TUẦN I

LÝ TƯỞNG VÀ THỰC TẾ

Tình Yêu Khải Hiện

Tin Vào Tình Yêu. Sống Mạnh Niềm Tin [1]

 Nguyên Lý & Nền Tảng [2]

Sáu điểm nhận định :[3]                    

1)-Thiên Chúa tạo dựng [4]

“Con người được dựng nên ...” (Lt 23)

* Cố nhìn

à cho ra, cho kỹ những kỳ công Thiên Chúa làm nên trong vũ trụ, vì thương yêu... để ca ngợi, tin yêu Ngài;

à cho thấy sự hiện hữu/hiện diện sống động, gần gũi của Ngài ở khắp nơi... trong thiên nhiên[5]... để cảm nhận lòng ưu ái của Ngài và để sống thân mật với Ngài.

  [Thiên Chúa vô hình? Đúng, nhưng có thể nhận ra Ngài, tình yêu, quyền năng, sự tốt lành... của Ngài qua các tạo vật, qua các kỳ công trong vũ trụ, qua các hồng ân ;[6] bởi nhìn hậu quả thì biết nguyên nhân, nhìn tuyệt tác thì biết có tác giả, biết tài cao của tác giả... thì thán phục, ca tụng...]

* Tạo dựng    

à làm ra từ không không...

à quyền năng vô biên[7] - tự hữu - duy nhất...

à trật tự - tốt đẹp - thông minh...

* Vạn vật       

à quan sát kỹ vũ trụ:

. vĩ mô (macrocosmos );[8] 

. trung mô (cosmos );

. vi mô (microcosmos );

à nêu cao: tốt lành - tình thương... của Thiên Chúa;

à quan phòng: hằng giây phút, ở đây & bây giờ.

* Con người [9] 

à tế nhị, ưu ái đặc biệt của Thiên Chúa:

- ngày thứ 6: khi đủ điều kiện cho con người...

- nghị quyết;[10]

- tạo dựng: giống hình ảnh Thiên Chúa;[11] 

- ra tay... [không phải chỉ phán];

- ôm vào lòng: hôn... truyền sinh lực..

- tiếp tục tạo dựng và gìn giữ những gì giúp ích con người;

- cuối ngày thứ 6: tạo dựng xong con người; Thiên Chúa mới thật hài lòng nói: “Quả là rất tốt đẹp!” (St 1:31);

à có thể xác: cấu trúc tinh vi, tế nhị... đặc tính độc đáo [thấy rõ chẳng hạn qua dấu tay, dấu chân... dùng làm căn cước ... qua giọng nói...], dấu chứng tình yêu độc đáo Thiên Chúa dành cho mỗi người;

à có linh hồn[12]: ý thức và tự do, những sáng tác văn học, nghẹ thuật, những phát minh khoa học, kỹ thuật ... làm chủ vũ trụ...

à đó là sự sống tự nhiên của con người... nhưng làm như chưa bằng lòng... vì muốn con người gần mình giống mình hơn nữa [tình thương là thế]... nên Ngài ban cho:

(sự sống siêu nhiên là sự sống đặc thù của Ngài... là món quà, là hồng ân quý giá vô song[13] con người nhận được từ bàn tay yêu thương vô biên của Thiên Chúa, ngay ở đời này![14]   

[Sự sống siêu nhiên . Có nhiều cách gọi: sự sống của Chúa, sự sống đời đời, đời sống ơn thánh sủng, đời sống đức ái, v.v... – làm cho trở nên “con Thiên Chúa,”[15] “được thông phần bản tính Thiên Chúa,”[16] v.v... – hoàn toàn vượt lên trên bình diện tự nhiên, nghĩa là do sức tự nhiên của loài người thì không thể nào đạt đến được; đó là ơn nhưng không Chúa ban; trụ cột hay nền móng của sự sống siêu nhiên là ba nhân đức đối thần: tin cậy mến; có thể dùng hình ảnh để minh họa phần nào đời sống siêu nhiên: tựa như trong sự sống tự nhiên, có hai khả năng cao trọng nhất, là khả năng hiểu biết và khả năng yêu mến; thì trong đời sống siêu nhiên cũng có thể nói là có hai khả năng mới: cũng là hiểu biết và yêu mến, nhưng không phải theo mức độ tự nhiên, mà là theo cách thể của Thiên Chúa, tức là một khi các khả năng mới, khả năng hiểu biết và yêu mến ấy đã triển nở trọn vẹn – trong đời sống vĩnh phúc mai sau – thì con người siêu nhiên sẽ hiểu và yêu Thiên Chúa như (không phải là bằng) Thiên Chúa hiểu biết và yêu mến (hài lòng về) chính mình. Mà hễ càng hiểu được nhiều, yêu được nhiều thì càng thỏa mãn, hạnh phúc: đời sống tự nhiên cho thấy như thế; trong đời sống siêu nhiên cũng xảy ra theo cùng một cách thức như vậy. Vì thế, càng học biết về Chúa, thì càng yêu mến Ngài nhiều hơn – tri và mộ thường đi đôi, và phải đi đôi khi đối tượng của hiểu và yêu là tốt đẹp: ở đây đối tượng là chính Thiên Chúa, là Chân Thiện Mỹ tuyệt đối – (tức là càng nên thánh nhiều hơn), và càng yêu càng thích thì càng hạnh phúc... Nơi dương thế, những khả năng mới [siêu nhiên] làm như còn ở trong tình trạng hạt giống, mầm giống, chưa triển nở toàn vẹn, phải chờ cho đến lúc bước vào cõi vĩnh phúc; lúc đó, nguời lành, các thánh mới hiểu, mới yêu Chúa như Chúa, và hưởng được hạnh phúc như Chúa... (tùy theo mức độ hiểu/yêu Chúa, mức độ ơn thánh sủng cao hay thấp). Chẳng thế mà thánh Phaolô viết: “Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi.”[17] Thiên Chúa thì nhiệm mầu khôn lường, tốt đẹp vô cùng, thế nên có dành trọn cả ‘cuộc đời đời’ cũng không thể hiểu và yêu Ngài cho đủ để hưởng phúc Ngài cho tận tuyệt được. Vĩnh phúc là thế! Khi – vì tội trọng[18] – con người đánh mất đi – và đánh mất hẳn đi – khi chết/qua đời trong tội trọng – các khả năng siêu nhiên kia, thì không còn có thể hiểu biết/yêu mến Thiên Chúa như Ngài hiểu biết/yêu mến chính mình được nữa... và như thế không còn có thể hưởng được hạnh phúc trong Ngài như Ngài, dù Ngài có ở bên họ (vì Ngài hiện diện mọi nơi): đó là thảm cảnh hỏa ngục... Đánh mất đời sống siêu nhiên/ơn thánh sủng là con người tự đặt mình vào ‘tình trạng’ hỏa ngục... Có được làm bá chủ thế giới thì cũng vô ích.[19] Hiểu như thế về hồng ân sự sống siêu nhiên vô cùng quý giá và cao cả, làm sao người kitô lại không tận lực lo[20] cho đời sống ấy không những khỏi èo ọp, chết đi, mà còn được đảm bảo, củng cố và tiến phát tối đa bằng cách tận dụng những phương thế Chúa để ngay bên tầm tay, trong Giáo hội? Nếu có một điều làm nên nét đặc trưng của người kitô đích thực, thì đó chính là đời sống siêu nhiên trong ơn thánh sủng. Cái khác độc đáo, cái giá trị vô song của người kitô so với các nguời khác, là ở đó và tuyệt đối mà nói, chỉ ở  đó mà thôi, chứ không phải ở nơi những giá trị hoặc đức hạnh tự nhiên nào khác. Mất đi sự sống siêu nhiêu, người kitô chỉ còn cái vỏ kitô, chỉ là kitô giả hiệu, dù trước mắt người đời có đóng vai trò, có giữ chức vị nào đi nữa.[21] Sự sống ấy được hàng giây phút và không ngừng thông ban cho những ai sống trong tình trạng ‘công chính hóa’ để đưa dẫn ngày càng gắn bó hơn, vào trong tình thân mật với Thiên Chúa Ba Ngôi].

