kitô

(cuối tháng 5.1521 đến cuối tháng 2.1522).

            Cho đến khi bị thương ở Pamplona năm 1521, thánh I-nhã là một người mải mê sự đời. Ngài thừa hưởng đức tin của gia đình, nhưng đức tin của ngài phần nào như nén bạc được chôn giấu kỹ. Phục vụ thống đốc Velasquez rồi phục vụ công tước Manrique, ngài nhắm trước hết là công danh. Ðối với ngài, Pamplona có thể là một cơ may để ngài tiến thân. Nhưng Chúa đã biến Pamplona thành khúc quanh quyết định của đời ngài: từ chỗ làm hiệp sĩ phục vụ triều đình Tây Ban Nha, ngài trở thành hiệp sĩ phục vụ Ðức Kitô.

Vua Franois I của Pháp và vua Carlos I của Tây Ban Nha (đồng thời là hoàng đế Karl V [thường được gọi là Charles Quint] của "Ðế quốc Rôma thánh của dân tộc Ðức"), là hai kẻ thù không đội trời chung. Một trong những điểm tranh chấp là vương quốc Navarra nhỏ bé, quê hương thánh Phanxicô Xavier. Năm 1512, Tây Ban Nha xua quân chiếm đóng Navarra, một vương quốc độc lập từ lâu. Năm 1515, Tây Ban Nha sáp nhập Navarra và đặt phó vương cai trị. Năm 1521, Pháp đem quân vào Navarra, bao vây thủ phủ Pamplona. Cả phó vương cũng như viên tướng chỉ huy quân đội Tây Ban Nha tại Pamplona đều bỏ chạy. Chỉ còn lại thánh I-nhã và một số hiệp sĩ cố thủ trong pháo đài. Thứ hai sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, ngày 20.5.1521, quân Pháp tấn công pháo đài. Thánh I-nhã bị thương nặng ở chân. Ngày 24, pháo đài đầu hàng. Thánh I-nhã được quân Pháp đưa về dưỡng bệnh tại lâu đài Loyola của gia đình.

            Ngài được người chị dâu Magdalena tận tình chăm sóc. Các bác sĩ được mời đến để chữa trị. Có lúc bác sĩ tưởng ngài không qua được. Tuy nhiên, mọi sự cuối cùng cũng tốt đẹp, nhưng ngài phải nằm liệt giường một thời gian, và sau này suốt đời đi cà nhắc. Trong lúc chữa trị, ngài vẫn mơ tưởng đến công danh. Ngài xin chị Magdalena tìm cho tiểu thuyết kiếm hiệp để đọc, nhưng người phụ nữ đạo đức này chỉ có hai cuốn sách đạo là Hạnh các thánh Cuộc đời Ðức Kitô, nên ngài đành phải đọc để giết thời giờ. Hai hình ảnh thay phiên nhau chiếm đoạt tâm trí ngài: một bên là hình ảnh các hiệp sĩ tìm công danh và làm đẹp lòng một phụ nữ quí phái, bên kia là hình ảnh các thánh, sống nghèo khó và khiêm tốn, làm môn đệ Ðức Kitô. Hình ảnh trước đem đến cho ngài niềm vui hời hợt và mau qua, sau đó là trống rỗng, vô nghĩa. Trái lại, hình ảnh sau làm cho ngài hưởng niềm vui sâu xa và lâu dài. Gương các thánh thúc đẩy ngài: "Thánh Phanxicô đã làm như thế, tôi cũng phải làm như thế; thánh Ðaminh đã làm như vậy, tôi cũng phải làm như vậy." Thế là ngài quyết định thay vì tiếp tục làm hiệp sĩ phục vụ triều đình Tây Ban Nha thì noi gương các thánh đi phục vụ Ðức Kitô. Ngài đã 'được Ðức Kitô chiếm đoạt" (Pl 3,12).

