HỢP TUYỂn THẦn HỌC sỐ 7

ỦNG HỘ KITÔ HỌC THẦN KHÍ  

 Roger Haight,S.J.[1]  

 Trong khoảng trên dưới 20 năm trở lại  đây, đã có nhiều thiên tiểu luận xuất hiện, bàn  về Kitô học Thần Khí .[2]  Mục đích của bài khảo  luận này là lược tóm những bước tiến đã đi  được và đồng thời, biện hộ cho việc dùng ngôn  ngữ có tính cách Thần Khí trong Kitô học. Nói tới "Kitô  học Thần Khí" là tôi muốn chỉ về một khoa Kitô học  có khả năng "giải thích" về cách thức Thiên  Chúa hiện diện và hoạt động ở trong Đức Giêsu, và  nhờ đó mà giải thích về thiên tính của Đức  Giêsu: giải thích bằng cách dùng ký hiệu Thần  Khí mà Kinh Thánh dùng để chỉ về Thiên Chúa, thay  vì dùng ký hiệu Lógos (Lời). Đó là chủ  trương của những tác giả quan niệm cho rằng một  khoa Kitô học Thần Khí toàn diện như vậy sẽ biểu đạt  một cách thích đáng hơn cho thời đại chúng ta, những  gì đã được nói lên qua cách thức thường dùng trong Kitô học Ngôi Lời (Logos Christology ). [3]

Có thể bắt đầu cuộc bàn luận chủ đề trên đây bằng  cách nêu bật cho thấy rõ về bối cảnh hiện nay của  công tác biên soạn môn Kitô học cho người thời nay:  bối cảnh ấy là một môi trường thuận lợi trong  đó, khoa Kitô học Thần Khí có cơ hội gây được ảnh hưởng  thu hút lớn. Thời đại chúng ta đang sống là một gian  đoạn đang ý thức sâu rộng về tầm hưởng của chiều  kích lịch sử; vì vậy, nếu không biết ứng đáp thích đáng  cho yêu cầu của ý thức ấy, để coi đó như là một  tiền đề đặt ra cho công tác của mình, thì khoa Kitô học  sẽ không tạo được uy tín hầu làm cho các thế hệ ngày  nay tin tưởng. Hệ quả của ý thức lịch sử nàylà  ngày nay, hầu như luôn luôn Kitô học khởi đầu với  việc nhận định về Đức Giêsu, rồi tiến hành công tác  với nổ lực không ngừng nêu bật và cả nhấn mạnh  nữa, đến nhân tính của Đức Giêsu. Đó hẳn là lối  phản ứng đối ngược lại với cung cách minh họa quá trừu  tượng về bản sắc, thân phận và cương vị của Đức  Giêsu. Chắc hẳn khởi điểm của cách thức trình bày  như thế đặt cơ sở trên các cứ liệu của các Phúc  Âm Nhất Lãm; theo đó, Đức Giêsu được miêu tả  như là một con người có liên hệ thân thuộc với Thiên  Chúa, con người gọi Thiên Chúa bằng Cha, và mối liên  hệ ấy biểu hiện qua cung cách Người cầu nguyện và  qua thái độ tuần phục đối với sứ mạng cần phải chu tất  cho vương quốc của Thiên Chúa. Bối cảnh trình thuật  trong Phúc Âm cho thấy là Đức Giêsu giữ một mối  quan hệ liên bản vị với Thiên Chúa. Trong khi đó, trong  khuôn mẫu Kitô học Ngôi Lời -- là hình thái  Kitô học đã đưa tới các định thức được nghị quyết trong  công đồng chung Canxêđôn, cũng như đã dựa theo đó  mà tiếp tục khai triển suy tư của mình -- nền Kitô  học đã từng gặp khó khăn trong cố gắng bảo toàn  cho trọn vẹn nhân tính nơi Đức Giêsu cho khỏi bị coi nhẹ,  bị quên lãng đi, nếu không nói là cho khỏi bị hoàn  toàn nuốt trửng đi, bởi cảnh tượng một ngôi  vị thần linh hiển hiện, đường đường bước đi ngay giữa  cõi đất này. Ngày nay, vấn đề được đặt ra theo  một cách thức ngược hẳn lại: ai cũng biết Đức Giêsu  là một con người; nhưng còn có điều chưa rõ  và cần được "giải thích" cho cẩn thận cặn kẽ,  đó là ngoài sự kiện đơn thuần làm người, Ngài  còn mang cả bản tính thần linh nữa. Phải  khẳng định những gì và phải minh giải như thế  nào về thiên tính ấy: Đó chính là một vấn đề lớn  đang được đặt ra cho khoa Kitô học hiện đại; và cách thức  quan niệm, biểu đạt hoặc trình bày về thiên tính của  Đức Giêsu hiện còn là một vấn đề đang bỏ ngỏ.[4]   

Chỉ ở trong những môi trường đã từng hấp  thụ ảnh hưởng của ý thức về tầm hưởng của  chiều kích lịch sử, thì mới nhận ra được rằng vấn đề nêu  trên đây là thực sự mới mẻ và còn đang bỏ  ngỏ. Ngay từ buổi đầu của lịch sử tư tưởng  Kitô giáo, Tân Ước đã trình bày cho thấy nhiều phương  thức thực sự đa dạng trong cách tìm hiểu về Đức Giêsu. [5] Như vậy,  trên nguyên tắc, Kinh Thánh đặt vào trong tầm tay của  chúng ta một số ý nghĩa khác nhau về thiên tính của Đức  Giêsu. Đáng tiếc là hiện nay, nhiều cách kiểu trình bày  Kitô học tuy có tinh thần trách nhiệm cao và nghiêm túc  về mặt lịch sử, nhưng về phương diện hữu thể (ontological),  thì lại chẳng mảy may đả động gì tới vấn đề chủ  yếu ấy cả; rồi cứ thế mà tiếp tục mãn nguyện  với những lối ẩn dụ mong manh bạc nhược, khác hẳn với  ngôn ngữ tượng trưng vừa hùng mạnh sung sức vừa  hàm súc ý nghĩa hữu thể. Hơn nữa, cuộc đối thoại  hiện nay giữa các tôn giáo lại còn nêu lên một câu  hỏi đặc biệt cấp thiết và sôi bỏng về cương vị  của Đức Giêsu trong tương quan với các nhân vật cứu tinh  khác. Câu hỏi ấy, câu hỏi muốn biết Đức Giêsu là  như thế nào trong tương quan so sánh về mặt nguyên tắc,  với các trung gian cứu tinh trong các tôn giáo khác, hiện  đang bỏ ngỏ; và tình trạng bỏ ngỏ này  là lý do cắt nghĩa tại sao hiện đang có hằng hà bài  viết bàn về chủ đề ấy, đồng thời nó cũng  cho thấy về những ý kiến, những quan điểm rất khác  biệt nhau đến độ không đạt tới được một mối nhất trí về  một số điểm cơ bản nhất hầu làm nền tảng chung  cho cuộc thảo luận.

Nói một cách tổng quát hơn, chỉ cần đặc biệt lưu ý tới những  dữ kiện đi đôi với ý thức lịch sử, như: khả năng  cảm nhận về những đổi thay mà tư tưởng thần  học phải không ngừng sống qua ngõ hầu ứng đáp  thích đáng cho những hoàn cảnh và những  vấn đề mới trong tiến trình của lịch sử; khả năng  biết phân biệt giữa lòng tin căn bản đượm nhuần  tinh thần dấn thân và sự việc có thể biểu đạt lòng  tin ấy ra bằng những cách thức khác nhau trong những  bối cảnh lịch sử khác nhau; xác tín cho rằng đà  phát triển của thần học và giáo lý trải dài  theo tiến trình lịch sử không thể ngừng khựng lại ở  một thời điểm lịch sử nào đó được. Tóm lại, cuộc  bàn luận về Kitô học Thần Khí cần phải được diễn  ra trong một bầu khí thực sự cởi mở.

Chủ đề mà bài viết này đang bàn đến, là  chính đề tài thường được gọi là vấn đề Kitô học,  nhưng lại được nhìn dưới nhãn quan của môn Kitô học  hiểu theo một nghĩa tổng quát và rộng hơn. Nếu xét theo nghĩa hẹp và theo hình thái mô thức, thì vấn đề  Kitô học ấy sẽ dùng những phạm trù dựa theo  đường hướng giáo huấn của hai công đồng Nixêa và  Canxêđôn mà nghiên cứu và trình bày về bản  sắc cùng cương vị của Đức Giêsu. Còn vấn đề đặt  ra trên đây thì liên hệ đến cương vị của Đức Giêsu xét  về mặt hữu thể, theo phạm trù của thực thể, tức  là để tìm xem Ngài có tương quan như thế nào đối  với Thiên Chúa và đối với loài người. Giả  thuyết làm nền tảng cho lập trường ủng hộ  Kitô học Thần Khí là như thế này: trong bối cảnh  có ý thức sâu đậm về chiều kích lịch sử như hiện nay,  hình thái Kitô học Thần Khí xem ra thích đáng và đầy đủ  hơn là hình thái Kitô học Ngôi Lời đã từng  chi phối tư tưởng Kitô giáo kể từ giai đoạn cuối của  thời Tân Ước. Tuy thế, luận chứng đưa ra sẽ không  nhất thiết phải là một cuộc luận chiến chống lại  Kitô học Ngôi Lời, mà chỉ nhằm mục đích đề xuất và  khai triển một cách thức giải thích có tính cách tích cực  và xây dựng; và nếu có đi ngược lại với lập trường  của Kitô học Ngôi Lời, thì cũng chỉ là thảng  hoặc và vì cần để làm cho sáng tỏ một vài  chi tiết nào đó mà thôi. Vậy, ở đây hoàn  toàn không có chuyện xác quyết về tính cách đúng hay  sai của hình thái Kitô học Ngôi Lời trong thời  xưa hay thời nay, mà chỉ muốn nêu rõ đặc nét của  một nền Kitô học xem ra thích đáng và đầy đủ hơn cho  tình cảnh sống ngày nay của chúng ta.

Dĩ nhiên là trong giới mức của một bài viết hạn  hẹp như thế này, thì chỉ nói lên được một cách có thể  gọi là sơ lược, lập trường ủng hộ trên đây. Việc  trình bày và khai triển một quan điểm về Kitô học  là một công tác hết sức phức tạp; thế nên, không thể  nào khai triển một quan điểm cho đầy đủ được, nếu  không đưa ra những luận chứng xác đáng cho từng giai  đoạn trong tiến trình biện luận. Mục tiêu của bài  viết này là thu thập và trình bày một cách  có mạch lạc và chặt chẽ, các nhân tố không phải  là ít, hiện đang làm cho thấy rõ tính chất thích  đáng của một nền Kitô học Thần Khí. Các nhân tố kia  sẽ được bàn tới theo thứ tự sau đây: trước tiên,  là phác thảo về những gì Kitô học đòi phải  hội đủ; thứ đến, là xác định những nét đại cương  cho khuôn khổ thần học của cuộc bàn luận này;  rồi sau đó, là thử tổng kết những phương thế hữu  dụng cho Kitô học Thần Khí, tức là những biểu tượng,  những phạm trù và những nguyên tắc mà  khoa này dùng tới để khai triển nội dung của mình;  và cuối cùng, là bàn về những lãnh  vực cần phải được giải thích hoặc giải thích lại  cho ăn khớp với đà suy tư của Kitô học Thần Khí.

 

 Kitô Học và Những Nhân Tố Cần Được Hội Đủ.

 Ngày nay, thần học đã trở thành đa dạng, và  đó là điều mà ai cũng coi như là đã được  công bố rõ ràng. Vì thế, ngay từ đầu, cần phải  nói rõ về những giả định liên quan đến phương pháp  mà bài khảo luận này dùng tới. Vậy, sau  đây xin lược kê một số -- chứ không phải là toàn  bộ, [6] -- các tiền đề trong thần học có  ảnh hưởng lớn đối với Kitô học.