 à sự sống siêu nhiên là món quá quý nhất, tất cần phải giữ gìn cho khỏi mất đi; và đã là sự sống thì cần phải được chăm sóc, nuôi dưỡng kỹ lưỡng (nhờ Lời Chúa, bí tích, v.v...) để ngày càng lớn mạnh...[22] 

à vậy, con người chỉ có cùng đích siêu nhiên [với khát vọng vô biên mà chỉ có hạnh phúc siêu nhiên trong Chúa mới làm cho thỏa mãn được... tiếc nuối hạnh phúc lớn mất đi, thì không còn có thể cảm nhận được hạnh phúc nhỏ...];

à ban cho con người sự sống siêu nhiên và muốn cho con người giống mình, sống bên mình là Thiên Chúa tình yêu nâng con người lên cao, đến tận trong trái tim của Ngài... có thể nói là qua 7 bậc sau đây (đi từ dưới lên):

äcon người được tha thứ mãi mãi (bao giờ cũng có thể nhận lại ơn thánh sủng đánh mất vì tội trọng, nếu biết thật tình thống hối)!

ä con người được cứu chuộc (ban lại ân sủng khi đánh mất);

ä con người siêu nhiên (với sự sống ơn thánh sủng);

ä con người tâm linh;

ä động vật;

ä sinh vật;

ähữu thể (hiện hữu, vô tri vô giác như vật chất: đất, đá sỏi...);

à con người đến từ Tình Yêu,[23] là con của Thiên Chúa;[24]

à và Thiên Chúa hằng không ngừng tiếp tục công cuộc tạo dựng... với nỗ lực hợp tác của con người.

 

ðKinh Thánh:

• St 1-2: công cuộc tạo dựng (lưu ý đến cử chỉ ưu ái đặc biệt của Thiên Chúa đối với con người, và địa vị con người trong trật bậc các tạo vật)

• Kn 13:1-9: nhìn tạo vật để nhận ra Đấng Tạo Hóa

• G 38 -39: công trình tạo dựng

• Tv 8: con người là chi? (x. Tv 144:3); Tv 19: ca tụng Thiên Chúa Tạo Hóa; Tv 104: ca tụng Đấng Tạo Hóa; Tv 139: Ngài thấu biết con; Tv 144: tin tưởng vào Thiên Chúa quyền năng

• Kn 11:21 - 12:1: Thiên Chúa thương yêu tạo vật...

• Kn 13:1-9: công trình tạo dựng “hùng vĩ và xinh đẹp”

• Hc 17:1-15: ân huệ ban cho con người trong cuộc tạo dựng;

• Hc 42:15 - 43:33: ca ngợi công trình sáng tạo của Thiên Chúa

• Is 43:1-13; 44:6-28; 45:5-19: quyền tối thượng của Thiên Chúa

• Ga 1:1-18: tạo dựng nhờ Ngôi Lời

• Rm 1:19-23: nhìn tạo vật thì phải nhận ra Thiên Chúa

• Rm 8:14-17: làm con Thiên Chúa

• 1Cr 8:6: Đấng tạo thành và là cùng đích

• Cl 1:12-20: trong Người muôn vật được tạo thành

• Dt 11:1-40: Bài ca Đức tin

• Cv 17:22-31: Phaolô trình bày về công trình tạo dựng;

 2) Ý nghĩa và cùng đích đời người [25] 

“Con người được dựng nên để ngợi khen , tôn kính phụng sự Thiên Chúa, và nhờ đó cứu rỗi linh hồn mình” (Lt 23).

* Ý nghĩa và cùng đích :

à vì con người là tác phẩm của trí thông minh[26]...

à vì là tạo vật,  nên:     

- ý nghĩa tùy thuộc... vào Đấng Tạo Hóa

- cùng đích ‘ngoại tại’... nơi Thiên Chúa  

* Mục đích ba chiều kích? [27] 

à để bao gồm hết mọi chiều kích sinh hoạt con người (như tạo vật đối với Đấng Tạo Hóa, như con đối với Cha): 

àngợi khen : chiều kích bên ngoài[28]... cộng đoàn, xã hội...

- phần ‘bên ngoài’ của con người như thân xác, cử điệu, tiếng nói... và cả cuộc sống xã hội cũng có bổn phận thần phục, tôn thờ và quy hướng về với Thiên Chúa;

- biểu dương đức tin, làm chứng cho thế giới;

- liên đới nâng đỡ lẫn nhau trong đức tin;          

àtôn kính : nếu chỉ ca ngợi Thiên Chúa bên ngoài mà thôi, trong khi tâm lòng trống rỗng... thì không đủ, bởi đó chỉ còn là lý thuyết. Thiên Chúa đã từng trách lối sống đạo ngoài môi miệng như thế.[29]

àphụng sự : sống bên ngoài và bên trong mà chưa sống đạo trong hành động thì chỉ là hình thức, là tình cảm mông lung... biết bao lần nói thật mà không làm thật, hứa thật mà không giữ thật... phụng sự, phục vụ Chúa là sống, là thực thi ý Chúa ... đây là chiều kích thực hành[30]... Vậy, phục vụ là yêu mến.[31] Có thể nói yêu mến sống động bao gồm cả ba chiều kích trên đây...[32] 

 [Vấn nạn : – Xin lỗi... xem ra Thiên Chúa độc tài, ích kỷ... Ngài dựng nên con người, rồi tự đặt mình làm cùng đích của con người, bắt con người ca ngợi, tôn kính phụng sự mình? – Là tạo vật, con người không thể là cùng đích của chính mình được; cùng đích con người ở ngoài con người... Có mục đích càng cao thì sự vật càng quý; không có mục đích là sự vật vô nghĩa; không còn mục đích thì sự vật thành vô dụng, chỉ đáng vứt sọt rác (hỏa ngục là sọt rác của những người muôn đời đánh mất đi cùng đích của mình là Thiên Chúa). Nếu Thiên Chúa không đặt mình làm cùng đích của con người, thì con người phải có một kẻ nào, một cái gì đó để làm cứu cánh cho mình để khỏi trở thành vô dụng... Nhưng thử hỏi có kẻ nào, có cái gì cao cả quý trọng bằng Thiên Chúa đâu, bởi ngoài Ngài, tất cả đều là tạo vật do Ngài tạo dựng nên, kém thấp thua Ngài vô cùng? Vậy khi chọn một tạo vật làm cứu cánh của mình là con người tự hạ giá mình bị xuống một cách ‘vô cùng’! Thế nên, khi biết bỏ cặp mắt méo mó đi mà nhìn cho đúng và cho kỹ thì sẽ nhận ra là: nếu Thiên Chúa tự đặt mình làm cùng đích của con người, làm đối tượng cho con người tôn thờ, phục vụ – tôn thờ, phục vụ như người con dấu yêu, chứ không phải như người nô lệ đọa đày – thì không phải là vì độc tài, ích kỷ, nhưng là vì yêu thương, quý trọng con người, muốn nâng giá trị con người lên đến tận Trời!... muốn con người đạt tới hạnh phúc trường cửu trong Ngài, được hạnh phúc như chính Ngài, một khi đã đi qua con đường Ngài chỉ cho thấy nơi cuộc đời dương thế (tức là làm theo ý Ngài, là phục vụ Ngài). Tắt một lời, tất cả những gì Thiên Chúa an bài cho đời con người không nhắm tới gì khác ngoài việc mưu cầu vinh quang và hạnh phúc vĩnh cửu cho chính con người. Chẳng thế mà Kinh Thánh nói rõ: phụng sự Thiên Chúa là được cùng thống trị, hiển trị với Đức Kitô nơi cõi vĩnh phúc.[33] “Hồng ân Thiên Chúa quả thật bao la!...”].  

           

* “Cứu rỗi”

à trở về với và trong Tình Yêu , trong Chúa, để hưởng hạnh phúc muôn đời với Ngài.[34]

 

ðKinh Thánh:

• Đnl 30:15-20: hai con đường sống/chết

• Hc 39:15-21: tất cả đều có mục đích

• Nkm 8:2-4. 5-6. 8-10: nhớ lại Luật Chúa (ý Chúa)

• Gr 1:4-11: được gọi từ lòng mẹ

• Tv 39:5-8; 40:6-11: kế hoạch yêu thương của Chúa

• Tv 91: nương bóng Chúa

• Tv 119: tìm và sống thánh ý Chúa

• Mt 6:24: không thể làm tôi hai chủ

• Mt 7:13-14: hai con đường

• Lc 12:22-32: lo gì? đừng bám dính! hãy xem hoa huệ!