            Ngài phác họa tương lai: đi chân không, chỉ ăn bánh mì và rau cỏ, chỉ uống nước lã, đi hành hương Giêrusalem để đền tội, sau đó có thể vào một dòng khổ tu, hay sẽ không vào dòng để được tự do sống khổ hạnh. Một ngày cuối tháng 12 năm 1522, sau khi bình phục, ngài cỡi la rời bỏ lâu đài Loyola lên đường mà không cho gia đình biết sẽ đi đâu. Giã từ dĩ vãng.

2.                 Giúp đỡ các linh hồn

(cuối tháng 2.1522 đến tháng 9.1523)

            Ðây là giai đoạn Thiên Chúa cho ngài thấy rõ ngài được gọi làm tông đồ.

            Trước hết, ngài đến đan viện dòng Biển Ðức tại Montserrat để dứt bỏ quá khứ. Sau ba ngày xét mình và xưng tội chung cả đời, ngài tặng một người hành khất trang phục hiệp sĩ, rồi mặc trang phục của khách hành hương, canh thức suốt đêm trước tượng Ðức Mẹ, theo thói quen trong nghi thức tấn phong hiệp sĩ, dâng kiếm và dao găm cho Ðức Mẹ, rồi biếu đan viện con la: ngài trở thành một người hành hương đi bộ hoàn toàn vô danh.

            Có lẽ theo lời khuyên của cha giải tội ở Montserrat, ngài đến Manresa nghỉ ngơi và tĩnh tâm để chuẩn bị đi Giêrusalem. Ngài đã ở lại đó hơn 10 tháng.

            Trong bốn tháng đầu, ngài thực hiện ý định đã mơ ước: mỗi ngày quỳ gối cầu nguyện riêng 7 giờ, dự lễ, dự giờ kinh phụng vụ, hành khất, ăn uống kham khổ, để râu tóc và móng chân móng tay mọc bừa bãi. Ngài thực sự thi đua với các thánh ẩn tu và muốn hơn cả các thánh nữa. Ngài thấy rất vui với cuộc đời mới.

            Nhưng rồi đến giai đoạn khó khăn. Ngài bối rối vì tội lỗi trong quá khứ, lo lắng về tương lai. Những giờ cầu nguyện của ngài trở nên khô khan. Ngài chán ngán đến nỗi tính cả tới chuyện tự tử. Ngài tìm hết cha linh hướng này đến cha linh hướng khác mà tình trạng vẫn ngày càng khó khăn hơn. Ngài không biết rằng Thiên Chúa đang dùng đêm tối thiêng liêng để thanh luyện linh hồn ngài, điều khá bình thường nơi những người sắp có bước tiến quyết định. Ngài chỉ còn biết kêu xin Chúa: dù phải theo một con chó nhỏ, ngài cũng sẵn lòng.

Cuối cùng là giai đoạn soi sáng và an ủi mãnh liệt. Thiên Chúa dạy dỗ ngài như thầy giáo dạy một em bé. Những chân lý đức tin trở nên sáng tỏ: Thiên Chúa Ba Ngôi, Sáng Tạo, Cứu Chuộc, Thánh Thể, Hội Thánh... Ðỉnh cao là ơn soi sáng ở Cardoner. Ðây là một ơn ngoại thường thâu tóm tất cả các ơn khác đã nhận, đồng thời soi sáng ý nghĩa tất cả các ơn khác đã nhận. Thánh I-nhã được đưa vào các mầu nhiệm thần linh, đồng thời được mời gọi cộng tác với Ðức Kitô để thực hiện chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Ơn soi sáng ở Cardoner xác định dứt khoát cái nhìn siêu nhiên của thánh I-nhã về thế giới và lịch sử, đồng thời biến ngài từ chỗ ước ao sống khổ hạnh đến chỗ xả thân 'giúp đỡ các linh hồn'.

            Với ơn soi sáng ở Cardoner, thánh I-nhã thấy mình trở nên một con người mới. Bên trong, ngài không ước muốn sống như các vị ẩn tu khổ hạnh nữa, nhưng muốn giúp đỡ người ta, đặc biệt về đời sống thiêng liêng như học giáo lý, tập cầu nguyện. Muốn vậy, ngài phải thay đổi cách sống bên ngoài: ăn uống, quần áo... mặc dầu giản dị, nhưng phải tử tế hơn. Ngài cũng hớt tóc, cạo râu, cắt móng chân móng tay. để người ta chấp nhận cho mình đến giúp đỡ họ. Từ nay, ơn gọi tông đồ chi phối toàn bộ cuộc sống và việc làm của ngài.