Có thể nói rằng tiền đề đầu tiên trong phương pháp Kitô  học là chính văn thể mang tính cách biện hộ của khoa  này. Nghĩa là Kitô học phải giải thích về thân  thế của Đức Giêsu làm sao để có thể biện minh cho  kinh nghiệm mà người kitô có về Ngài. Đối với  người kitô, Đức Giêsu là Đấng Kitô hay là Đấng  Thiên Sai. Nói cho rộng hơn: họ nhận được ơn cứu độ của  Thiên Chúa, trong Ngài và qua Ngài. Cần phải  giải thích về mối liên hệ này; và Kitô học hệ  thống chính là cách giải thích về mối liên hệ ấy.  Cách thức giải thích kia không phải là một bằng  chứng hay là một cách minh chứng cho một lập trường,  cho bằng là một cố gắng trình bày theo hình thức chủ  đề hoặc diễn giải cho có lý, về bản sắc cùng  vai trò của Đức Giêsu làm sao cho tương ứng với  mối liên hệ mà người kitô có đối với Ngài, hoặc  là làm sao để giúp giải thích cho sáng tỏ hơn  về mối liên hệ ấy. Một phần nào đó, sứ mạng chủ  yếu nhất của Kitô học có thể được miêu tả qua điều  kiện này là: không bao giờ Kitô học được quyền  coi như là dĩ nhiên lời xác định lạ lùng nói rằng  qua trung gian của cá nhân đặc biệt ấy, con người nhận  được ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Một điều kiện thứ hai, thiết yếu đối vối công tác xây dựng  Kitô học, là: cần phải trung thành với cách thức  Kinh Thánh nói về Đức Giêsu. Kitô học phải chú ý đến  những gì Tân Ước trình thuật về Đức Giêsu, và phải  được hình thành theo khuôn mẫu của các trình thuật  ấy cũng như của kinh nghiệm làm nền móng cho chúng.  Đó là không gì hơn ngoài tiền đề cơ bản của  chính thần học lấy Kinh Thánh làm chuẩn tắc cho Giáo Hội,  và từ đó, làm chuẩn tắc cho cách thức Giáo Hội  tự hiểu biết về chính mình, tức là thần học. Điều kiện  này đã đóng giữ một vai trò rõ rệt trong  những bước phát triển gần đây của khoa Kitô học Thần  Khí, bởi vì Tân Ước đã cho thấy những dấu chỉ tích  cực cổ vũ cho hình thái Kitô học này, cũng như  bởi vì một số quan điểm được coi như là hệ quả  rút ra từ Kitô học Ngôi Lời, đã tỏ ra là  không thể nào ăn khớp được với các cứ liệu của  Tân Ước.

Thứ ba, Kitô học có bổn phận phải trung thành với  hai đại công đồng lừng danh về mặt Kitô học, tức là  các công đồng Nixêa và Canxêđôn. Trong thời các Giáo  phụ, hai công đồng này đã một cách nào đó, hoạch  định khuôn khổ cho việc đặt vấn đề Kitô học, cũng như  cho cả đà phát triển của chính Kitô học theo nghĩa  hẹp nữa. Hai công đồng này được hầu hết các Giáo  Hội lớn trong thế giới Kitô giáo công nhận, và như thế  có thể cung ứng cho các Giáo Hội kitô một thứ ngôn ngữ  tín lý chung: Đức Giêsu là Thiên Chúa thật và cũng  là con người thật; Đức Giêsu là đồng bản tính  với Thiên Chúa (Nixêa), và cùng lúc cũng đồng  bản tính với chúng ta (Canxêđôn).

Thứ tư, Kitô học cần phải được trình bày làm sao  cho dễ hiểu và cho có mạch lạc hơn; và chỉ khi  nào biết trở thành một môn nghiên cứu có tính  chất phê bình, thì lúc đó Kitô học mới có đủ khả  năng để chu tất sứ mạng biện giáo của mình. Một quan  điểm Kitô học sẽ đương nhiên có được tính chất dễ  hiểu, nếu biết đặt mình vào trong một mối tương quan đượm  tinh thần phê bình với hiện tình của thế giới, kể cả  thế giới của văn hóa và kiến thức trí tuệ nữa.  Sự việc ngôn ngữ của đức tin và kinh nghiệm giữa  cuộc sống mỗi ngày gặp gỡ và tiếp xúc với  nhau, sẽ đưa cả hai phía đứng vào trong một tư thế  mới: tư thế đặt vấn đề cho lẫn nhau; đức tin đặt vấn  đề về các giá trị và tư tưởng văn hóa được coi như  là hiển nhiên; còn những gì thu nhận được qua kinh  nghiệm về thế giới hiện tại thì lại đặt vấn đề về các  công thức đức tin đã từng được chấp nhận, và  yêu cầu giải thích chúng lại. [7] Còn, nói là cần phải có mạch lạc tức là  trước hết, nói tới sự việc người kitô cần phải bức  thiết để tâm tìm hiểu về chính mình sao cho thống nhất; chẳng  ai có thể cùng một lúc sống ở trong hai thế giới  mang những ý nghĩa hữu thể đối nghịch với nhau, hoặc  không bao giờ có liên lạc gì với nhau cả. Tính chất  mạch lạc còn hàm súc một chiều kích khác nữa:  là một giữa nhiều nguồn cội giáo lý, Kitô học có  bổn phận phải biết tiến hành sao cho ăn khớp với  những lề lối giải thích thần học của các bộ môn  giáo lý khác. Tất cả các khía cạnh vừa nêu trên  đây của tính chất phê bình trong một khoa Kitô học xét  theo tư cách là một bộ môn, đều sẽ được đưa vào  hội nhập một cách tích cực và thỏa đáng ở trong  Kitô học Thần Khí.

Thứ năm, để được gọi là hiện đại, thì một nền Kitô  học phải có khả năng ứng đáp thích đáng những  vấn đề hiện đại. Thật ra, trong thực tế, đó chỉ là điều  tất yếu đi liền với chiều kích vừa nói trên đây của  phương pháp Kitô học. Sở dĩ ở đây, nó được đặt đứng  riêng như vậy, là để nhờ đó, có cơ hội thấy cho rõ  hơn vấn đề về mối liên hệ giữa Đức Giêsu với các nhân  vật cứu tinh và các tôn giáo khác. Thường khi, vấn  đề này chỉ được bàn tới như là hệ luận của  một nền Kitô học đã hoàn toàn cấu tứ rồi, hoặc  như là một vấn đề đặc biệt cần bàn tới một khi đã  giải đáp xong vấn đề Kitô học hiểu theo nghĩa hẹp. Làm  như vậy là né tránh những yêu cầu của Kitô học,  những tính chất và khả năng cần phải có của  một khoa Kitô học: tính chất hộ giáo và phê bình, khả  năng ứng đáp cho kinh nghiệm của đời sống kitô, cũng  như đối thoại thích đáng với bối cảnh hay là hiện  trạng lịch sử. Tính chất đa dạng tôn giáo là một thành  tố nằm ở nơi khởi điểm của một nền Kitô học  xuất phát từ cuộc sống và kinh nghiệm kitô trong thế  giới hiện nay. Nhưng vũ trụ quan của người kitô  ngày nay bao gồm một cách thức đánh giá tương đối mới  đối với tầm phổ quát của ân sủng Thiên Chúa, ân  sủng có thể được ban qua những trung gian lịch sử  ngoài Đức Giêsu Kitô; và như thế, lối nhìn ấy cũng  đánh giá một cách tích cực các tôn giáo khác, coi đó như  thể là những phương thế khả dĩ mang lại ơn cứu  rỗi cho hàng hàng lớp lớp đông đảo các dân  nước. Điều đó làm nên một bối cảnh tiên nghiệm cho  đường hướng suy tư của Kitô học.

Cuối cùng, còn có một tiêu chuẩn thứ sáu, đó là:  Kitô học cần phải có khả năng kích cảm và  tăng cường đời sống kitô. Trên nguyên tắc, một nền  Kitô học không đủ sức làm cho cuộc sống cụ thể của  người kitô sinh động lên, thì cũng không thể được  coi là thích hợp đối với đời sống kitô. Như sẽ  thấy trình bày qua bài viết này: việc nêu bật  nhân tính của Đức Giêsu là một yêu cầu của chính  tiêu chuẩn đang bàn tới đây, tức là tiêu chuẩn về  tính chất thích đáng của Kitô học đối với nền linh đạo   (spirituality) kitô, một nền linh đạo thường được  hiểu như là đường hướng dẫn lối cho cuộc sống  ở ngay giữa trần thế. Rồi cũng sẽ nhận rõ  ra rằng Kitô học Thần Khí có đủ khả năng để đảm  bảo cho nhân tính của Đức Giêsu khỏi bị suy suyển  đi trước lập trường khẳng định rõ ràng về thiên  tính của Ngài. Linh đạo là lãnh vực sẽ  nêu bật cho thấy rõ nhiều nhất, lợi ích của Kitô  học Thần Khí.

Nếu được phối hợp và xét chung như một toàn bộ, thì  các tiêu chuẩn về phương pháp nêu trên đây, sẽ đóng  vai trò của cố gắng bước đầu trong nỗ lực giải  thích cho lôgích, lý do vì sao Kitô học cần phải chuyển  dịch để tiến bước theo hướng Kitô học Thần Khí. Mỗi một  điểm trong các yêu cầu về phương pháp như thế kia, đều sẽ  theo một cung cách riêng, cho thấy lý do tại sao lại cần phải  dựa theo cách thức Thiên Chúa hiện diện và hoạt động  trong  Đức Giêsu -- tức là hiện diện và hoạt động  như là Thần Khí -- mà quan niệm về bản sắc của  con người Ngài. Tuy nhiên, các nguyên tắc về phương  pháp ấy cũng chưa nói lên hết được nền tảng lý luận  của bài viết này; còn cần phải chú ý  đến cách thức quan niệm về cơ cấu của Kitô học nói chung,  đang được dùng tới ở trong công tác khảo luận,  thì mới đủ.

 

 Cơ Cấu Của Kitô Học.

 Trong phần này, tôi xin vắn tắt trình bày quan niệm  về cơ cấu của Kitô học, tức là về những gì làm  bối cảnh chung cho vấn đề Kitô học. Nói tới cơ cấu của  Kitô học là tôi muốn nói tới những hiểu biết sẵn  có về cách thức con người gặp gỡ với Thiên Chúa  ở giữa thế giới này, và về cách thức Đức  Giêsu hoạt động ở trong tiến trình gặp gỡ ấy. Thường  được thần học căn bản cung ứng, bối cảnh chung ấy  tác động theo một cách thức tiền nghiệm, trên bất cứ một  nền Kitô học nào, và vì vậy đóng giữa một vai  trò quan trọng tất yếu trong việc lượng định những  gì được đề cập đến trong Kitô học. Thế nên, phần tiếp theo  sẽ xác định rõ về giả thuyết hậu cảnh (background  theory) làm bối cảnh cho hình thái Kitô học Thần  Khí mà bài viết này đang thử đề xướng ra. Giả  thuyết ấy cũng phản ánh những yêu cầu cần được  ứng đáp thỏa đáng của ý thức nhạy bén về hiện trạng  lịch sử như đã bàn tới ở trên kia.