• Rm 8:14-16. 28-30: làm con Thiên Chúa... ý định cứu độ của Chúa

• 2Cr 1:18-20: không thể vừa “có” vừa “không”

• Cl 1:4-20: am tường thánh ý Chúa... ơn cứu chuộc

• Ep 1:3-14: ơn được tuyển chọn và cứu độ

• Dt 10:4-10: thực thi ý Thiên Chúa

• Dt 11:1-40: Bài ca Đức tin

• 1Ga 5:3: “Yêu mến... là tuân giữ các điều răn của Người”

• 1Ga 3:18: đừng yêu thương nơi đầu môi... nhưng... bằng việc làm

• 2Ga 6: yêu thương là sống theo điều răn của Chúa

• Gc 1:22-25; 2:14-26: đức tin và hành động

           

 3) Sử dụng tạo vật:

“Mọi loài khác dưới đất cũng được tạo dựng cho con người, để giúp con người đạt tới cùng đích Đấng Tạo Hóa đã đặt cho. Bởi thế con người chỉ dùng tạo vật theo mức độ chúng giúp đạt tới cứu cánh và phải gạt bỏ chừng nào chúng làm cản trở” (Lt 23).

* Cùng đích      à cần có phương tiện để đạt tới (tình yêu thương an bài!)

* Phương tiện     à mọi tạo vật [trong vũ trụ][35]

* Phương cách    à trong trật tự và với chủ đích:

- dùng       ä nếu đưa về với Thiên Chúa  [36]

- tránh       ä nếu thành chướng ngại ngăn cách trên đường đi về với Chúa... không

HẠP ! [37]

à qua nhận định (dựa theo ý Chúa...)

[Vấn nạn : – Dùng mọi tạo vật được dựng nên ‘tốt,’ thì sao lại tránh? – Tốt, nhưng chưa hẳn là tốt cho những trường hợp cụ thể; ví dụ: không phải ai cũng có thể uống mọi thứ thuốc tốt; vì có khi uống thuốc tốt mà sinh bệnh thêm, nếu không hạp! Cần phân biệt giữa TỐT và HẠP: TỐT là tự các chất cấu thành còn nguyên/cân lượng đúng... HẠP là có thể giúp cho cơ thể khỏe mạnh, là tốt hai lần: tự bản chất và đối với một người nào đó... Thế nên, có những trường hợp tạo vật này tạo vật nọ không giúp tôi đi về với Thiên Chúa, gây chướng ngại trên đường đi về cùng đích, tức là không HẠP, cần tránh!]

 ðKinh Thánh:

• St 3: loài người sa ngã;

• Đnl 30:15-30: chọn giữa hai con đường sống-chết

• Mt 16:6.11-12: tránh men Pharisêu và Xađốc

• Mt 19:22-23; Lc 12:15; 18:23-24: của cải gây trở ngại

• Lc 12:33; 14:12-14; 16:9.13; 19:8; 21:1-4; Ga 12:3.7-8: dùng của cải

• Lc 8:38-39: bậc hoàn thiện và ơn gọi ở đời

• 1Cr 3:22-23; 6:12; 10:23: trật tự trong việc dùng tạo vật

4) Thực trạng: những quyến luyến lệch lạc

 “... để xa bỏ những quyến luyến lệch lạc ” (Lt 1), “... phải gạt bỏ khi tạo vật làm cản trở. Do đó, cần phải giữ cho mình...” (Lt 23). 

* Kinh nghiệm           

à về khuynh hướng và quyến luyến lệch lạc...[38]

* Do đâu?      

à trước tiên và nguy hiểm nhất là từ bên trong[39]

à ngoại cảnh chỉ bồi thêm...[40]

à vậy phải đánh cho đúng chỗ, mới công hiệu...

à đừng ấu trĩ chạy tội, đổ hết lỗi cho người khác, cho ngoại cảnh ...[41]

* Như thế nào?

à chạy theo cái THÍCH , bất chấp cái HẠP

à dừng lại ở nơi tạo vật...

à coi tạo vật như là cứu cánh, cùng đích...

à tưởng sẽ ăn đời ở kiếp nơi trần gian

à để tạo vật vào ngai của Thiên Chúa: thờ ngẫu thần!

* Cơ nguy:

àđánh mất mục đích tối hậu của đời người: hạnh phúc trường cửu...

* “Ai sẽ giải thoát tôi ?...

àTạ ơn Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta!”[42]    

ð Kinh Thánh:            

• Tv 48:9-14.17-21: “Nào phàm nhân sống mãi được sao?”

• G 2:10: đón nhận ‘lành dữ’ (thích/không thích)

• Hc 39:26-27: hạp...

• Mt 6:22-23; Lc 11:34-36: sáng tự trong

• Mt 12:33-35; 15:11.18-20; Lc 6:45: lòng có đầy miệng mới nói ra...

• Mc 7:2.5.15: không phải từ ngoài vào...

• Rm 7:14-25: khuynh hướng và quyến luyến lệch lạc “ở trong tôi”

• Gc 1:14-15: “... bị cám dỗ là do dục vọng”

• Gc 4:1-2: “Bởi đâu... bởi những khoái lạc... trong con người anh em”

 

 5) Bình Tâm [43]

“Do đó, cần phải giữ cho mình được bình tâm đối với mọi tạo vật... chỉ ước muốn và lựa chọn những gì dẫn đưa chúng ta tới cứu cánh của mình hơn cả” (Lt 23).

* Định nghĩa

à thái độ tâm hồn không nghiêng chiều (ở thế bình ) về điều này hơn điều kia, hoàn cảnh này hơn hoàn cảnh nọ mặc cho sở thích hay tình cảm có lôi kéo, tức là hoàn toàn sẵn sàng từ bỏ mọi sự để hành động   theo ý Chúa;

à trạng thái tự do nội tâm hay tự chủ trước mọi tạo vật, mọi tình huống, nhằm tới việc thực thi trọn vẹn thánh ý Chúa. 

* Giải thích      

à điều chủ yếu là để sẵn sàng hành động theo ý Chúa;

à không phải là một thái độ dửng dưng thụ động ...

à là một cuộc chiến cam go, dằng co và tiếp diễn cho đến cuối đời chống lại sức lôi kéo của quyến luyến lệch lạc, sở thích, đam mê, cám dỗ... trong cuộc sống;

à khi phải chiến đấu chống lại những tình cảm lối kéo đi ngược với ý Chúa để nhất quyết làm theo điều Chúa muốn, thì không có nghĩa là không có bình tâm, ngược lại...

à như vậy, không phải hễ có bình tâm là có bình an trong tâm hồn: không ai bình tâm cho bằng Đức Giêsu khi phải trải qua những giờ phút hấp hối trong Vườn Cây Dầu, nhưng cũng không có ai chịu thử thách, bị xao xuyến trong lòng cho bằng Ngài lúc đó cũng như suốt trong cuộc tử nạn...; nhưng về lâu về dài, bình tâm [đi theo ý Chúa] thì sẽ được bình an...[44] [xem Lc 22: 43];

à thế nên, dù đôi lúc cách ghép từ có làm cho hiểu lệch đi [bình tâm ra bình an...], thì bình tâm ở đây không phải là an tâm , yên tâm không áy náy lo lắng... thiêu chi người làm ngược thánh ý Chúa mà vẫn cảm thấy an tâm:[45] có thể là vì lương tâm không còn sắc bén, đã ra mù quáng, chai đá, không còn áy náy, cắn rứt... tình yêu Chúa chẳng có bao nhiêu...

à ngoài ra, không phải hễ cứ làm ngược với sở thích riêng, với tình cảm... của mình là đi đúng, làm đúng ý Chúa, là sống thật bình tâm; bởi nhiều lúc sở thích riêng cũng có thể hợp với đường lối của Chúa [cần nhận định..., chứ không thể chỉ hài lòng với lối đoán mò như thế].

* Khó khăn [46]

à như giải thích trên đây, bình tâm:

- khó tạo, nhất là khi phải đi ngược với ý riêng;

- không phải: chỉ một lần... chỉ một việc... cho tất cả, mà là thường xuyên...

- khó giữ [ngay cả đối với một vấn đề], vì thường là mong manh: con người, hoàn cảnh... thay đổi…

à thế nên: với ơn Chúa mới tạo được (xem Lt 16, 168).