Những kinh nghiệm thiêng liêng tại Manresa sẽ được thánh I-nhã đúc kết thành tập Linh Thao, sau này ngài dùng để giúp đỡ các linh hồn và qui tụ các bạn cùng chí hướng.

            Giữa tháng 2 năm 1523, thánh I-nhã đi hành hương Giêrusalem, nhưng thay vì đi để làm việc đền tội như một người sám hối, thì đi như một người tông đồ. Ngài ước ao rèn luyện đức tin, đức cậy và đức mến, tức là đời sống siêu nhiên. Ngài muốn được sống gần gũi, thân thiết với Ðức Kitô hơn, muốn đặt chân mình trên vết chân của Chúa tại Ðất Thánh. Ngoài ra, ngài ước ao ở lại để truyền giáo cho người Hồi Giáo lúc ấy cai trị Ðất Thánh. Ðói khát, rét mướt, cực khổ, chê cười, nguy hiểm... ngài trải qua tất cả với lòng tin tưởng tuyệt đối nơi Thiên Chúa.

3-   Ðể phục vụ Ðức Kitô bằng cách giúp đỡ các linh hồn hơn : đi học và tìm bạn

(1523-1537)

            Thánh I-nhã muốn ở lại Giêrusalem để vừa được sống gần gũi với Chúa Giêsu, vừa làm việc tông đồ với người Hồi Giáo, nhưng giáo quyền sở tại không cho phép. Trên đường về lại Tây Ban Nha, ngài tự hỏi: "Phải làm gì?"

Không biết phải làm gì, thánh I-nhã để cho Chúa Thánh Thần dẫn dắt từng bước. Về đến Barcelona, ngài gặp lại những người bạn đã quen hơn một tháng trước. Dự tính học hành thêm để có thể làm việc tông đồ tốt hơn của ngài được họ ủng hộ. Sống nghèo, dành nhiều thời giờ để cầu nguyện, và học thêm: thật không phải là điều dễ dàng. Ðôi khi ngài phải hy sinh giờ cầu nguyện và việc tông đồ để việc học hành đạt kết quả. Sau hai năm cố gắng, ngài nghe lời khuyên của thầy giáo và các bạn đến Alcalá học triết lý.

Alcalá cho ngài thấy rõ hơn: muốn giúp đỡ các linh hồn, phải tìm những người cùng chí hướng để hoạt động tông đồ được mở rộng hơn và hữu hiệu hơn. Lúc ở Barcelona, đã có ba thanh niên muốn bắt chước cách sống của ngài. Tại Alcalá, có thêm người thứ . Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, nhóm của ngài đã làm cho giáo quyền phải bận tâm: ngài và các bạn bị cấm dạy giáo lý và mặc đồng phục. Không được phép giúp đỡ các linh hồn ở Alcalá nữa, ngài và các bạn đến Salamanca. Chẳng bao lâu sau, chưa kịp học hành gì, ngài bị Tòa Án Giáo Lý ở Salamanca bắt giam rồi cấm giải thích cho người khác khi nào là tội trọng, khi nào là tội nhẹ, nếu chưa học xong bốn năm thần học. Kiên quyết phải học để có thể giúp đỡ các linh hồn hơn, năm 1528, ngài đi Paris để chuyên tâm học hành.

Nhận thấy vốn kiến thức của ngài vừa sơ sài, vừa mất căn bản, ngài quyết định bắt đầu việc học lại từ đầu. Ngài hy sinh việc tông đồ, bớt giờ cầu nguyện, chấp nhận bỏ đời sống hành khất đã quen từ nhiều năm, để có thể học hành đến nơi đến chốn. Nhóm bạn cùng chí hướng ở Tây Ban Nha bỏ ngài, mỗi người đi một ngả. Ngài tập họp nhóm mới gồm ba người, nhưng bị cộng đồng phản ứng mạnh, nên nhóm mau chóng tan rã. Qua hai lần thất bại về nhóm bạn, ngài thấy phải tiến hành chu đáo hơn.