Giả thuyết ấy được đề ra như là một tiền đề khởi  đầu nhằm nhận định rằng mọi cách thức hiểu biết của  con người đều phải chịu điều kiện ràng buộc của  thế giới bên ngoài và của những dữ kiện  cảm tính. Luận điểm về nhân học và khoa học luận  này muốn nói rằng bất cứ loại kiến thức nào của  con người cũng đều phải nhờ trung gian của  lịch sử thì mới có được, kể cả sự hiểu biết về Thiên  Chúa. Điều đó không có nghĩa là tự do của con người  thiếu hẳn đi những thiên hướng và đà năng động  dồn thúc khuynh về với những gì là siêu việt; cũng  như không có nghĩa là không thể có những kinh nghiệm  siêu việt mập mờ, không mang một hình thái xác định và  cụ thể nào, về hữu thể tuyệt đối, hay là về  "sự thánh thiêng." Nhưng, cốt tủy của luận  điểm trên đây nằm gọn ở trong điều này: nếu cần  có một nội dung hoặc là quan niệm về thực tại siêu việt,  thì nhất thiết phải nhờ đến trung gian của lịch  sử mới có được. Cho dù có thu nhận được qua cách  thức nào đi nữa, thì nội dung của mọi hiểu biết  về Thiên Chúa cũng phải mang hình thái của một  hay những phương tiện (media) nào đó của lịch  sử. Trong tiến trình hình thành của chúng, những  ý niệm về thực tại siêu việt nhất thiết phải mang một  hình thái nào đó của những cách thức hiểu biết  trong thế giới này. [8] Các tôn giáo có  tính lịch sử đều đã được cấu thành và xây  dựng trên nền tảng các phương tiện lịch sử công cọng  như thế, tức là các phương tiện đã được rút ra từ  kinh nghiệm về Thiên Chúa.

Phương thế trung gian nhờ đó mà có kinh nghiệm tôn  giáo, cũng có thể được gọi là biểu tượng; bởi  thế, mọi nhận thức và hiểu biết về tôn giáo đều mang  tính chất biểu trưng. [9] Biểu tượng là một thực tại làm cho một thực  tại khác được biểu lộ hoặc nhận biết; biểu tượng làm  trung gian đưa tới việc cảm nhận và nhận thức về một  điều gì khác hơn là chính biểu tượng. Cách thức nhận định  như thế về tính chất biểu trưng đặc thù của các hiểu  biết tôn giáo, có thể được minh giải dựa theo căn bản  của khoa hiện tượng luận về kinh nghiệm tôn giáo. Thiên  Chúa không hiện diện trong ý thức của con người như  là một đối tượng thuộc thế giới cảm tính này;  Thiên Chúa tuyệt đối khác hẳn với bất cứ đối tượng hữu  hạn nào. Tuy nhiên, tính chất siêu việt tuyệt đối của  Thiên Chúa cũng đồng thời hàm ngụ sự việc Thiên  Chúa hiện diện ngay trong chính nội giới mọi tạo vật mà  Ngài làm cho hiện hữu qua hoạt động sáng tạo.  Như vậy, mỗi khi có một cá nhân nào cảm nghiệm  về Thiên Chúa trong một hoàn cảnh, qua một phương thế  hay biểu tượng hữu hạn nào đó, thì Thiên Chúa sẽ  được cảm nghiệm như là một Đấng tuyệt đối siêu việt,  vượt lên trên mọi giới hạn của biểu tượng, và hoàn  toàn khác hẳn với biểu tượng. Cho dù có phải  nhận rằng đến một mức độ nào đó, Thiên Chúa được cảm  nghiệm trong và qua một biểu tượng nhất định, thì Thiên  Chúa cũng vẫn hiện diện nơi biểu tượng, và qua  biểu tượng ấy, hiện diện trong ý thức của con người.

Thành thử, về phương diện hữu thể, biểu tượng  tôn giáo có hai chiều kích song đôi, và tiến hành  vai trò của mình theo phương cách biện chứng; biểu tượng  gồm hàm hai chiều kích trái ngược nhau, nhưng lại tùy  thuộc, cần thiết và bổ túc cho nhau. Bởi lẽ Thiên  Chúa vừa hiện diện trong biểu tượng hữu hạn vừa  vượt quá lên trên nó, cho nên biểu tượng vừa làm  cho Thiên Chúa hiện diện, mà cũng vừa chỉ về một  Thiên Chúa rất cách xa và rất khác biệt với chính biểu  tượng. Tính cách biện chứng ấy của biểu tượng có thể  được diễn đạt một cách sắc bén hơn, như thế này:  biểu tượng vừa "là ”, vừa ” không phải  là ” điều mà biểu tượng chỉ về và làm cho  hiện diện; và điều được tượng trưng vừa " là ”,  mà vừa ” không phải là ” biểu tượng. Tính  chất hiện tượng luận ấy trong chức năng làm trung gian  của các biểu tượng cũng minh giải cho tính cách  biện chứng này của các biểu tượng; ý nghĩa của  từ "biện chứng ” được rút ra từ chính quá  trình và kinh nghiệm về vai trò làm trung gian mà  các biểu tượng đóng giữ trong lãnh vực tôn giáo.  Tính chất này, như sẽ thấy, đóng giữ một vai trò  hết sức chủ chốt đối với vấn đề Kitô học hiểu theo  nghĩa hẹp. Giáo lý của công đồng Canxêđôn phản ánh  rõ về cơ cấu biện chứng này.

Thế nên, dựa theo bối cảnh này, có thể nói rằng  Đức Giêsu chính là trung gian (medium) lịch sử,  đứng ở điểm khai nguyên Kitô giáo, và cũng chính  là biểu tượng trung tâm chủ chốt của Kitô giáo. Ở đây, hình ảnh của trung tâm được hiểu  theo nghĩa đen; Đức Giêsu là trung tâm đầu não của  đức tin kitô, vì trong tư thế là một con người, Ngài  là biểu tượng lịch sử quy hướng đức tin kitô vào  trong Thiên Chúa. Thiên Chúa gặp gỡ với đức tin kitô  trong Đức Giêsu; Đức Giêsu là mạc khải về Thiên Chúa.  Đức tin kitô gặp gỡ với Thiên Chúa qua Đức Giêsu; Đức  Giêsu là trung gian, là đường đẫn lối người  kitô đến với Thiên Chúa. Cho dù về phương diện lịch sử,  chúng có bắt nguồn từ Ngài hay không, thì mọi biểu  tượng khác trong Kitô giáo cũng đều quy chiếu về với  con người của Đức Giêsu, hệt như chu vi đối với tâm  điểm vậy. Mặc dầu ở đây, quan điểm vừa nói chỉ được  nêu lên theo hình thức phân tích và đề xuất, nhưng thực  sự nó cũng miêu tả cho thấy những gì đã xảy  ra trong tiến trình hình thành của Giáo Hội thời  sơ khai, cũng như của các văn bản Tân Ước: Đức  Giêsu chính là tâm điểm. [10]

Nền móng khai nguyên Kitô học đặt cơ sở chủ yếu ở  nơi kinh nghiệm tôn giáo về Đức Giêsu và ở nơi cách  thức giải thích về Ngài. Tân Ước chứa đựng rất nhiều  tước hiệu khác nhau chỉ về Đức Giêsu, rất nhiều cách thức  giải thích về con người của Ngài, cũng như  rất nhiều quan niệm khác nhau về các hoạt động của Ngài.[11] Tuy nhiên, cũng có thể tổng quát hóa để ứng dụng cho  mọi trường hợp, kinh nghiệm cơ bản làm nền tảng  cho hết thảy mọi trường hợp, đó là: tất cả  những ai đã trở thành người kitô thì cũng  đều cảm nghiệm về Đức Giêsu như là Đấng làm trung  gian cho ơn cứu độ Thiên Chúa ban. "Trong toàn bộ Tân  Ước, đâu đâu cũng chỉ tìm thấy được một kinh ngiệm đồng  nhất về mặt cơ bản làm nền tảng cho nhiều cách  giải thích khác mhau: tất cả mọi văn bản của  Tân Ước đều mang chứng tích của kinh nghiệm về ơn cứu  độ Thiên Chúa ban xuống trong Đức Giêsu." [12] Lối dùng ẩn dụ để nói về nền tảng là  lối nói thích đáng đối với trường hợp chúng ta đang bàn  ở đây; kinh nghiệm về Đức Giêsu như là Vị mang ơn cứu  độ đến, thì có trước các cách giải thích, và  là nền tảng của chính các giải thích  khác nhau ấy về bản sắc con người của Ngài,  cũng như về phương cách cần dùng tới để đạt cho được  ơn cứu độ. Tính cách "có trước" này không nhất  thiết phải được hiểu theo thời gian, làm như kinh  nghiệm ấy đã không mang được một hình thái hoặc một cách  thức biểu đạt nào rõ ràng trước khi được hình  thành qua trung gian và lối diễn đạt của biểu  tượng; đúng hơn, ở đây, cần phải hiểu tính cách ưu  tiên "có trước" ấy theo nghĩa là có khả năng  tổng quát hóa kinh nghiệm kia ra cho mọi trường hợp: một  cuộc gặp gỡ cứu độ với Thiên Chúa qua trung gian của  Đức Giêsu là một biến cố đặc trưng, khác hẳn với vô  số những cách thức khác nhau trong nỗ lực minh giải  những thắc mắc "làm thế nào", và "tại  sao" thường được đặt ra cho sự kiện gặp gỡ ấy.

Vì thế, liên quan đến Kitô học, có thể đưa ra hai tiên đề  về bản chất và cơ cấu như sau: Thứ nhất, Kitô học  là cách thức giả thích về Đức Giêsu, căn cứ theo  kinh nghiệm cứu độ nhờ trung gian của Đức Giêsu, tức  là trong Ngài và qua Ngài. Đối tượng của  Kitô học là Đức Giêsu; và vấn đề kitô học theo nghĩa  hẹp là vấn đề tìm hiểu về thân thế và cương vị của  Đức Giêsu trong quan hệ với Thiên Chúa và loài người.  Còn sự kiện làm tiền đề cho toàn bộ nỗ lực  suy tư kitô học là sự kiện này: trong một cách thức  nào đó, chính Đức Giêsu ấy đã được con người cảm  nhận qua kinh nghiệm như là Đấng trung gian biểu trưng ơn  cứu độ của Thiên Chúa. Nguyên tắc thứ hai đặt cơ sở  trên tiên đề thứ nhất, và minh định rằng: những gì  Kitô học có sứ mạng phải giải thích về Đức Giêsu,  đều được hàm chứa sẵn trong kinh nghiệm về Ngài như  là Đấng mang lại ơn cứu độ của Thiên Chúa. Nói cách  khác, ngày nay, Kitô học không còn cố tìm cách để  cắt nghĩa các hình thái Kitô học khác. Chính việc nghiên cứu  và phân tích Tân Ước với nhiều hình thái Kitô học đa dạng hiện rõ ở trong đó, cũng đủ nêu bật  cho thấy sự kiện này là không một dạng thức Kitô  học nào có thể đóng vai quy phạm chung cho khoa Kitô học  được cả. Trái lại, điều mà mọi hình thái Kitô học  có bổn phận phải coi là quy phạm, là nền tảng,  và phải mặc nhiên ra sức giải thích, là điều  này: nếu đã được thực sự cảm nhận qua kinh  nghiệm như là hiện thân hoặc biểu tượng của ơn cứu  độ Thiên Chúa ban , thì thử hỏi Đức Giêsu Nadarét  ấy là ai? Kitô học phải lấy chính kinh nghiệm về ơn  cứu độ làm quy phạm, chứ không phải là dựa theo  một hình thái Kitô học nào đó đã được ráp nối sẵn  trước. Và đó phải là kinh nghiệm của cả  những người kitô sống trong thời Tân Ước lẫn  những người kitô hiện đang sống trong thời đại  ngày nay.[13]