* Cần thiết         

à theo nhiều mức độ: tối cần – cần – hoàn hảo;

à không có bình tâm thì không thể:

- nhận ra đúng,[47]

- sẵn sàng đón nhận hoàn toàn và

- thực thi trọn vẹn thánh ý Chúa nhận định ý Chúa;

 

6) Trắc nghiệm bình tâm [48]

“... đến độ không ước muốn sức khẻo hơn bệnh tật, giàu sang hơn nghèo khổ, danh vọng hơn nhục nhã, sống lâu hơn chết yểu ...” (Lt 23).[49]

A. Chung cho mọi người:

* Giải thích chuẩn bị:

à trước những gì con người yêu thích hoặc xa tránh nhiều nhất:

a . •sống[50]        •sức khỏe                    b . •chết             •bệnh tật

     •danh dự       •của cải                             •khinh chê   •nghèo khó

à ai cũng thích a và ghét/tránh b : ...là chuyện tự nhiên;

à làm ngược lại là bất thường (chẳng hạn như là ưa chết...);

à nhưng thích và ghét quá độ cũng là bất thường ;

à thế mà hầu hết các lời cầu xin của người kitô chỉ nhắm vào a và không muốn nhìn đến b ; cho a là ơn phúc, cho b là tai họa (thường chỉ khấn xin cho được a ... dù có phải cần đến phép lạ!);

à đó cũng là – theo đức tin kitô mà xét – một thái độ bất thường;

à khi nài nỉ xin a mà chỉ được b [51] thì đâm ra trách móc , nghĩ là Chúa không thương và đã bỏ rơi mình... có thể đi tới chỗ nghĩ là giữ đạo vô ích... khủng hoảng đức tin... (làm như giữ đạo tốt để được Chúa thưởng ngay từ đời này[52]);

à ít là trái với hay không hiểu gì về

- tám mối phúc thật (là b !),[53]

- thánh giá (là b !) Chúa Giêsu và khổ đau của Mẹ Ngài;

à xét cho cùng:

- b cũng có thể là ơn hay là họa

- a cũng có thể là họa hay là ơn

- tùy kế hoạch của Chúa[54] đối với mỗi nguời,

- nhìn qua cặp mắt đức tin [chứ không phải theo não trạng trần thế[55]];

à hiểu sai về ơn = điều mình ưa thích;

à hiểu đúng về ơn = điều hạp hay thích hạp , dù đắng đót, khổ đau (thuốc đắng đả tật!), những hữu ích cho phần rỗi,… làm cho nên giống Chúa Kitô hơn.

à cần xác tín: ý Chúa là hạnh phúc , hạnh phúc đời đời của tôi.[56]

* Tiến hành:

à lần lượt đặt mình trước mỗi một tạo vật thu hút con người mạnh nhất, như nêu trên đây;

à xem mình cảm nhận như thế nào?

à nếu cảm thấy

- không hay khó bình tâm: khẩn xin Chúa giúp...

- bình tâm: tạ ơn Chúa và xin ơn giúp giữ bình tâm.

B. Riêng đối với mỗi cá nhân:

* Giải thích:

à thường thì nhiều ít mỗi người đều có một sự vật, một con người, một lối sống[57] nào đó... mình thích (bám dính) nhất hoặc ghét nhất;

à thái độ yêu thích, bám dính có thể là:

- không có hoặc không đáng kể (dễ dàng từ bỏ);

- hợp pháp (không phải là tội lỗi: vg. Abraham và Isaác);

- bất hợp pháp (tội lỗi).

* Tiến hành:

à mỗi người tự kiểm xem mình có bình tâm để trong:

- trường hợp hợp pháp: sẵn sàng từ bỏ nếu Chúa muốn;

- trường hợp bất hợp pháp: nhất định phải từ bỏ...

à nếu cảm thấy

- không hay khó bình tâm: khẩn xin Chúa giúp...

- bình tâm: tạ ơn Chúa và xin ơn giúp giữ bình tâm.

ðKinh Thánh:

• St 12:1-9: vâng theo lời Thiên Chúa, Abraham[58] rời bỏ quê nhà...

• St 22:1-19: Abraham sẵn sàng hiến tế con một cho Thiên Chúa;

• Gn 1:1-16: Giôna chạy trốn Chúa, không thi hành sứ mạng;

• G 1:20-22; 2:7b-10: ông Gióp bình tâm đón nhận nghịch cảnh;

• Phil 1:20-26: “...sống là Đức Kitô”

• Kb 1:2-4; 2:2-4; Ml 3:13-21: kẻ độc ác thành công giữa đời;

• Mt 16:26 + Lc 9:25: “... được cả thế gian mà mất linh hồn...”

• Mt 19:16-22 + Mc 10:17-22 + Lc 18:18-23: thanh niên giàu có...

• Lc 12:22-32: đừng bám dính! lo gì?... hãy xem hoa huệ!

• Lc 19:1-10: Giakêu sẵn sàng... tin theo Chúa.

 

TỘI LỖI [59]

ðCách suy niệm

à sai: trong sợ sệt,[60] chán nản, tuyệt vọng[61]...    æ Giuđa

à đúng: để hiểu tình yêu tha thứ [62] của Chúa    ä Phêrô[63]

ðƠn xin [64]

à thấu hiểu

- tội lỗi to, lớn, trầm trọng quái gở đến như thế nào...

- tình yêu tha thứ [cứu độ] của Thiên Chúa lớn lao như thế nào...

à để nhờ đó biết ăn năn, thống hối, đền đáp bằng cách yêu mến [65] Ngài hết lòng hết sức (trước tình yêu tha thứ vô biên như thế!)

ðBối cảnh

à đặt mình trước Núi Sọ, và nhìn kỹ Đức Giêsu trên thánh giá:[66]                                  

— Ngài là ai?

    là Thiên Chúa làm người;

    vĩ đại như thế nào?

    vô cùng!

    chịu đóng đinh khổ nhục để làm gì?

     làm giá chuộc tội tôi!

à Giá chuộc?

- lớn bao nhiêu?            à vô cùng!

- chuộc gì?                     à tội!

- thì tội lỗi phạm đến Thiên Chúa tất to lớn vô cùng!

- nhưng Thiên Chúa luôn sẵn sàng tha thứ...

- thế mới rõ tình yêu tha thứ của Thiên Chúa lớn lao vô cùng![67]

- vậy, cần phải đáp trả bằng yêu thương hết lòng[68]...

- tức là sống đúng ý Chúa (= không phạm tội)!

à chứng cứ tình yêu

- “không có tình yêu nào...”[69] 

- đối với loài người tội lỗi;[70] đối với tôi...

- tình yêu vô biên... đáp ứng hết lòng...

à tôi là ai

- mà được Thiên Chúa thương cứu chuộc...?

- cứu chuộc bao nhiêu lần cho khỏi hư mất đời đời?

à tâm sự

- ngỡ ngàng...

. trước cảnh cách biệt...

. tình yêu vô biên

. thái độ kiên nhẫn chờ đợi...[71]

- Ngài đã... đang... sẽ... làm gì cho tôi?[72]

- tôi đã... đang... sẽ phải... làm gì cho Ngài?

ðThử định nghĩa

à coi trọng, đặt tạo vật lên trên Thiên Chúa toàn năng...

à phản lại tình yêu vô biên của Thiên Chúa, vô ơn...

à phá hại trật tự (luật[73]) do Thiên Chúa an bài (ý Chúa) ... gây hại[74]

- nơi chính mình (làm hại, phạm đến chính mình),

- nơi người khác (phạm đến tha nhân),

- trong xã hội (phạm đến cộng đoàn), thiên nhiên;[75]

= tức phạm đến Chúa, đến chính mình, đến tha nhân...

à kiêu ngạo:[76] 

- coi thường kế hoạch của Chúa... không cho là tốt... là thiết yếu

- tự đặt chính mình làm chủ quyết định của mình

 àgiết Thiên Chúa

- coi Ngài, uy quyền... Ngài như không có

ðHình ảnh

à lỗi tội phạm đến người càng cách xa trong địa vị, thì càng lớn, càng nặng...