Năm 1529, vì ở nhà trọ gặp khó khăn cho việc học, nên ngài xin vào nội trú tại học viện Sainte-Barbe. Ngài ở chung phòng với hai thanh niên khác là Phêrô Favre và Phanxicô Xavier. Ngài đã quyết định không làm việc tông đồ, cũng không đi tìm bạn cùng chí hướng, để chuyên tâm học tập. Nhưng chẳng bao lâu sau, lần lượt Phêrô Favre rồi Phanxicô Xavier muốn chia sẻ hướng tông đồ với ngài. Sau đó đến bốn sinh viên khác nữa. Linh Thao giúp các bạn vừa gắn bó với Chúa Giêsu, vừa gắn bó với thánh I-nhã, vừa gắn bó với nhau. Mỗi Chúa nhật, thánh I-nhã và các bạn đến đan viện Notre-Dame de Vauvert để dự lễ và chia sẻ với nhau về lý tưởng tông đồ. Ngày 15.8.1534, nhóm bạn bảy người cùng nhau tuyên khấn sống thanh bần, đi hành hương Giêrusalem và làm việc tông đồ. Thánh I-nhã gọi đó là những người bạn trong Chúa. Một quyết định gần như đồng thời: thánh I-nhã và các bạn sẽ làm linh mục để giúp đỡ các linh hồn hơn.

Năm 1535, theo lời khuyên của bác sĩ, thánh I-nhã về quê chữa bệnh, các bạn ở lại cứ tiếp tục học, và hẹn sẽ gặp lại nhau để cùng đi hành hương Giêrusalem. Ðầu năm 1537, thánh I-nhã gặp lại các bạn tại Venezia. Lúc này nhóm bạn đã có tất cả 11 người: nhóm Paris thu nhận thêm 3 bạn và thánh I-nhã thu nhận thêm 1 bạn. Trong khi chờ tàu đi Giêrusalem, các bạn chia nhau đi hoạt động tông đồ tại miền bắc nước Ý. Lúc ấy Venezia và Thổ Nhĩ Kỳ đang có chiến tranh, nên cơ may đi Giêrusalem thật mong manh. Tháng 3 năm 1537, một mình thánh I-nhã ở lại Venezia, trong khi các bạn đi Rôma xin phép lành Ðức Giáo Hoàng trước khi đi hành hương. Ðức Thánh Cha Phaolô III chẳng những cho phép và chúc lành cho chuyến hành hương, mà còn cho tiền lộ phí và cho phép tất cả các bạn chịu chức linh mục. Thánh I-nhã và 5 bạn khác thụ phong linh mục vào tháng 6. (Các bạn khác hoặc đã thụ phong rồi, hoặc phải chờ khi đủ tuổi). Ðể chuẩn bị dâng lễ mở tay, tất cả dành ra một thời gian để cầu nguyện. Sau đó, tất cả họp nhau tại Vicenza, đồng ý đặt tên cho nhóm là Ðoàn Giêsu [7], vì chỉ một mình Chúa Giêsu là đầu và là trưởng.

Ðến đây, mọi dự tính của thánh I-nhã khi ở Giêrusalem về đều đã được thực hiện: học hành đầy đủ, một nhóm bạn cùng chí hướng và chức thánh linh mục.