Do đó, hết mọi hình thức trình bày Kitô học đều phải  căn cứ vào cách nhìn nào đó về ơn cứu độ, và  phải coi đó là điều thực sự tiên quyết. Xin nhắc  lại rằng cách nhìn tiên quyết ấy không nhất thiết phải  là một học thuyết về ơn cứu độ đã được khai triển  mạch lạc, với những tiền đề rõ ràng, để từ  đó rút ra nhiều thể loại Kitô học khác nhau. Trái lại, cần  phải nói ngay rằng bất cứ một lối quan niệm nào về  con người Đức Giêsu thì cũng đều tiềm chứa một cách  nhìn ít nhất là mặc nhiên, về ý nghĩa của ơn cứu độ.  Điều đó cho thấy lý do tại sao người ta thường lấy  Cứu độ học làm cơ bản cho Kitô học, và đều nhận  rằng điểm chủ yếu trong Kitô học là ơn cứu độ mà  Kitô học có bổn phận phải nêu cao và làm trung  gian nhằm mang lại.[14]

Bởi vì cách quan niệm về ơn cứu độ đóng một vai trò  quan trọng như thế trong bất cứ thể loại Kitô học nào,  thế nên ở đây, nếu không khai triển rộng ra được, thì  ít nhất cũng cần nêu rõ quan điểm về ơn cứu độ làm  hậu cảnh cho lập trường của bài khảo luận  này. Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, vì theo cách thức  biểu trưng, Ngài là Đấng làm trung gian, làm  cho Thiên Chúa biểu hiện ra trong thế gian một cách "nhìn  thấy được" và "sờ mó được.” [15] Theo chức năng trung gian biểu trưng ấy, Đức Giêsu  là một Đấng mạc khải Thiên Chúa cho con người;  ơn cứu độ là cốt tại ở nơi sự việc mạc khải  về Thiên Chúa. Đức Giêsu cũng là một Đấng mạc khải  những gì làm nên con người; ơn cứu độ là cốt  tại ở nơi sự việc Đức Giêsu đã đứng ra làm một  mẫu mực cho tính chất humanum (nhân tính).  [16] Tuy  nhiên, không nên quan niệm tất cả những gì trình bày  trên đây bằng những phạm trù ngoại giới hoặc bên  ngoài, làm như Đức Giêsu chỉ đơn thuần nói về Thiên  Chúa mà không làm cho Thiên Chúa hiện diện ra trước  mắt con người, hoặc làm như Đức Giêsu chỉ đơn thuần  là một mẫu gương trọn hảo cho cuộc sống con người  chứ không phải là tác nhân có quyền năng ban truyền  sinh lực cải hóa cho môn đồ của mình. Trong hai lối  biểu đạt vừa nói theo hình thức lấy ngôn từ biện  chứng và hữu thể mà miêu tả biểu tượng tôn  giáo, quan niệm về cách thức Đức Giêsu mang lại ơn cứu độ,  hơi giống như ý niệm về "Nhập Thể." Tuy nhiên, còn  cần phải nói rõ về ý nghĩa của sự việc Nhập  Thể. [17]

Tóm lại, những gì phác thảo một cách khái quát trên  đây liên quan đến lối quan niệm về tính chất suy lý trong  Kitô học, có thể được dùng để làm bối cảnh cho  việc khai triển một nền Kitô học Thần Khí. Trong tư thế làm  giả thuyết hậu cảnh cho nền Kitô học Thần Khí, quan  điểm kia sẽ giúp giải đáp cho vô số những câu  hỏi ngay cả trước khi chúng xuất hiện. Và sau đây,  xin bước sang phần nhận định trực tiếp về chủ đề mà  bài viết này muốn bàn tới.

 

 Những Gì Thần Học Có Thể Đóng Góp Cho Kitô Học Thần Khí.

 Tới giai đoạn này, cuộc bàn thảo đã có thể  đề cập một cách trực tiếp hơn đến những cấu tố cần  thiết cho việc xây dựng một nền Kitô học Thần Khí. Cụ thể  hơn, phần tiếp đây của bài viết sẽ bàn đến  biểu tượng dùng trong thần học, tức là bàn đến  Thần Khí của Thiên Chúa, hay là bàn đến Thiên  Chúa như là Thần Khí: đó là biểu tượng sẽ được  dùng đến để giải đáp cho vấn đề Kitô học hiểu theo  nghĩa hẹp. Trước hết, xin miêu tả Thần Khí theo Kinh Thánh  Hipri.

 

 Biểu Tượng "Thần Khí" Trong Thánh Kinh.

 Trong Thánh Kinh, "Thần Khí của Thiên Chúa" là  biểu tượng dùng để chỉ về Thiên Chúa. Thiên Chúa được  hiểu như là Thần Khí, hoặc Thần Khí của Thiên Chúa,  có nghĩa đơn thuần là chính Thiên Chúa, không phải  là gì khác ngoài Thiên Chúa, song là đồng nhất  với Thiên Chúa cả về mặt thực chất lẫn về mặt số  lượng. [18]  "Thiên  Chúa được hiểu như là Thần Khí", là chính Thiên Chúa.  Nhưng Thiên Chúa được hiểu như là Thần Khí, ám chỉ về  Thiên Chúa theo một quan điểm đặc biệt: tức là có ý  chỉ về Thiên Chúa đang hoạt động, như là Đấng chủ  động, và như là quyền lực, sức năng, hoặc sức mạnh  đang hoàn thành một sự việc gì. Như vậy, À Thiên Chúa  được hiểu như là Thần Khí' ám chỉ về Thiên Chúa ở  vào vị thế tựa như là nằm ra ngoài bản thể  nội tại của chính Thiên Chúa. Thiên Chúa như là Thần  Khí là Thiên Chúa hiện diện và hành động tại  ngoại giới của bản thể Thiên Chúa, tức là ở  trong thế giới của công trình Thiên Chúa đã tạo dựng.  Thiên Chúa như là Thần Khí thì giống như gió; không ai  thấy gió, nhưng ai cũng có thể cảm nhận ra được sự  hiện diện của gió; không ai nắm bắt được gió, nhưng ai  cũng có thể thấy rõ được sức mạnh của gió qua  tác động của nó. Cũng vậy, biểu tượng ẩn dụ Thiên  Chúa như là Thần Khí nói lên kinh nghiệm về quyền lực  và sức năng của Thiên Chúa tỏ hiện ra ở trong  công trình tạo dựng, qua nhiều tác động khác nhau. Biểu tượng  theo thể cách ngôn từ hoặc ý niệm, nói lên cách thức  Thiên Chúa hiện diện ở trong thế giới.

Trong tư thế là Thần Khí, Thiên Chúa làm nên những  gì? Những kết quả mà Thần Khí mang lại thì thật  là nhiều. Thật ra, Thần Khí của Thiên Chúa không phải  là một tác nhân riêng biệt trong công trình sáng tạo,  nhưng là chính sức năng sáng tạo của Thiên Chúa. Thiên  Chúa Thần Khí là Đấng ban sự sống; nơi nào có sự  sống, thì cũng đều có Thiên Chúa hiện diện trao ban và  gìn giữ sự sống ấy. Thiên Chúa Thần Khí là Đấng tạo  nên các biến cố phi thường ở trong thế giới. Thiên  Chúa Thần Khí là Đấng truyền cảm hứng thối thúc con người, và vì thế, cũng chính là Đấng tạo nên  các biến cố cứu độ đã được thực hiện qua trung gian các  tác nhân đại diện của Thiên Chúa.

Cần phải nêu bật tính cách ẩn dụ và biểu trưng của  từ "Thần Khí"; và có thể làm nổi bật điểm  này bằng cách so sánh từ này với các biểu tượng  khác được dùng để nói lên sự hiện diện của Thiên  Chúa ở trong thế giới, chẳng hạn như là biểu tượng  chỉ về Thiên Chúa như là Lời, như là Khôn Ngoan,  hoặc là biểu tượng "Bàn Tay Thiên Chúa." Một  đàng, các biểu tượng ấy đều khác nhau, vì đó là những  từ và những phép ẩn dụ khác nhau. Có thể phân  tích để nhận ra một số những nét đặc trưng cá biệt của  từng ẩn dụ, và so sánh để cho thấy những tiểu  dị (nuances) cùng những sắc thái tế nhị khác  nhau mà mỗi một biểu tượng muốn nói lên. Thí dụ,  Lời Thiên Chúa cũng đóng vai tác động ở trong  công trình tạo dựng: Thiên Chúa truyền phán, ra lệnh, hay  thốt lên Lời, và vạn vật hiện hữu. Thiên Chúa  Khôn Ngoan tiềm ẩn trong toàn bộ công trình tạo dựng,  đặc biệt là trong đường ngay nẻo chính của đời  con người. Mỗi một ẩn dụ đều hàm chứa những  khả năng gợi hình có sức vén mở cho thấy một số  khía cạnh trong bản chất của Thiên Chúa. Nhưng một  đàng khác, tất cả các biểu tượng khác nhau này  rốt cuộc rồi cũng chỉ là một, vì chúng đều nhằm vào  cùng một kinh nghiệm đã được phổ quát hóa, tức là  kinh nghiệm về Thiên Chúa ở ngoài bản thể nội  tại của chính Thiên Chúa, và kinh nghiệm về Thiên  Chúa hiện diện cùng hoạt động ở trong thế gian. Sở  dĩ có nhiều biểu tượng khác nhau, thì cũng chỉ là vì  kinh nghiệm làm cứ liệu cơ bản và sơ khởi ấy  mang vô số những đặc nét phong phú. Tính chất giống nhau  kia không phải đơn thuần là hậu quả của một  quá trình trừu tượng hóa hoặc phổ quát hóa một chiều  kích chung gặp thấy trong các kinh nghiệm tôn giáo, bởi  vì, trong Kinh Thánh, có nhiều trường hợp các biểu tượng  cho thấy là có thể đổi lẫn cho nhau được. [19]

Trong Kinh Thánh Hipri, đôi lúc các biểu tượng ẩn dụ này  lại được nhân cách hóa, và việc nhân cách hóa như thế  đã trở thành một yếu tố thật trọng yếu trong  tiến trình khai triển giáo thuyết về Kitô học và Tam Vị  học. Đã đành, nhân cách hóa là một hình thái  tu từ. Ý nghĩa của một hình thức nhân cách hóa,  tức là ý nghĩa mà tác giả muốn truyền đạt, không  phải là nghĩa đen: "Tay Chúa" không có nghĩa  Thiên Chúa thực sự có đôi bàn tay thể chất; hoặc "Lời  Chúa" cũng không có nghĩa đó là một thực thể  khác biệt với chính Thiên Chúa. Khi tính cách ẩn dụ của  việc nhân cách hóa không được tôn trọng, và trở  thành một nhân vật, nghĩa là được quan niệm như là  một đối tượng cá thể, thì khi ấy, sức năng vai trò của  biểu tượng sẽ lâm dần vào tình trạng tiêu ma hẳn  đi. Vai trò của biểu tượng là nêu lên cho thấy  một điều, một thực thể khác biệt với Thiên Chúa, nhưng lại  giữ phận vụ làm trung gian giữa Thiên Chúa và  thế giới loài người. [20] Tính chất siêu việt của Thiên Chúa và sự  việc Ngài hiện diện nơi nội giới dương thế được coi như  là tách biệt khỏi nhau và cạnh tranh với nhau;  là thánh thiện và siêu việt, không thể nào Thiên  Chúa lại xuống ngụp lặn ở trong thế gian; thế nên, Ngài  cần đến một sứ giả, một phái viên, một Lời (nói  lên). Quan niệm như thế là đi ngược lại với chính chủ  đích của biểu tượng: tức là chủ đích đơn thuần  ám chỉ về Thiên Chúa. Để bảo toàn đặc tính nguyên  thủy ấy của biểu tượng "Thần Khí," thường  gặp thấy trong Kinh Thánh, chống lại khuynh hướng chủ thể  hóa một hình thức nhân cách hóa, thì trong bài viết này,  tôi xin dùng thành ngữ "Thiên Chúa (được hiểu)  như là Thần Khí."