àphạm đến Thiên Chúa cao trọng vô cùng,

- thế nên tội lỗi to lớn, trầm trọng vô cùng;

à Ngài luôn sẵn sàng tha thứ,

- do tình yêu tha thứ vĩ đại vô biên;

à bổn phận đáp trả: yêu mến Ngài hết lòng hết sức [cũng chưa có gì là đủ, vì tình con người thì giới hạn];[77] vậy, có yêu mến thì mới loại trừ được tội lỗi, bởi tội lỗi là hành động nghịch với điều răn của Chúa.

ðHậu quả

à hậu quả kinh khủng nhất của tội lỗi  (  hỏa ngục;

à suy về hỏa ngục

- qua kinh nghiệm về

. đau đớn thể lý,

. đau khổ tâm lý;

- qua cảm thức về

. khổ hình trầm luân đời đời...

à điều kiện ắt có và đủ để vào hỏa ngục chỉ là một tội trọng;

à “trong hỏa ngục, nhiều người có ít tội thua tôi...”[78]

ðHồi tưởng về quá trình lỗi lầm của tôi [79] 

à từng giai đoạn cuộc đời;

à từng nơi chốn đã sinh sống;

à những mối quan hệ giao tế đã và đang có;

à những phận vụ đảm trách trong quá khứ và hiện tại.

ðKinh Thánh:

St 3 : tổ tông loài người sa ngã... và lời hứa cứu độ; 

St 6:5-22 : tội lỗi lan tràn... 

• St 7 - 9:17: hình ảnh về ơn thanh luyện và cứu độ;

• Xh 32:11-14: ông Môsê cầu thay cho dân bất trung;

• Tv 32: lỗi lầm được tha thứ;

• Tv 38; 48; 51; 78; 106: Thiên Chúa nhân từ đối với dân bất trung;

• Tv 130: “Từ vực thẳm...”

• Hc 5:1-8; 17:25-29: kêu gọi sám hối, trở về;

• Hc 18:8-14: Thiên Chúa xót thương;

• Is 12:1-6; 43:18-25; 44:1-5; 49:8-23: vui ngày trở về;

• Gr 2:1-37: Ítraen phản bội;

Ed 16:4-63 : ... thất trung, nhưng được tha thứ;

• Ed 36:24-28: quả tim mới;

Hs 2:8-9.16-25 : Thiên Chúa dỗ dành trở về;

Hs 11:1-11: tha thứ bất trung;

• Gn 2:1-10: Giôna cậy trông cầu nguyện;

• Mt 18:21-35: biết tha thứ để được tha thứ;

• Mt 25:34.41: hỏa ngục;

• Lc 7:36-50: tha nhiều, yêu nhiều…

Lc 10:18; 2Pr 2:4; Gđ 6 : thiên thần sa ngã... bị phạt…

Lc 15 [Ed 34:4.16; Mt 18:12-14; Ga 17:10 ] dụ ngôn về lòng nhân hậu của Thiên Chúa; 

• Lc 18:9-14: khiêm hạ để được tha thứ;

• Ga 8:1-11: “... tôi không lên án...”

Ga 15:1-17 : “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy!”

• Rm 6:12-23: chiến đấu cho công chính, đừng làm tôi tội ác;

• Rm 8:28-39: ý định cứu độ của Thiên Chúa;

• 2Cr 12:9b-10: khi tôi yếu là lúc tôi mạnh…

• Ep 2:1-10: ơn cứu độ;

• Cl 1:12-13.20-23: được hòa giải trong Đức Kitô;

• Dt 12:1-13: “chưa chống trả đến mức đổ máu!”

• 1Ga 1:6—2:2: thú nhận tội lỗi;

• 1Ga 3:4-9: đoạn tuyệt với tội lỗi;

• Kh 3:19-20: ăn năn và tin tưởng.

 

Chết [80]

ð Bối cảnh :

à hình dung

- dự tang lễ... của một người thân thương;

- ngồi bên linh cữu... của một người bạn, của tôi;

- đứng nhìn nghĩa trang...

ðƠn xin

à từ bỏ thanh thoát, không bám dính;

à sẵn sàng để ‘ra đi’... trong bình an, tin tưởng;

ðMột vài nhận định 

* Chuyện buồn cười

à không muốn nghĩ đến (tránh chia động từ ‘chết’ ở ngôi thứ nhất số ít... chỉ chia ở các ngôi khác: “...mày chết, nó chết... các anh chết...”

à bám chặt vào đời này... làm như sẽ ăn đời ở kiếp... tại đó!

* Những gì chắc chắn

à mọi người đều phải chết;

à không đem theo gì được cả![81]

à ngoài tội lỗi và công phúc;

à chết không phải là hết... còn...

- ra trước tòa Chúa;

- đời sau;

* Những gì không chắc chắn

à bao giờ? ngay bây giờ? tối nay, sáng ngày mai, trăm năm sau?

à ở đâu? trong bệnh viện? ngoài xa lộ? trên máy bay...?

àcách nào? bệnh? già? tai nạn bất đắc ký tử,…?

à đi về đâu: cõi vĩnh phúc hay trầm luân?

* Những gì cần nắm chắc

à không rơi vào chốn trầm luân…

à nhất định đi về cõi vĩnh phúc.

* Kết luận:

à từ bỏ, đừng bám dính.

à luôn luôn sẵn sàng để ‘ra đi!’

à tránh tội, lập công (= sống theo kế hoạch, thánh ý của Chúa).

 

ðKinh Thánh:

• Tv 39; 49: của đời phù vân

• Hc 14:11-19: dọn mình chết…

• Mt 6:19-21; Lc 12:33-34: tích trữ kho tàng trên trời;

• Mt 6:31-34: lo tìm Nước Thiên Chúa;

• Mt 16:25-26; Lc 9:24-26: ích gì nếu được tất cả mà mất linh hồn?

• Mt 24:45-50; 25:1-13; Lc 12:42-46: ngày không ngờ, giờ không biết;

• Mt 25:113: không ngoan tỉnh thức;

• Lc 12:16-21: đời phù vân;

• Lc 12:35-48: sẵn sàng;

• Lc 16:19-31: đời này, đời sau;

• 1Tm 6:7-11: cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc

 

 

 

 

                                 



[1] Sống đời kitô là sống niềm tin-cậy-mến; tuy nhiên, có thể nói rằng: bước hay tuần I của Linh Thao , dựa vào đức tin nhiều hơn, khi ngẫm nhìn Tình yêu tạo dựng; còn các tuần II và III thì thôi thúc sống đức ái mạnh hơn, theo gương yêu thương đến cùng của Đức Kitô; và trong tuần IV , thì niềm cậy trông cần được sinh động hóa nhiều hơn để cầm chắc vinh quang và hạnh phúc mai hậu cùng hưởng với Đức Kitô.

[2] Lt 23. Kèm theo tiến trình gẫm suy về “lịch sử cứu độ,” tác giả Linh Thao muốn chia sẻ với người cấm phòng một số chủ đề cầu nguyện —  có thể gọi là những “bài suy niệm Inhã” rút ra từ kinh nghiệm thiêng liêng cá nhân — giúp chuẩn bị nhận định và đưa dần đến chỗ đón nhận [chọn lựa ] cùng thực thi thánh ý Chúa, theo sát gương Đức Giêsu Kitô. Sau đây là những chủ đề chính giữa các bài suy niệm Inhã: Nguyên lý và Nền tảng (Lt 23), Nước Chúa (Lt 91-100), Hai cờ hiệu (Lt 136-148), Ba loại người (Lt 149-157), Ba bậc khiêm nhường (Lt 165-168), Chiêm niệm để được Tình yêu (Lt 230-237). Không chỉ đưa ra những nhận định cơ bản để suy niệm dẫn nhập và đặt nền tảng cho toàn bộ tiến trình (vì thế, không đặt dưới tiêu đề tuần I , dù có thuộc về tuần này: x. H. Coathalem, Commentaire du livre des Exercices , DDB, Paris, 1965, tt. 83 và 253-254) Nguyên lý và Nền tảng – cũng tựa như Chiêm niệm để được Tình yêu – còn có thể được coi như là một phương thức cầu nguyện.