4.                 Ðể Ðoàn Giêsu phục vụ Ðức Kitô bằng cách giúp đỡ các linh hồn hơn: nhận sứ mạng từ Ðức Thánh Cha

(1537-1538)

            Cho đến lúc ấy, thánh I-nhã và các bạn sống rất sâu đậm kinh nghiệm Kitô giáo, nhưng lại gần như không có quan tâm tích cực nào đối với giáo quyền, trừ những lần phải xin phép, bị thẩm vấn, bị giam giữ. Cả nhóm muốn đi Giêrusalem để trước là sống gần gũi thân thiết với Chúa Giêsu, sau là có thể ở lại để giúp người Hồi Giáo tại đó biết và tin Chúa Giêsu. Nhưng nếu không đi được? Cả nhóm đã nêu lên hai giả định: (1) Nếu đi được, tại Giêrusalem cả nhóm sẽ nhận định xem nên ở lại hay nên về Châu Âu; (2) Nếu không đi được, hoặc nếu nhóm quyết định trở vể Châu Âu, cả nhóm sẽ đến đặt mình dưới quyền Ðức Thánh Cha để ngài trao sứ mạng. Tại sao nại đến Ðức Thánh Cha? Vì nhu cầu tông đồ rất nhiều, không biết nên làm điều nào thì hơn. Ðức Thánh Cha là người đứng đầu toàn thể Hội Thánh, nên biết nơi nào có thể giúp đỡ các linh hồn hơn. Chẳng những thế, Ðức Thánh Cha chính là đại diện Ðức Kitô ở trần gian, và đây chính là điều thánh I-nhã luôn nhấn mạnh, nên nhận sứ mạng từ ngài là nhận sứ mạng từ chính Ðức Kitô.

            Ðiều bao nhiêu năm mới xảy ra một lần lại xảy ra vào đúng năm 1537: không có tàu từ Venezia đi Giêrusalem. Thánh I-nhã và các bạn đi Rôma trình diện Ðức Thánh Cha.

Các bạn chia thành mấy toán. Thánh I-nhã cùng toán với chân phước Phêrô Favre và cha Laínez. Giữa tháng 11 năm 1537, ba người bạn đến một địa điểm gọi là La Storta, cách Rôma chừng 15 km. Tại đó, thánh I-nhã đã có một kinh nghiệm thiêng liêng hết sức quan trọng mà người ta quen gọi là thị kiến La Storta.

            Trước hết, thánh I-nhã xác tín đã được ơn mà ngài xin từ lâu là được đặt với Chúa Con. Từ Loyola, ngài đã quyết tâm phục vụ Ðức Kitô. Ở Manresa, như được diễn tả trong bài Hai cờ hiệu, ngài xin được nhận vào dưới cờ của Ðức Kitô. Gần hơn, ngài và các bạn mới tự xưng là Ðoàn Giêsu. Ở La Storta, ngài thấy như Chúa Cha chỉ ngài mà nói với Chúa Giêsu đang vác Thánh Giá: "Cha muốn Con nhận cho người này phục vụ Con." Rồi Chúa Con nói với ngài: "Ta muốn con phục vụ Chúng Ta." Không còn nghi ngờ gì nữa, ngài được liên kết với Ðức Kitô vác Thánh Giá.

            Sau hết, Chúa Cha nói với thánh I-nhã: "Ta sẽ phù hộ các con ở Rôma." Vậy là Rôma đã thế chỗ cho Giêrusalem. Ngài và các bạn muốn đi Giêrusalem, nhưng Thiên Chúa muốn tất cả đi Rôma. Từ chỗ muốn phục vụ Ðức Kitô bằng cách giúp đỡ các linh hồn, theo ý mình thích, ở nơi mình thích, cụ thể là truyền giáo cho người Hồi Giáo ở Giêrusalem, nay thánh I-nhã và các bạn được mời gọi đặt mình dưới sự điều động của Hội Thánh, mà tiêu biểu là Ðức Giáo Hoàng Rôma, vị đại diện Ðức Kitô ở trần gian, để ngài cử đi đâu, làm gì tùy ý.

            Cuối tháng 11 năm 1538, thánh I-nhã cùng với chín người bạn (cha Diego Hoces đã qua đời trước đó tại Padova) đến trình diện Ðức Thánh Cha Phaolô III, tự đặt mình dưới quyền điều động của ngài, sẵn sàng đi bất cứ nơi nào trên thế giới, thi hành sứ mạng vị đại diện Ðức Kitô trao phó, để phục vụ Ðức Kitô qua việc giúp đỡ