Tóm lại: thứ nhất, biểu tượng ẩn dụ "Thiên Chúa như  là Thần Khí" đơn thuần và trực tiếp ám chỉ về  Thiên Chúa. Thứ hai, biểu tượng ấy chỉ về Thiên Chúa như  là đang hiện diện tại trong nội giới của trần thế.  Và bởi Thiên Chúa là ngôi vị, và hiện diện  trong con người, cho nên có thể quan niệm sự hiện diện  ấy của Thiên Chúa như là một sự hiện diện của  chính bản thân Ngài. Thứ ba, Thiên Chúa như là  Thần Khí muốn ám chỉ về Thiên Chúa như là Đấng linh hoạt,  chủ động. Sự hiện diện của chính bản thân Thiên  Chúa cũng có nghĩa là năng lực, hoạt động, sức mạnh,  và sinh khí đang tác động ở trong thế giới và ở  giữa loài người.

 

 Đức Giêsu và Thần Khí.

 Liên quan đến Đức Giêsu và kinh nghiệm Ngài có về Thiên Chúa như là Thần Khí, chúng ta biết được những  gì? Bất chấp mọi khó khăn trong nỗ lực tìm hiểu về Đức  Giêsu, James Dunn nghĩ rằng vẫn có thể xác định được một  số điều tổng quát liên quan đến kinh nghiệm của Đức Giêsu  về Thiên Chúa theo cách thức diễn đạt Thiên Chúa như  là Thần Khí. Dunn đã gia công minh giải rằng nguồn  cội từ đó Đức Giêsu rút ra những xác tín và ý  thức hiểu biết về chính mình, cũng như uy thế Ngài  có và một số các hành động quyền năng Ngài thực  hiện: tất cả đều phát xuất từ kinh nghiệm về Thiên  Chúa như là Thần Khí hiện diện và hành động ở  trong cuộc sống của Ngài. [21]

Qua nhiều đoạn trình thuật, các Phúc Âm Nhất Lãm hình  như cũng phản ánh các khía cạnh ấy trong sự nghiệp  của Đức Giêsu. Chắc hẳn Đức Giêsu là một người  đã từng chữa bệnh và trừ quỷ. Một  vài đoạn còn cho thấy Đức Giêsu hằng ý thức rằng  bất cứ sức năng nào Ngài đã hành sử thì  cũng đều phải được quy lai về với Thiên Chúa như là  Thần Khí đang hoạt động qua con người của Ngài,  và nhiều người khác cũng đã thừa nhận  như vậy. "Quyền năng Ngài sử dụng để trừ quỷ  là chính Thần Khí của Thiên Chúa". [22] Quyền năng đang hoạt động trong thế giới như thế của Thiên Chúa Thần Khí, lại được liên kết chặt  chẽ với ý niệm về "Nước của Thiên Chúa";  và cả ý thức Đức Giêsu có về sứ vụ của mình  cũng được hiểu như là việc được Thần Khí xức dầu  và trao phó quyền năng cho. Phúc Âm Nhất Lãm cũng  đưa đường dẫn lối cho người đọc hiểu được rằng  sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa như là  Thần Khí trong sự nghiệp Đức Giêsu, chính là những  gì làm nên nền móng cho địa vị làm con của Ngài;  cũng như biết nhận ra rằng "ý thức về địa vị làm  con và ý thức Thần Khí là như hai bề mặt của cùng  một thực tại”.  [23]

Qua các đoạn ấy, Dunn đã thử rút ra những nhận  định tổng quát về ý thức của Đức Giêsu. Dunn đã dựa  theo các ý niệm về kinh nghiệm và về ý thức của  Đức Giêsu mà phát biểu ý kiến của mình. Đàng  khác, ai cũng biết rằng tìm hiểu về tâm tư của Đức  Giêsu là chuyện hết sức khó khăn; nhiều lắm thì cũng  chỉ có thể dựa trên cơ sở của những gì được coi  là có giá trị lịch sử ở trong ngôn ngữ mà  văn bản trình thuật dùng đến, để xác định một số  điều cái nhiên (probabilities) mà thôi. Vì thế, những  kết luận của Dunn liên quan đến cách thức Đức Giêsu hiểu  biết về chính Ngài, cũng chỉ là khái quát đại  cương. Ngoài ra, các kết luận ấy cũng chỉ có được  một mức độ hợp lý tiên thiên nào đó mà thôi. Phải  nhận rằng Đức Giêsu đã có một số kinh nghiệm về Thiên  Chúa. Và từ ngữ để chỉ về sự việc Thiên Chúa  được cảm nghiệm qua kinh nghiệm của một đời người,  chính là từ ngữ "Thiên Chúa như là Thần  Khí." Không cần phải xác định về cường độ của  kinh nghiệm ấy, hoặc là về thể loại của sự việc  Thần Khí thông truyền sức năng, hay là về cách thức sự  việc thông truyền ấy thể hiện trong thực tế, thì mới đạt  tới được những kết luận có nền tảng chắc chắn về  mặt lịch sử. Có điều dường như đã được xác định,  đó là: trong đời Ngài, Đức Giêsu đã sống qua  kinh nghiệm về quyền năng của Thiên Chúa như là Thần  Khí; Ngài đã ý thức về sự việc đó theo cách thức  diễn đạt vừa nói; sự việc thông truyền sức năng  ấy đã biểu hiện rõ trong các hành động của  Ngài; các hành động đầy sức năng này đã được  giải thích như là sự việc Thiên Chúa trị vì; và  dân chúng đã nhận ra biến cố ấy suốt trong cả cuộc  đời Ngài sống tại thế.

Vả, Kitô học mặc nhiên theo thể cách ấy thì cũng  chỉ có thế thôi. Bài viết này không chủ yếu nhằm  tới việc căn cứ vào những gì Đức Giêsu hiểu biết  về chính mình, hoặc là vào những gì các người  khác nhận thức về Ngài để mà xác minh về một khoa  Kitô học Thần Khí được coi là đã lớn mạnh ngay từ  lúc Đức Giêsu còn sống nơi dương thế. Trong một phần tiếp  sau đây, bài viết sẽ có dịp để trình bày quan điểm  chủ trương rằng cần phải nhận là kinh nghiệm của  Đức Giêsu về Thần Khí cũng tương tự (theo loại suy) như  kinh nghiệm chúng ta có về Thần Khí. Điều nhằm tới ở  đây, không là gì khác ngoài việc đơn thuần phát hiện  những điểm nòng cốt, và xác định những mắt  xích trong mối dây liên tục nối kết giữa Đức Giêsu và  cách thức khoa Kitô học sau này giải thích về Ngài.  Thiết nghĩ Dunn đã xác định được một nền tảng cho việc  sau này tiếp tục tìm hiểu và giải thích về Đức  Giêsu theo đường hướng nhận thức Thiên Chúa như là  Thần Khí hằng hoạt động trong Ngài. [24]

 

 Đức Giêsu và Thần Khí Trong Các Cộng Đoàn Kitô Sơ Khai

 Biểu tượng "Thần Khí" chỉ về Thiên Chúa hoạt động  trong nội giới của dương trần và loài người,  thì chủ yếu chỉ là một trong các văn bản  Tân Ước cũng như trong Kinh Thánh Hipri. Nhưng tiếp theo  sau các biến cố xảy ra trong cuộc sống cũng như trong  cuộc chết của Đức Giêsu, và trong bối cảnh của  những kinh nghiệm về Đức Giêsu hiện vẫn đang sống  [dù Ngài đã chết], và về sự việc Ngài  hằng ở cùng Thiên Chúa cùng làm Đấng trung  gian của Thiên Chúa nhằm ban ơn cứu độ, thì Thần Khí được  cảm nghiệm theo một cách thức mới, tức là như là  đang được tuôn đổ xuống nơi nguồn phong phú dồi dào của  ơn cứu độ cánh chung, ban qua trung gian Đức Giêsu. Như vậy,  Thiên Chúa như là Thần Khí được giải thích lại theo  một cách thức hoàn toàn mới mẻ. [25] Có thể nói là Thần Khí cứu độ của  Thiên Chúa đã được "thả lỏng" ra, được  "tung ra" để ban phát ơn cứu rỗi một cách dứt khoát  và tột đỉnh, qua cuộc sống, cuộc tử nạn và phục  sinh của Đức Giêsu; Thần Khí ấy cũng đã được cảm  nghiệm một cách sinh động và sâu đậm qua kinh nghiệm sống  nơi các cộng đoàn thuộc phong trào Giêsu của những  người sau này sẽ được gọi là kitô hữu.  Thần Khí được cảm nghiệm; Thần Khí là ân sủng;  Thần Khí là ơn cứu độ. Thành quả mà Thần Khí  mang lại cho cộng đoàn và cho đời sống cá nhân  của các phần tử trong cọng đoàn, thì có thể nêu  đích danh ra được; đó là: lòng tin, tình yêu thương,  ơn tha thứ, ơn cứu độ, ơn công chính hóa, ơn thánh hóa, ơn  được làm nghĩa tử của Thiên Chúa, ơn hòa giải,  tình trạng được giải phóng khỏi tội lỗi, ơn soi  sáng, niềm tự do, ơn sức mạnh, và các đoàn sủng  nhằm tới việc phục vụ cộng đoàn.

Làm thế nào để có thể nêu bật những đặc nét  của khoa Kitô học Thần Khí được phản ánh qua các văn  bản của Tân Ước? Cả cho vấn đề này nữa,  James Dunn cũng đề xuất một bản phác thảo đại  cương.[26] . Khoa Kitô học Thần Khí ấy phải  được coi như là đã phát triển qua hai giai đoạn, và  như thế, gồm có hai chiều kích khác nhau. Giai đoạn một đã  được bàn tới ở trên kia, tức là: giai đoạn Kitô  học Thần Khí nhận ra ngay giữa cuộc sống của Ngài,  Đức Giêsu là con người trong đó Thiên Chúa hằng hoạt  động như là Thần Khí. Giai đoạn hay chiều kích kế đó là  giai đoạn Kitô học Thần Khí chuyên chú nhìn về Đức Giêsu  phục sinh, Đức Giêsu hằng sống với Thiên Chúa, và được  gọi là Đấng Kitô. Trong giai đoạn này, thấy có hiện  tượng đồng nhất hóa, hoặc là phối hợp giữa Đức Giêsu  phục sinh với Thần Khí. Có thể quan niệm về sự kiện này  theo hai quan điểm khác nhau. Một đàng, có thể nói rằng  Đức Kitô là Thần Khí. Có khi, đặc biệt là trong các  văn bản của Phaolô, Đức Giêsu phục sinh và Thần  Khí xem như được đồng nhất hóa thành một; Đức Kitô được  nói đến như chính Ngài là Thần Khí vậy. Với sự việc  sống lại, theo chức năng, Đức Giêsu trở thành như  là Thần Khí của Thiên Chúa, Thần Khí ban sự sống.  Đàng khác, Thần Khí là chính Đức Giêsu phục sinh; tức  là muốn nói rằng Đức Giêsu làm cho nhận biết ra được  Thần Khí, vì chính Thiên Chúa như là Thần Khí đã hoạt  động trong Đức Giêsu. Có qua Đức Giêsu, tức là có nhờ  Đức Giêsu làm trung gian, thì mới nhận biết được Thần  Khí thật sự của Thiên Chúa.