[3] Ba điểm đầu có thể được coi như là đường hướng lý tưởng Thiên Chúa hoạch định cho con người; điểm thứ tư nói lên thực trạng lịch sử của loài người, tức là tình trạng lệch lạc sau khi sa ngã; và hai điểm cuối nói đến phương dược cứu chữa là bình tâm ... làm như thoáng phác trình cho thấy công cuộc cứu độ qua phương cách cơ bản và chủ yếu là thái độ khiêm hạ thẳm sâu, tuyệt đối quy phục Thiên Chúa, nhìn nhận bằng cả cuộc sống, Ngài là trên hết, trước hết... đáng kính, đáng yêu, đáng phục vụ trên hết mọi sự... Quả thế, đó chính là thái độ sống nổi bật của Đức Kitô trong tiến trình thực hiện công cuộc cứu chuộc nhân loại, thái độ mà Linh Thao nêu rõ nhằm cổ vũ, qua các nhận định về Ba Bậc Khiêm Nhường (Lt 165-168).

[4] Xem St 1:1—2:4a.

[5] Đức Giêsu giảng dạy giữa thiên nhiên: bên bờ biển (Mt 13:1-2; Lc 5:1-11), giữa đồng cỏ (Mt 14:19), bên sườn núi (Mt 5:1-12)... Ngài ‘cấm phòng’ trong sa mạc (Mt 4:1-2)... Ngài mục kích công việc đồng áng: việc gieo giống (Mt 13:3b-8), cỏ lùng giữa lúa (Mt 13:24-30; Lc 5:1-11), gieo hạt cải (Mt 13:31-32), đồng lúa chín vàng (Ga 4:35)... công việc chài lưới (Mt 13:47-48)... Ngài nhìn ngắm cảnh vật trong thiên nhiên: mây vàng mây trắng (Mt 16:2-3; Lc 12:54-55), gió thổi (Ga 3:8), chim trời và hoa đồng nội (Mt 6:26-30; Lc 12:22-28), gà mẹ ấp gà con (Mt 23:37), suối nước (Ga 7:37-38), vườn nho (Mt 20:1; 21:33; Ga 15:1.5), cây cối (Mt 7:16-20), cây vả không trái (Mt 21:18-19), cây vả báo mùa hè (Mt 24:32; Lc 21:29-30), đàn chiên đàn cừu (Mt 18:12-13; Lc 15:4-7; Ga 10:1-5)...

[6] Xem Kn 13:1-9; Rm 1:19-23 (“...những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa... thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua các công trình của Người”; Lt 230-231[tình yêu phải được biểu hiện bằng hành động hơn là bằng lời nói... tình yêu cốt ở việc trao đổi, chia sẻ... giữa hai bên].

[7] Thiên Chúa: Đấng tạo dựng... lớn lao vô cùng... và tôi hết sức nhỏ bé nhưng được Ngài lưu ý yêu thương!

[8] Hình dung vũ trụ bao la [hình dẹp?]: hàng tỷ thái dương hệ, ngôi sao... đâu là biên giới giữa hiện hữu và không không?

[9] Cũng để trả lời cho thắc mắc của con người: “Tôi từ đâu đến?”

[10] Trước khi tôi sinh ra, từ đời đời Thiên Chúa Tình Thương cũng đã “quyết định” tạo dựng nên tôi: biết đến tôi và dành cho tôi một kế hoạch tình thương với không biết bao nhiêu hồng ân tự nhiên và siêu nhiên! “Ta yêu người bằng một mối tình muôn thuở ” (Gr 31:3).

[11] Xem St 1:26.27; 5:1.3; 9:5; Kn 2:23; Hc 17:3. Tạo dựng... có nam, có nữ: cộng đoàn đầu tiên giữa loài người, sống trong tương quan liên đới với nhau, với vạn vật và nhất là với Thiên Chúa. Hình ảnh tiêu biểu của Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô: “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình... trong Người, muôn vật được tạo thành...” (Cl 1:15-16, và cả các câu 17-19); “vì... Người (Thiên Chúa) đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người” (Rm 8:29; x. Dt 1:3). Càng nên giống Đức Kitô – mô mẫu lý tưởng trong công trình Thiên Chúa tạo dựng và cứu độ – là con người càng bước gần tới mức viên mãn của ơn gọi làm người. Chẳng thế mà trong tuần II , Linh Thao hướng trọn lòng trí người cấm phòng tới việc ngẫm nhìn Đức Giêsu Kitô trong toàn cuộc sống của Ngài.

[12] Từ thân xác [thể chất] tiến đến tinh thần [linh hồn]: một bước nhảy vọt lớn lao một mình Đấng Tạo Hóa mới làm dược. Linh hồn: “tạo vật” cao quý nhất trong vũ trụ.

[13] Là “kho báu,” là “viên ngọc quý” (xem Mt 13:44-46) không tìm mà gặp, không tậu mà có... [nhờ có linh hồn, con người “làm bá chủ” trong vũ trụ (xem St 1:26); như thế mới rõ: có đời sống siêu nhiên, con người còn được nâng cao đến mức nào!], nhưng nếu không lo gìn giữ thì sẽ bị mất đi!

[14] Xin xem Ga 3:15.36; 5:24; 6:40; 10:28; 14:17b.20. 23 ; 17:2; 19:21.23.26; Rm 6:11; Gl 2:20 ...

[15] Ga 1:12

[16] 2Pr 1:4; “hiệp thông với Thiên Chúa, ở trong Đức Kitô, v.v.”: x. Ga 14:20; 15:4-5; Rm 6:5; 1Cr 1:9t; 1Ga 1:3t, v.v... 

[17] 1Cr 13:12; xin xem thêm G 19:26-27; 1Ga 3:2 [“Hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa ; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy”; x. Rm 8:23-24; 2Cr 3:18 (“Như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cùng một hình ảnh đó [của vinh quang Thiên Chúa]”). Thánh Gioan Thánh Giá viết: “Bởi được Thiên Chúa ban cho ơn trở thành ‘dạng [bản] thể thần linh’ (deiform) và được kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh, nên linh hồn trở thành Thiên Chúa do thông dự ” [=by participation : khác với by nature ]; thế thì tại sao lại không tin được rằng nhờ có Thiên Chúa hoạt động trong linh hồn, linh hồn có thể hiểu biết yêu mến trong Ba Ngôi, cùng với Ba Ngôi và giống như Ba Ngôi chí thánh, dù rằng Người tiến hành những hoạt động ấy trong linh hồn theo thể cách thông dự? ... Tình trạng thông dự này đời sau mới trọn vẹn, nhưng ngay bây giờ cũng đã – phần nào – được cảm nghiệm và hưởng nếm trước” (“Bài ca tâm linh,” xin xem bài đọc II, thứ sáu tuần 18 Mùa Thường niên, Phụng vụ giờ kinh ). Vậy, nếu có điều gì làm cho người kitô chân chính khiêm tốn “tự hào” (Rm 5:2), hãnh diện chính đáng, thấy mình được trổi vượt hẳn ... thì đó chính là đời sống siêu nhiên (bởi về mặt tự nhiên, hoặc ngay cả về mặt luân lý – đức độ nhân bản – người kitô có thể kém thua xa người không kitô!).

[18] Xem 1Ga 5:16-17

[19] Xem Lc 9:25

[20] Xem Pl 2:12 [“...run sợ mà gắng sức lo sao cho mình được cứu độ”]; Tv 2:11; Is 19:6; 2Cr 7:15; Ep 6:5.

[21] Xem M t 7:21-23; Lc 13:25-27

[22] Đời sống siêu nhiên càng lớn mạnh, thì hạnh phúc thiên quốc đạt tới mức sung mãn càng cao (gọi là nên thánh lớn). Trước mặt Thiên Chúa, một mức tăng trưởng của đời sống siêu nhiên thì có giá hơn hẳn toàn bộ thực tại lãnh vực tự nhiên . Một hình ảnh [mờ nhạt!]: trong bình diện tự nhiên , có sức khỏe thêm một chút, có thông mình, tài giỏi hơn một chút mà đã thấy quý hóa, đã được khâm phục, khen thưởng, ca ngợi, danh giá, vinh hoa, lợi lộc, v.v... vậy thì nói làm sao cho cùng về những mức tăng trưởng trong đời sống siêu nhiên !

[23] Giống hình ảnh Thiên Chúa là Tình Yêu, để yêu thương và để được yêu thương... Con người không thể sống mà không có tình yêu; nhưng mặt khác, cần phải biết yêu thương giống Thiên Chúa, trong trật tự của Ngài...