Tất cả các trường hợp vừa nói đều cho thấy là  Đức Giêsu và Thần Khí được đặt sát cánh nhau. Trước tiên,  Thiên Chúa như là Thần Khí hoạt động trong cuộc đời  của Đức Giêsu và, tiếp đó, một khi Đức Giêsu đã  phục sinh, mối liên kết sát cánh đã dần dần chuyển đổi  thành thực trạng đồng nhất hóa. Thiên Chúa như là  Thần Khí đã hoạt động trong Đức Giêsu cho đến độ sau khi  đã chết và một khi được cảm nghiệm là đang  sống cũng như ở với Thiên Chúa, Đức Giêsu vẫn  còn được mật thiết gắn chặt với kinh nghiệm mà cọng  đoàn sơ khai có về Thiên Chúa như là Thần Khí. Đức Giêsu làm cho nhận biết và xác định rõ được những  gì thuộc về Thần Khí. Điều này tương ứng với học thuyết  cho rằng mọi kinh nghiệm về Thiên Chúa đều cần phải nhờ  tới một trung gian lịch sử thì mới mang được một ý nghĩa  cụ thể.

Đây là lúc cần phải kiểm điểm lại xem đã hội  đủ các dữ liệu cần thiết hay chưa, trước khi bắt đầu  nghĩ đến chuyện xây dựng một nền Kitô học Thần Khí có đủ  lông đủ cánh. Phải nhận rằng đó là câu hỏi  bộc phát từ tính cách đa dạng tận gốc rễ của  các hình thái Kitô học trong Tân Ước. Cần phải nghiên  cứu về các danh tước của Đức Giêsu, hay là về các  công thức tuyên tín đối với Ngài, hay là về các ý  kiến liên quan đến những gì Ngài đã thực hiện  nhằm mang lại ơn cứu độ cho chúng ta, hay là về những  mô biểu cơ bản làm tiêu chí để căn cứ theo đó mà  tìm hiểu và giải thích bản chất con người của  Ngài, hoặc là về các biểu tượng được dùng để  nói lên sự việc Thiên Chúa hiện diện và hành động  ở trong Ngài? Tất cả những hình thức đặt vấn  đề theo lối đóng khung như thế đều dẫn tới chỗ làm  phát sinh ra nhiều quan điểm rất khác biệt nhau, và có  khi còn tương phản xung khắc với nhau nữa. Cần phải  khởi công với điều tâm niệm này là "kể từ  sau biến cố Phục Sinh, không gặp thấy được một trường  hợp độc nhất thấu hiểu hoặc là giới thiệu nào cho  thực sự có mạch lạc về Đức Kitô cả.” [27] Căn cứ vào tính chất đa dạng ấy,  Dunn phê bình lối trình bày Kitô học Thần Khí của Lampe  cho là có tính cách quá giản lược, méo mó, không  biết chú ý đến giai đoạn thứ hai nơi tiến trình diễn biến  của Kitô học Thần Khí trong Tân Ước, và cũng chẳng  biết nhận ra rằng có để tâm nghiên cứu hết thảy các  hình thái Kitô học gặp thấy ở trong Tân Ước, thì mới  mong thấu hiểu về Đức Giêsu một cách trung thực hơn được. [28] .

Để ứng đáp lời phê bình trên đây, thì có thể nhắc lại  điều này là tác vụ của thần học hệ thống không  phải là trần thuật y nguyên lại Tân Ước, song là  giải thích, và giải thích bằng một thứ ngôn ngữ  thế nào để cho thế giới hôm nay có thể hiểu được. Hơn  nữa, vì có hệ thống, nên tác vụ kia phải tôn trọng  nguyên tắc về tính chất mạch lạc nội tại; tức là không  được đưa vào trong cùng một tổng thể những ý niệm  tương phản nhau. Nói một cách tích cực hơn, Kitô học Thần  Khí phải tìm cách để trình bày một phương thức giải  thích có mạch lạc về Đức Giêsu, tương tự như cách thức của  Kitô học Ngôi Lời, là hình thái Kitô học đã đóng  vai lãnh đạo chủ yếu đối với ý thức kitô giáo kể  từ thế kỷ thứ hai trở về sau. Nhưng, khác với  thái độ khai trừ trong Kitô học Ngôi Lời, tức là  thái độ cố xô đẩy các hình thái Kitô học khác vào bóng  tối lãng quên, Kitô học Thần Khí có thể được mô tả  như là một thứ lập trường cơ bản làm nền tảng  cho việc nhận định, giải thích và tiếp nhận các hình  thái Kitô học khác gặp thấy trong Tân Ước. Và cũng  cần đả thông về điểm này là Kitô học Thần Khí  tiến hành theo phương cách bao gồm (inclusive) chứ  không phải là loại trừ (exclusive). Sự kiện  Thiên Chúa như là Thần Khí hằng hoạt động ở trong  cuộc đời của Đức Giêsu, có thể được dùng làm  nền tảng cho nhiều cách giải thích khác nhau về Ngài,  vì sự kiện ấy cắt nghĩa cho thấy vì lý do nào Đức Giêsu  là Khôn Ngoan của Thiên Chúa, là Khôn Ngoan đã  từng nói nên lời và đã làm hiện thân  của chính Lời Thiên Chúa nữa.

Ngoài tính chất lịch sử của kinh nghiệm về Thần  Khí của Thiên Chúa hoạt động trong Đức Giêsu, còn  có một lý do khác, cũng được rút tỉa ra từ Tân Ước,  giúp củng cố cho lập trường coi trọng giá trị của  Kitô học Thần Khí. Một cách quả quyết hơn nữa, biểu  tượng "Thần Khí" hàm ngụ lời xác định này  là Thiên Chúa, chính bản thân Thiên Chúa, đã hoạt  động trong và qua con người Đức Giêsu ấy. Đó là  điều nêu rõ cho thấy rằng biểu tượng "Thần Khí"  thật sự khác hẳn với các biểu tượng "Lời" và  "Khôn Ngoan" của Thiên Chúa: hai biểu tượng này,  một khi đã trở thành những hình thức nhân cách  hóa, rồi ngôi vị hóa, thì nghiên chiều theo khuynh hướng chỉ  về một nhân vật hoặc sự vật khác với Thiên Chúa, đã  nhập thể trong con người Đức Giêsu, và cho dù có  thấp kém thua, thì cũng vẫn được gọi là thần thiêng  hay là thuộc về Thiên Chúa. Trái lại, biểu tượng "Thiên  Chúa như là Thần Khí" không phải là một hình  thức nhân cách hóa Thiên Chúa, mà là một cách thức  trực tiếp chỉ về Ngài; như vậy, biểu tượng "Thần Khí"  cho thấy rõ ngay là không một gì khác ngoài và  kém thua Thiên Chúa, đã từng hoạt động trong con người  Đức Giêsu. [29]

 

 Kinh Nghiệm Ngày Nay về Thiên Chúa Như Là Thần Khí.

 Và bây giờ, cần phải trình bày cho thấy tại  sao biểu tượng "Thiên Chúa như là Thần Khí" lại  mang được nhiều ý nghĩa thiết thực đối với con người ngày  nay. Đó là điểm chủ yếu vì một số lý do. Nếu ngày  nay, không có được một kinh nghiệm nào đó về Thiên Chúa  như là Thần Khí, thì biểu tượng ấy tất cũng chẳng  mang lại được một ý nghĩa nào. Cần phải dựa vào  một trường hợp kiểu mẫu tiêu biểu, tương tự như kinh  nghiệm riêng của mỗi cá nhân, thì mới hiểu được hành  động của Thiên Chúa trong Đức Giêsu. Nói cách khác, cần  phải dùng ngôn ngữ của kinh nghiệm thông thường  giữa loài người làm phương thế thì mới truyền  đạt được ý nghĩa của giáo thuyết cổ truyền. [30] Đồng thời, cũng cần phải hiểu rõ  phần nào và đánh giá cho đúng tính chất nghịch biện (paradoxical) của kinh nghiệm ấy, thì mới giải  tỏa được cho tình trạng căng thẳng biện chứng trong giáo  lý công đồng Canxêđôn.

Liên quan đến nhận định thứ nhất vừa nói trên đây, cần  nêu bật điểm này là giữa ngôn từ về Thiên  Chúa như là Thần Khí dùng trong Tân Ước và thần  học về ân sủng của Karl Rahner có một sự trùng  hợp rất đáng chú ý.[31] Ân sủng là chính bản thân của  Thiên Chúa hiện diện ra với những cá nhân thụ tạo ở  ngoài bản ngã của chính Ngài. Ân sủng  là Thiên Chúa tự thông ban chính bản thân mình cho  con người, là món quà trao tặng chính mình với sự  hiện diện cũng như với tác động tiềm tàng của  mình ở trong thần trí hay là ở trong tự do của  con người, tức là ở trong mỗi một người.  Ân sủng ấy, hoặc Thiên Chúa như là Thần Khí, có  thể cảm nghiệm ra được, và thực sự đã được cảm  nhận ra một cách thông thường ở trong thế giới này.  Nhưng, cần phải hiểu điều ấy một cách biện chứng; bởi  vì có qua trung gian thì mới thủ đắc được kinh nghiệm đó;  chứ không thể có được nó một cách trực tiếp, hay là  nhận rõ ra nó bằng cách phân biệt nó với những dao  động tự nhiên khác trong thần trí con người. Bắt đầu với  lời khẳng định điển hình của Phaolô, [32] toàn bộ tiến  trình lịch sử của thần học về ân sủng đã cho  thấy rõ về mối căng thẳng nghịch biện ấy giữa Thiên  Chúa như là Thần Khí và tự do con người; và  đó cũng là điều mà những ý niệm về ân sủng  đồng tác (cooperative grace) nêu bật rõ ràng.[33] D.M. Baillie đã nêu rõ lý  do tại sao điều đó có ảnh hưởng đối với vấn đề nhân  tính và thiên tính của Đức Giêsu.[34] Điều nghịch biện là ở chỗ: hễ càng thuộc  về Thiên Chúa và càng được quyền năng Thiên Chúa  nâng đỡ, thì con người càng trở thành chính  mình hơn, càng nên người, càng tự trị và càng  tự chủ hơn.

Tóm lại, không một giai đoạn nào trong tiến trình phát  triển của truyền thống kitô lại không mang theo những  cứ liệu thần học mà việc xây dựng một nền Kitô học  Thần Khí ngày nay đang cần đến: trong giai đoạn tiền sử  truyền thống Kitô giáo, thì có những gì phản ánh qua  Kinh Thánh Do Thái; trong thời Tân Ước, thì có chân dung  Đức Giêsu và khoa thần học về tác động cứu độ của  Đức Giêsu phục sinh; và trong truyền thống về Thần Khí  học, thì có ảnh hưởng kéo dài cho đến ngày  nay của khoa này đối với thần học về ân sủng.

 

 Những Đểm Mấu Chốt Trong Công Tác Giải Thích

 Và đây là lúc tra tay vào điểm mấu chốt của  vấn đề: tức là dùng ngôn từ của Kitô học  Thần Khí mà giải thích về Đức Giêsu. Để làm như  vậy, thì cần phải giải quyết bảy vấn đề được  coi như là then chốt trong công tác giải thích, hay là  tái giải thích, bởi vì, lúc nào cũng sẽ  phải đối chiếu, ít là một cách mặc nhiên, với Kitô  học Ngôi Lời. Xin được lưu ý lại rằng bài viết này  không chủ yếu nhằm trình bày về công tác đối chiếu  ấy, cho dù đôi lúc có mặc nhiên ám chỉ đến. Khuôn khổ  bài viết cũng không cho phép bàn thảo dài  rộng về các vấn đề đó, đúng như tầm quan trọng của chúng  đòi hỏi. Bài viết này chỉ đơn thuần làm  công tác thu thập những luận chứng cần cho việc hình thành  một nền Kitô học Thần Khí, và lấy tinh thần xây dựng  mà minh họa cho thấy là việc làm ấy cũng như  những thành quả thu lượm được thì đều là chính  thống cùng phù hợp với các quy tắc của thần học.

 

 Thiên Tính Đức Giêsu

 Công đồng Nixêa, nhóm họp năm 325, đã phán quyết dứt  khoát về vấn đề thiên tính Đức Giêsu. Còn vấn đề đặt  ra ở đây là tìm xem Kitô học Thần Khí có đi đúng với  giáo lý công đồng Nixêa hay không. Công đồng Nixêa và  sắc lệnh về Kitô học chỉ có tính cách chủ yếu tiêu cực:  đối phương chính là học thuyết của linh mục Arius; và  các khoản trong sắc lệnh tuyên tín của công đồng chính  xác nêu rõ đích danh các điểm nghi vấn của vấn đề,  và chung quy cũng chỉ là nêu rõ lập trường  phủ định tà thuyết của Arius. Arius cho rằng Đấng  đã nhập thể trong Đức Giêsu -- tức là Lógos   (Lời Thiên Chúa) -- thì nói cho đúng ra, kém thua hẳn  Thiên Chúa. Bằng nhiều thành ngữ khác nhau, bản  tuyên tín của Nixêa xác quyết rằng   Lógos (Lời)  không kém thua gì Thiên Chúa. Những gì sau này thánh  Atana-siô nêu lên nhằm biện hộ cho bản tuyên tín ấy,  cho thấy rằng trọng tâm của toàn bộ vấn đề tranh  luận là ở chỗ cần phải biết dựa theo khuôn  khổ tiêu cực kia mà tìm hiểu, thì mới lĩnh hội đầy đủ  được ý nghĩa tích cực hàm ngụ trong công thức ”đồng  bản tính, hay là đồng bản chất với Thiên Chúa ”.

Muốn xây dựng một nền Kitô học Thần Khí, thì thiết yếu cũng  còn cần phải chứng giải rằng công đồng Nixêa  không nhất thiết buộc phải chuẩn nhận biểu tượng Lógos (Lời). Dĩ nhiên là thế, vì cả Arius lẫn phía  Alêxanđria đều đã dùng chung cùng một biểu tượng  ấy. Họ không tranh luận về điểm này, vì cả hai phía  đều đồng ý là "Lời" đã nhập thể; thật  ra, đối tượng trực tiếp của vấn đề bàn cãi không  phải là Đức Giêsu, nhưng là chính "Lời"  ấy. Chủ đề tranh luận là "học thuyết phụ thuộc"  (subordinationism : cho rằng Ngôi Con là thuộc hạ của  Ngôi Cha, Đức Giêsu kém thua Thiên Chúa) đã vãng lai  từ lâu trong các môi trường kitô, ngay cả trong  Tân Ước nữa, nhưng chỉ lúc ấy mới bắt đầu được xử  trí một cách dứt khoát và phổ quát như thế. Và đằng  sau chủ đề ấy, còn tiềm ẩn một quan niệm về ơn cứu  độ được thực hiện trong và do Đức Giêsu: về điểm này,  họ cũng không đồng ý với nhau. Vì thế, giáo lý đích xác  của Nixêa không phải là một lập trường khẳng  định về chính Ngôi Lời, nhưng là về những gì đã  xảy ra trong sự việc Nhập Thể. Do đó, giáo lý của  Nixêa có thể được tóm lược như thế này: Đấng đã  hiện diện và hoạt động trong Đức Giêsu, thì không kém  thua gì Thiên Chúa.

Qua những gì đã được trình bày trên đây về biểu  tượng "Thiên Chúa như là Thần Khí," thiết tưởng  không ai lại không nhận rõ ra là trên nguyên tắc,  giáo lý kia cũng có thể được diễn đạt một cách chính  xác bằng biểu tượng ấy. Tôi nói "trên nguyên tắc,"  bởi vì trong thực tế, biểu tượng "Thần Khí" còn  cần phải được quan niệm thế nào cho thích đáng để  có thể diễn đạt giáo lý kia một cách rõ ràng  hơn và sinh động hơn là biểu tượng Lógos (Lời).  Thật ra, vì đã trở thành một hình thức nhân cách  hóa, rồi ngôi vị hóa, nên biểu tượng Lógos đã  được đại đa số hiểu như là kém thua Thiên Chúa hoặc Thiên  Chúa Cha. Như đã trình bày trên kia, chính biểu tượng   Lógos đã gây ra vấn đề làm cho Nixêa phải  một phen gia công giải quyết những xung khắc khó khăn.  Nhưng, trên nguyên tắc, không một điều nào đã được  giáo lý của Nixêa khẳng định, mà lại không thể khẳng  định được theo cách dùng ngôn từ "Thiên Chúa như  là Thần Khí." "Thiên Chúa như là Thần Khí"  là Thiên Chúa, và vì thế, không kém thua gì Thiên  Chúa cả.

Với cách dùng ngôn từ "Thiên Chúa như là Thần  Khí", thiên tính của Đức Giêsu có được xác nhận đầy  đủ như đã được xác nhận trong giáo lý công đồng Canxêđôn  với công thức "một ngôi vị và hai bản tính",  hay không? -- Có, tuy nhiên, trong một mức độ nào đó,  cần phải thay đổi hình thức diễn đạt theo lề lối thần  học thời trước, đã từng được dùng để trình  bày công thức giáo lý của công đồng. Thí dụ, với  ý thức của con người thời nay về lịch sử và  với cách đặt vấn đề về Kitô học như đang thấy, dĩ nhiên  Đức Giêsu sẽ được nhận thật là một con người.  Vì thế, có tránh cho khỏi được lối quan niệm về hai bản  tính ấy theo một cách tĩnh và trừu tượng, thì mới có  thể nói được rằng Đức Giêsu là một nhân vị với một  bản tính trọn vẹn của loài người, và trong  Ngài, Đấng không thua kém gì Thiên Chúa, tức là một  thiên tính, hằng đang hoạt động.[35] Trái lại, cách nói  về Đức Giêsu dựa theo sự việc hai bản tính "chuyển  thông đặc tính” (communicatio idiomatum) cho ngôi vị duy  nhất [nơi Đức Giêsu], thì không ứng dụng được đối với Kitô  học Thần Khí. Cách nói ấy quá trừu tượng, không biết  lưu ý đến con người cụ thể sống ở giữa dòng  lịch sử và, rốt cuộc, rồi cũng chỉ đi đến chỗ  đề xuất những định thức phi biện chứng mà thôi. Việc  chuyển thông đặc tính phá vỡ mất đi cơ cấu có tính cách  năng động và biện chứng của Kitô học. Chẳng hạn,  không thể nói một cách phi biện chứng rằng Đức Giêsu là  Thiên Chúa, cũng như không thể nói Ngài chỉ đơn thuần  là một con người, bởi vì giáo lý dạy rằng Đức  Giêsu là cả hai: là người thật, và là  Thiên Chúa thật.

Khi dựa theo một khoa Kitô học Thần Khí năng động mà xác  nhận về thiên tính của Đức Giêsu, thì thiên tính ấy, như  Lampe nói, được xác nhận "theo thể cách phó từ" (”adverbially”).[36] Điều này có nghĩa là chính Thiên  Chúa, chứ không ai ngoài khác kém thua Thiên Chúa, đã  thật sự hiện diện ra với Đức Giêsu cùng hoạt động trong  Ngài đến độ Đức Giêsu là chính thực thể Thiên Chúa  hiện thân ở trong xác phàm. Đường lối giải  thích chuyển di từ một quan niệm hữu thể học có tính  cách tĩnh và trừu tượng về Thiên Chúa, nhìn Ngài  qua lăng kính thiên tính, đến cách thức quan niệm về Thiên  Chúa như là hoạt động đầy năng động và có bản  thể ngôi vị, và Ngài đích thân hiện diện như là  Thần Khí. Do dự, Newman chỉ lưỡng lự dùng thuộc ngữ  "thần thiêng" (divine) mà chỉ về Đức Giêsu,  vì sợ phương hại đến nhân tính của Ngài: "Cần phải  xác định cho rõ ngay rằng sự việc Thần Khí hiện diện trong  Đức Giêsu, đã không làm cho chính Đức Giêsu trở  thành thần thiêng.” [37] Rồi tiếp đó, Newman đã trình bày  cách hiểu về sự việc Thiên Chúa hiện diện trong Đức Giêsu  theo thể cách hiện diện chức năng, chứ không phải là  bằng một sự hiện diện hữu thể. Dù có cảm phục  và đồng ý với quan điểm của Newman, chúng tôi cũng  vẫn cảm thấy cần phải nhận định thêm rằng ngôn  từ ông dùng để biểu đạt tư tưởng của mình,  chưa được hoàn chỉnh và tinh vi cho đủ. Phương thức  phân biệt giữa hai thể cách Thiên Chúa hiện diện trong  Đức Giêsu: hiện diện hữu thể và hiện diện chức năng,  cho thấy là không thể phù hợp được với thực tế.  Nhưng mặt khác, hữu thể học về biểu tượng như được trình  bày trên đây, lại cho phép dùng một thứ ngôn ngữ  biện chứng thật sự, khả dĩ bảo toàn được cốt  lõi của cả luận chứng Newman lẫn giáo lý mà  công đồng Canxêđôn đã dùng một thể cách đượm đầy  tính chất biện chứng thật sự mà biểu đạt. Đó là bước chuyển tiếp để bước sang phần tìm hiểu về ý nghĩa của  Nhập Thể trong Kitô học Thần Khí.

 

 Nhập Thể

 Và đây là một vấn đề gai góc khác mà công tác  giải thích có bổn phận phải xử lý; đó là  vấn đề liên quan đến việc khảo sát xem ngôn ngữ của  luận thuyết "Thiên Chúa như là Thần Khí" dùng  có tương hợp với ngôn ngữ dùng để giải nghĩa về  mầu nhiệm Nhập Thể hay không. Dĩ nhiên, điều đó còn tùy  vào cách hiểu về ý nghĩa của Nhập Thể. Và bởi  vì ngày nay, ý thức lịch sử đã giúp cho thấy rõ  ràng rằng Đức Giêsu thật là một con người chủ  yếu giống với chúng ta trong mọi sự, nên nhiều khía cạnh  liên quan đến ý nghĩa của Nhập Thể cũng có thể được  giải thích cho rõ ràng hơn. Thí dụ, một trong những  khía cạnh đó là: không thể nào nghĩ đến một cuộc  tiền hiện hữu (preexistence) thực sự của Đức  Giêsu. Thời trước, dĩ nhiên việc nhận biết Đức Giêsu  là Đấng mang lại ơn cứu độ của Thiên Chúa cho con  người, không thể nào mà không làm cho nghĩ  về một cuộc tiền hiện hữu.  [38] Nhưng, không thể nghĩ về một Đức Giêsu tiền hiện  hữu được; vì Đấng tiền hiện hữu trước Đức Giêsu chính  là Thiên Chúa, Thiên Chúa đã nhập thể trong Đức Giêsu.  Giáo lý nêu bật một điểm hiển nhiên này là Đức  Giêsu thật sự là một tạo vật như chúng ta, và một  tạo vật thì không thể hiện hữu trước công trình tạo dựng được. Ai muốn thì cứ việc suy đoán dài rộng về cách thức  Đức Giêsu đã có thể có mặt trong ý định muôn thuở  của Thiên Chúa, v.v., nhưng, nghĩ rằng Đức Giêsu đã  thật sự hiện hữu trước khi sinh ra trên mặt đất này,  là hoàn toàn mâu thuẫn với sự việc Đức Giêsu  là đồng bản tính với chúng ta, trừ phi cả chúng  ta nữa, chúng ta cũng đã hiện hữu trong một  cuộc tiền hiện hữu như thế!