[24] “...tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa” (Rm 5:2) ...hãnh diện được làm con Thiên Chúa (x. Rm 8:14-17; 1Ga 3:2), hay là lẩm bẩm than trách vì phải sống cho xứng đáng, cho có hiếu? Cũng nên lưu ý: công cuộc tạo dựng vẫn mãi tiếp tục hằng giây phút, qua sự quan phòng của Thiên Chúa và nỗ lực hợp tác của con người. Thử nhìn lại và vào những hồng ân Thiên Chúa đã và đang ban cho đời mình: những món quà, những hồng ân ấy hằng không ngừng ban xuống ... trong giây phút này... vậy, từng giây từng phút biết ơn và tạ ơn!

[25] Để trả lời cho các câu hỏi cũng của con người: “Tôi đến trong cuộc sống để làm gì?” và “Sẽ đi về đâu?” Kế hoạch hay thánh ý Thiên Chúa đối với loài người cách chung, và đối với mỗi người cách riêng (xin đọc Phụ trương II về đề tài “Ý Chúa và Tìm Ý Chúa”).

[26] Thông minh Thiên Chúa... nên phải có mục đích. Mục đích càng cao thì sự vật – hữu thể – càng quý.

[27] “... ngợi khen, tôn kính và phụng sự...” (Lt 23). Dù cách biểu đạt có khác, thì nội dung và ý nghĩa cũng không gì khác ngoài những điều gồm hàm trong ba lời nguyện xin đầu của Kinh Lạy Cha .

[28] “Có tin thật trong lòng mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng , mới được ơn cứu độ” (Rm 10:10). Vậy, nói rằng chỉ cần yêu Chúa trong lòng, chẳng cần phải biểu dương ra ngoài như qua phụng vụ và bí tích chẳng hạn, là hoàn toàn không đúng! Việc dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật biểu hiện rõ tính chất ngợi khen và phụng tự cộng đoàn. – “... Nguyện Danh Cha cả sáng.”

[29] “Dân này chỉ đến gần Ta bằng miệng, tôn vinh Ta bằng môi, còn lòng dạ chúng thì xa Ta lắm!” (Is 29:13); xem Gr 12:2b; Mt 7:21; 15:8; Lc 6:46-49; Rm 10:10 – Gc 2:14-26 [“Cả ma quỷ cũng tin ... đức tin không có hánh động là đức tin chết”];  Gl 5:6...  – “... Nước Cha trị đến.”

[30] Xem Gc 1:22.25. Trong Cựu Ước, rất nhiều lần Thiên Chúa nhắc cho dân là phải “đem ra thực hành” (x. chẳng hạn: Lv 18:4.5; Đnl 4:5.6.13.14; v.v...); cũng tương tự như thế ở trong Tân Ước (x. chẳng hạn: Mt 7:21; Lc 6:46-47;...).

[31] Bởi “Yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Người” (1Ga 5:3), thánh ý của Người

[32] Do đó, có thể nói: con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là Tình Yêu (xem 1Ga 4:8.16), thế nên, con người được tạo dụng giống hình ảnh của Tình Yêu để yêu thương và để được yêu thương... giống Chúa và trong trật tự của Chúa. Thực ra, yêu mến Thiên Chúa là thi hành thánh ý Chúa (x. Ga 14:15.21.23; 1Ga 5:3; 2Ga 6); thi hành ý Chúa là phục vụ Chúa; vậy, có thể nói yêu mến Chúa chính là mục đích đời sống con người. Mặt khác, cũng xin lưu ý: nhận định trên đây chú tâm đặc biệt và nhấn mạnh nhiều hơn đến mối quan hệ hàng dọc ; nhưng, không phải vì thế mà bỏ sót đi mối liên đới hàng ngang đối với tha nhân (cũng như đối với hết mọi tạo vật khác trong thiên nhiên, vũ trụ). Để cho rõ, thì xin chép lại đây chú thích – ghi trong bài viết về Linh Thao (Phần III, phụ trương I của tập sách) – về cách hiểu thành ngữ ‘thánh ý Thiên Chúa’: “Cách nói: ‘thánh ý Thiên Chúa’ hoặc ‘kế hoạch độc đáo Ngài đề ra cho một cá nhân’... thường bị ngộ nhận, với lối hiểu coi đó chỉ như là chuyện quan liên đến một [hay những] cá nhân riêng lẻ, với những nghĩa vụ và quyền lợi riêng tư, không mảy may dính dáng gì đến người khác, đến cộng đồng nhân loại, đến hoàn vũ; không phải là như thế, mà phải hiểu: kế hoạch kia dù có độc đáo thì cũng là kế hoạch đề ra cho con người, cho một hữu thể sống trong tương quan liên đới với Thiên Chúa, với tha nhân và với các tạo vật khác; đó là những chiều kích gồm hàm trong “thánh ý Chúa” đối với một cá nhân. Vậy, sống trọn thánh ý Chúa là sống đầy đủ hết mọi chiều kích ấy: là phụng sự Thiên Chúa, là mưu cầu lợi ích đời này và đời sau cho cá nhân mình, cũng như cho tha nhân (gia đình, xã hội loài người, mọi tạo vật trong trời đất), là xây dựng cho vũ trụ, là tiếp tục công cuộc tạo dựng Thiên Chúa đã bắt đầu (x. St 1:26-30) – “... Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên Trời.”

[33] Xem Rm 5:17; 2Tm 2:12; Kh 20:4-6

[34] Con người sinh ra từ Tình Yêu, đến trong cuộc đời để sống cho trọn Tình Yêu, hầu trở về trong Tình Yêu mà hưởng hạnh phúc vĩnh cửu của chính Tình Yêu. Lịch sử cứu độ là lịch sử tình yêu; Kitô giáo là đạo tình yêu.

[35] “Tất cả đều thuộc về anh em...” (1Cr 3:22). Không những ở ngoài ... mà còn ở nơi, ở trong chúng ta nữa: những khả năng thể lý, tâm linh và siêu nhiên.

[36] “Tất cả đều thuộc về anh em, còn anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa” (1Cr 3:22-23).

[37] “Tôi được phép làm mọi sự, nhưng không phải mọi sự đều có ích. Tôi được phép làm mọi sự, nhưng tôi sẽ không để sự gì làm chủ được tôi” (1Cr 6:12); “Được phép làm mọi sự, nhưng không phải mọi sự đều có ích. Được phép làm mọi sự, nhưng không phải mọi sự đều có tính cách xây dựng” (1Cr 10:23). Luân lý không chỉ đơn thuần hệ tại ở chỗ ‘cấm, buộc’ hay ‘không cấm, buộc ,” “được phép ” hay “không được phép ,” mà nhất là ở chỗ đạt tới mức hoàn thiện sung mãn xứng hợp với con người, với mỗi cá nhân

[38] “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm!” (Rm 7:19.21-25. [14-18]); “Tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt; đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn” (Gl 5:16-17); xem Gc 4:1-3.

[39] “Vì tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống” (Mt 15:19; x. Mc 7:21-23; Gc 3:16—4:3). Vậy, phải đánh từ bên trong – từ trong nội tâm, từ trong đời sống cá nhân – đánh ra... chống lại các dạng khủng hoảng đủ loại... ồ ạt đến từ bên ngoài. Đó là “chiến thuật” cần áp dụng cho mọi trường hợp: cá nhân cũng như cộng đoàn mọi cấp.

[40] “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được” (Mc 7:15). “Ai có thể tách ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?” (Rm 8: 35), nếu không phải là chính ta?

[41] “... tại người đàn bà... tại con rắn...” (xem St 3:11-12).

[42] Rm 7:24-25

[43] Nguyên ngữ Tây ban nha dùng từ Indiferencia (Indifference / Indifférence / Indifferenza ) có nghĩa là dửng dưng. Cũng có thể gọi là tự do hay tự chủ nội tâm

[44] Gl 5:22: hoa quả của Thần Khí: ... hoan lạc, bình an...

[45] Có thể coi đó là “bình an giả tạo.”

[46] Cần thiết mà khó thì có ơn Chúa: “Ơn Ta đủ cho con!” (2Cr 12:9); “Một khi đã ban Người Con Một, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?” (Rm 8:33).

[47] Thiếu bình tâm thì không thể nhận định [“chọn lựa”] ý Chúa; vậy, cần tiếp tục chuẩn bị cho có được bình tâm... và nếu vẫn không có được bình tâm, thì ngưng cuộc Linh Thao (x. Lt 18c; Monumenta Historica SJ, Directorium , tr. 689; H. Coathalem, SJ, Commentaire du livre des Exercices , Desclée de Brouwer, Paris, 1965, tr. 212). Nếu thiếu Bình tâm thì ít là: - không nóng không lạnh... (x. Kh 3:15-16); - không thể tiến đức...; - nguy hiểm [có thể là rất lớn] cho phần rỗi

[48] Để mỗi người tự xem mình có bình tâm hay không

[49] “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Người [= sống theo thánh ý Người]” (Rm 8:28)

[50] “Tất cả những gì người ta có, nguời ta đều sẵn sàng cho đi để cứu mạng sống mình” (G 2:4b).

[51] “Anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (Gc 4:3). “Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải ... chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta... vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8:27); thánh Gioan cũng cho biết: “Người [Thiên Chúa] nhậm lời chúng ta, khi chúng ta xin điều gì hợp ý Người” (1Ga 5:14)

[52] Quên đi rằng người gian ác cũng có thể thành công ở đời này: Gr 12:1-2

[53] Mt 5:1-12 ; Lc 6:20-23

[54] Nếu con đường ý Chúa đi qua đâu [đắng đót, khổ đau hay dịu ngọn, hạnh phúc... đời này] thì đó là ơn phúc, là điều thích hạp đưa dẫn đến với Ngài trong vĩnh phúc đời sau. Nhớ lại đồ hình về con đường ý Chúa đi qua “o ” và “+”.

[55] “Tư tưởng của các ngươi không phải là tư tưởng của Ta, và đường lối của Ta không phải là đường lối của các người” (Is 55:8); “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thức, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12:2; x. Ep 4:22-24).

[56] Có cha mẹ nào lại không tìm cách sắp xếp, đặt kế hoạch cho đời con cái mình được thành công, hạnh phúc bao nhiêu có thể, thì huống chi là Thiên Chúa: “Chính Ta biết các kế hoạch Ta định làm cho các ngươi – sấm ngôn của Đức Chúa – kế hoạch thịnh vượng, chứ không phải tai ương, để các ngươi có một tương lai và một niềm hy vọng” (Gr 29:11).

[57] Chẳng hạn một cách tổ chức đời sống hằng ngày, hằng tuần, hằng năm... không dành thì giờ cho Chúa, cho nhu cầu tâm linh

[58] Lưu ý: trong các đoạn Kinh Thánh trưng dẫn, có hai trường hợp chọn từ Cựu Ước: Abraham bình tâm, Giôna không bình tâm; có hai trường hợp chọn từ Tân Ước: ông Giakêu bình tâm, người thanh niên thiện chí giàu có không bình tâm

[59] “Trong cuộc chiến đấu với tội lỗi, anh em chưa chống trả đến mức đổ máu đâu” (Dt 12:4). – Bỏ qua, không nói đến tội lỗi cho rõ ràng (viện lý: để tránh gây mặc cảm tội lỗi không lành mạnh!) là vô tình hay hữu ý xóa mất đi lý do hiện hữu của lịch sử cứu độ , của sứ mạng Đấng Cứu Thế, là tiếp tay đẩy lương tâm con người tới chỗ mù quáng, trở thành chai đá, làm cho con người lâm vào cảnh sa đọa, hư hỏng

[60] Tuy nhiên, nếu – không biết yêu mến, nhưng – chỉ vì sợ rơi vào hỏa ngục mà lo xa lánh tội lỗi, thì còn hơn là không biết sợ chi hết! Thánh Inhã cũng nhận định tương tự như thế.

[61] Suy niệm về tội lỗi như vầy có kéo theo mặc cảm tội lỗi bệnh hoạn không? Hẵn là không! Bởi, không để ấn tượng về tội lỗi dày vò, gây sợ sệt, chán nản, tuyệt vọng, người gẫm suy về tội lỗi sẽ đặt mình dưới ánh mắt của một Người Cha vô cùng nhân ái là Thiên Chúa, để nhìn lại lỗi lầm của mình trong ánh sáng tình yêu tha thứ vô biên của Người ; do vậy, thay vì mang thêm mặc cảm tội lỗi bệnh hoạn thì lại được chữa lành !

[62] Tha thứ không chỉ có nghĩa là bỏ qua, là quên đi, nhưng – đặc biệt trong trường họp này – là làm cho nên trong trắng [x. Is 1:18; Tv 32:1; 51:9 ...], tốt lành trở lại trong đới sống thiêng liêng [như người bị tai nạn khuyết tật, dị hình dị hợm mà được chữa cho thành xinh đẹp, tuấn tú hay kiều diễm...], là làm cho sống lại về mặt siêu nhiên, trong đời sống ơn thánh sủng [nếu đã phạm tội trọng]

[63] “Ôi tội hồng phúc” (th. Âugutinô): - tội quá khứ: Rm 8:28; - giúp cho thấy rõ tình yêu tha thứ bao la của Thiên Chúa

[64] Trong Linh Thao , Thánh Inhã viết về Tiền nguyện II [khác với Tiền nguyện I là bối cảnh cụ thể] như thế này: “... là xin Thiên Chúa, Chúa chúng ta, điều tôi muốn và ước ao... phù hợp với đề tài suy ngắm. Chẳng hạn, khi chiêm niệm về Phục Sinh, thì xin được vui mừng với Chúa Kitô vui mừng; nếu chiêm niệm về sự thương khó thì phải xin ơn buồn phiền, khóc lóc và đau khổ với Chúa Kitô đau khổ. Ở đây [trong buổi suy gẫm về tội] phải xin được lòng tự hổ thẹn và ngượng ngùng thấy rằng bao nhiêu người đã bị phạt trong hỏa ngục chỉ vì một tội trọng, còn tôi, biết bao lần, lẽ ra, đã đáng bị phạt đời đời vì bấy nhiêu tội lỗi của tôi” (Lt 48).

[65] “Yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Người” (1Ga 5:3); vậy, có yêu mến thì mới diệt trừ được tội lỗi, bởi tội lỗi là hành động nghịch với điều răn...

[66] Lt 53-54

[67] Xem Rm 5:7-8

[68] Xem Lc 7:42-43.47b

[69] Ga 15:13

[70] Xem Rm 5:7

[71] Cho tôi còn có cơ hội, thì giờ để ăn năn hối cải và đền bù (xem 2Pr 3:9b).

[72] Xem 1Tx 5:24

[73] Xem 1Ga 3:4

[74] Có thể trầm trọng đến độ làm chết mất đi đời sống siêu nhiên... dẫn đến trầm luân đời đời. Một vài hành động có vẻ đơn sơ nhưng cho thấy tính chất trơ tráo, phi lý, quái gở, ghê rợn... của tội lỗi; đó là: nụ hôn của Giuđa để nộp Chúa (Mt 26:49) và việc giới lãnh đạo cùng dân chúng Do thái chọn tha cho Baraba... (Mt 27:21-22).

[75] Xem Lt 60. Qua tương quan liên đới

[76] “Ngươi còn dám nói: ‘Chẳng làm tôi ai cả!’”(Gr 2:20).

[77] 1Ga 5:3

[78] Lt 52.

[79] Mọi người đều cần được cứu độ vì “mọi người trên thế gian đều đắc tội trước tòa Thiên Chúa” (Rm 3:9-20; x. 1Ga 1:8-10). Nếu đã không rơi vào tội trọng, thì đó là nhờ ơn Chúa giúp cho đứng vững trong ơn thánh sủng. Hãy –  nơi gương Đức Mẹ, Đấng Vô Nhiễm – nói lên lòng cảm tạ và đền đáp tình thương cứu độ của Ngài. Và khi tình yêu đã đạt tới mức độ tế nhị (trường hợp Đức Mẹ, các thánh... đối với Chúa; hoặc trường hợp những người tình thắm thiết...), thì ngay cả những ‘mếch lòng, chạnh lòng’ nhỏ cũng làm cho đau lòng lớn!

[80] Xem 1Tx 4:13-14

[81] Xem G 1:21; Tv 49:11.18; Gv 5:14; 1Tm 6:7

Trở về Nội Dung