Vì khởi điểm của Kitô học là Đức Giêsu, nên mầu  nhiệm Nhập Thể cần phải được giải thích làm sao  để tránh phương hại đến nhân tính của Đức Giêsu. Đó là  điều mà nhiều lần Kitô học Ngôi Lời đã không  tránh được, và đó là điều mà Kitô học Thần Khí  đang ra sức tránh cho khỏi. Ý niệm "Thiên Chúa  như là Thần Khí" đang hoạt động trong Đức Giêsu, gợi  ý cho nghĩ về ít nhất là hành động "linh ứng,"  và nhiều nhất là tình trạng "thần nhập." Nhưng,  chắc hẳn là có thể và cần phải tránh cả  hai lối biểu đạt cực đoan này. Đức Giêsu đã được  Thần Khí của Thiên Chúa "quyền lực hóa" (empowered);  Thần Khí Thiên Chúa là chính Thiên Chúa hiện diện; và  như thế, là hiện diện, là quyền năng, là sức  mạnh, là động lực, Thần Khí tác động hữu hiệu vô  song; do vậy, Đức Giêsu thật là hiện thân của Thiên  Chúa như là Thần Khí. Tuy nhiên, đó không phải là  một quyền năng vô ngã chỉ biết chiếm đoạt và kiểm  soát, nhưng là chính Thiên Chúa tác động trong tự do của  con người, không phải từ bên ngoài và để  thống trị, cũng như không phải từ bên trong và  để chiếm đoạt, song là bằng cách làm cho tự do hiện  thực hóa trọn vẹn được các khả năng cố hữu của  mình. Những cách diễn đạt như thế có sức năng động  hơn là lối nói về một Lógos đã được ngôi vị  hóa và đã nhập thể. Biểu tượng "Thiên Chúa như  là Thần Khí" có khả năng để biểu đạt cách thích  đáng hơn một hình thái Nhập Thể không chối bỏ hoặc tước  đoạt mất nhân tính của Đức Giêsu; Thần Khí đề cao tự  do của Đức Giêsu, chứ không dẫm chân hành động  thay thế. [39] .

Thường thường, sự hiện diện của Thiên Chúa như  là Thần Khí trong Đức Giêsu được đối sánh với điều mà  Kitô học Ngôi Lời biểu đạt như là so sánh   linh  ứng với việc Nhập Thể thực sự. Nhưng, vấn đề không phải  là ở đó; vì thật ra, chẳng có lý do tất yếu nào  đòi hai quan niệm ấy nhất thiết phải tương kị nhau.  Chắc hẳn, Thiên Chúa như là Thần Khí, cũng tác động  để thông ban linh ứng, nhưng như vừa thấy trên đây, tác  động ấy đã được biểu đạt bằng những ngôn từ  quyết liệt hơn. Đàng khác, không có lý do nào cấm  chúng ta quan niệm về việc Thiên Chúa tự thông ban chính mình  cho Đức Giêsu, cùng hiện diện và hoạt động trong Người,  như là một cuộc Nhập Thể hữu thể, miễn sao Nhập  Thể đừng bị hiểu theo nghĩa chối bỏ nhân tính của  Đức Giêsu.[40] Cũng chẳng cần  phải quan niệm cuộc Nhập Thể của Thiên Chúa như là  Thần Khí theo cách hiểu của dưỡng tử thuyết, cho  dù có thể phỏng đoán là trong Tân Ước có những  dấu vết cho phép suy diễn ra cách hiểu như thế kia. Tuy  nhiên, vẫn có thể quan niệm ngược với chủ trương của  dưỡng tử thuyết và nói rằng Thiên Chúa như là  Thần Khí hiện diện trong Đức Giêsu ngay từ giây phút mới  được thụ thai. [41] Được hiểu như thế, thì công  cuộc Nhập Thể mới gồm hàm trọn hết cả ý nghĩa mà  nguồn năng động của các Phúc Âm Nhất Lãm muốn  nói lên qua mầu nhiệm ấy, chứ không phải chỉ được hiểu  qua lăng kính của một khuôn mẫu tư biện, tức là  lý thuyết, do trí óc nắn ra.

 

 Đức Giêsu và Ơn Cứu Độ

 Kitô học Thần Khí là một nền Kitô học có khả năng  chứng giải ý niệm Nhập Thể và đồng thời bảo  toàn được nhân tính đích thực của Đức Giêsu. Nếu tìm  hiểu cho kỹ về ý niệm cứu độ, thì sẽ thấy rằng cần  phải lưu tâm nêu bật và đưa nhân tính Đức Giêsu lên  hàng đầu. Tuy nhiên, cũng cần phải ghi nhận rằng  ở đây luận chứng diễn biến theo lối vòng tròn,  vì ý niệm về cứu độ chưa được bàn luận tới, mà chỉ  mới được xác định như là một tiền đề của bài  viết này mà thôi. [42]

Căn cứ vào các ý niệm khác nhau về cứu độ đọc thấy  ở trong Tân Ước và trong nền thần học Kitô giáo thời  sơ khai, chúng tôi đã nhận định là một học thuyết  dựa theo quan điểm coi việc cứu độ như là một công trình  mạc khải và làm mẫu mực, là lập trường  ứng đáp hay nhất cho ý thức lịch sử ngày nay, cũng  như cho đường hướng quan niệm việc Thiên Chúa cứu độ đã  thực sự khởi công ngay từ buổi đầu của lịch sử  loài người. Đứng trên bình diện lịch sử mà  nói, thì công cuộc cứu độ đã không bắt đầu với Đức  Giêsu. Đức Giêsu cứu rỗi qua sự việc Ngài làm  Đấng mạc khải Thiên Chúa và ơn cứu độ của Thiên  Chúa, ơn cứu độ mà Thiên Chúa như là Thần Khí đã  thực hiện nên ngay từ đầu, cũng như qua sự việc Ngài  vén mở cho thấy phải như thế nào mới gọi là  đời sống con người, và làm gương sống tràn  đầy sức năng cho các môn đồ của mình. Như thế, Đức Giêsu  cứu rỗi không những vì làm trung gian của Thiên  Chúa như là Thần Khí, và nhờ đó mà quyền năng  hóa đời người đã được cứu rỗi mà thôi,  nhưng còn là vì -- xét từ phía người kitô  -- người ta noi theo Ngài. Tuy nhiên, có mang thân  phận làm người, thì con người mới có thể noi theo  Đức Giêsu . Cốt tủy của ơn cứu độ Kitô giáo là  ở chỗ biết noi theo mẫu gương Đức Kitô; mà  việc noi gương bắt chước này đòi phải tập trung  chú ý vào thân phận Đức Giêsu làm người giống  hệt như chúng ta, bởi vì con người sẽ không thể  theo gót Đức Giêsu được, nếu Đức Giêsu chỉ đơn thuần và  nhất thiết là thần thiêng mà thôi. Như vậy, trong  tư thế là Adong mới, là trưởng tử giữa  nhiều anh chị em, và là người tiên phong mở  lối ơn cứu độ cho chúng ta, Đức Giêsu bước đi trước chúng  ta theo cương vị là một con người. Bảo toàn nguyên  vẹn nhân tính của Đức Giêsu là Kitô học Thần Khí  đảm bảo cho ơn cứu độ giữ được chiều kích liên  hệ nối kết mình lại với đời sống tu đức của người  kitô, hay là với linh đạo kitô. Ơn cứu độ được vén  mở cho thấy trong biến cố Phục Sinh, là sự sống vĩnh  cửu mai ngày, nhưng lại bắt đầu và có hiệu lực  ngay tại trong thế giới này. Ơn cứu độ kết cục trong  ngày sống lại cánh chung là tột đỉnh của đời  một con người biết sống theo sát mẫu gương Đức Giêsu.[43] 

 

 Đức Giêsu Với Các Người Khác: Khác Biệt Về Phẩm?

 Một khi nhân tính Đức Kitô đã được bảo toàn nhờ  một cách quan niệm năng động hơn về mầu nhiệm Nhập Thể và  về công trình cứu độ, thì đây là lúc cần phải nghiên  cứu tới bề mặt bên kia của vấn đề: Xét về phẩm, Đức  Giêsu có khác biệt với các người khác trong nhân loại  hay không? Kitô học Ngôi Lời về Nhập Thể đã minh  nhiên bảo toàn tính chất độc nhất của Đức Giêsu,  nghĩa là khẳng định rằng Đức Giêsu khác biệt về mặt phẩm  chất, so với các người khác.[44] Còn theo Kitô học Thần Khí, thì  phải nói sao đây?

Trong Kitô học Thần Khí, có thể và cần phải duy trì  tính chất độc nhất của Đức Giêsu bằng cách nhìn nhận  Ngài chính là hình thái tỏ hiện có tính cách quy  phạm của những gì làm cho hiểu biết được về Thiên  Chúa, và là mẫu mực làm tiêu chí cho đời  sống con người khuôn rập theo. Tuy nhiên, một hình thái  Kitô học Thần Khí có chủ trương mối kết hợp giữa  Thiên Chúa với Đức Giêsu, và mối kết hợp giữa Thiên  Chúa với các người khác, khác biệt nhau về mặt phẩm  chất hay không, là tùy vào cách hiểu về ý nghĩa  của từ ngữ "khác biệt về phẩm". Xét theo  lẽ thường thì những thí dụ sáng tỏ nhất của  tính chất khác biệt về phẩm chất, là các trường hợp  khác biệt giữa các loại hữu thể khác nhau; chẳng  hạn như giữa các vật thể hữu cơ và vô cơ, hay  là giữa thực vật, động vật và loài người.  Nếu đó đúng là những trường hợp minh họa về sự  khác biệt về phẩm, thì thử hỏi có thể áp dụng mức  độ khác biệt ấy cho trường hợp khác biệt giữa Đức  Giêsu với các người khác trong loài người hay không?  Vì từ ngữ "phẩm chất" đây có nghĩa là "bản  chất" hoặc là "bản thể," và một sự  khác biệt như thế xem ra tương phản với giáo lý dạy rằng  Đức Giêsu là đồng bản tính với các người khác  ở trong nhân loại. Nói cách khác, nếu "phẩm chất"  được hiểu như vậy, thì ý nghĩa này chỉ về mức độ khác  biệt về bản chất, hay là khác biệt về giống loại  hữu thể. Và nếu hiểu như thế, thì các ý niệm "khác  biệt về phẩm chất" và "đồng bản tính" sẽ  trở thành mâu thuẫn với nhau. Trong trường hợp  đó, một sự khác biệt về phẩm giữa mối kết hợp nối  kết Đức Giêsu với Thiên Chúa và mối kết hợp nối kết  chúng ta với Thiên Chúa sẽ có nghĩa là Đức Giêsu  không đồng bản tính với chúng ta, không phải là  Adong mới, không phải là trưởng tử giữa  nhiều anh chị em, cũng như không phải là người  tiên phong dẫn đầu mở lối ơn cứu độ cho chúng ta,  và cũng chẳng phải là người để chúng ta  có thể noi gương bắt chước được. Tất cả các điểm giáo  lý này cho thấy rõ rằng Đức Giêsu là một người  trong chúng ta, và chúng ta không khác biệt gì với Đức  Giêsu, xét theo khía cạnh được chính Thiên Chúa hiện diện  với.[45]

Tuy nhiên, sự việc ý niệm "khác biệt về phẩm chất"  hằng được thịnh hành sử dụng, cũng cho thấy rằng  trong ý niệm ấy, vẫn còn một cái gì đó cần phải  được duy trì, và đó là công tác sẽ được Kitô  học Thần Khí chu tất. Có hai nhận định giúp cho hiểu rõ  về điểm này: thứ nhất, nên lưu ý đến tính cách mơ hồ  của khái niệm khác biệt về phẩm trong tương quan với khác  biệt về lượng. Trong thời đại của những phát minh  bằng phương pháp thực nghiệm và định lượng này, việc  phận định đối với những khác biệt về phẩm và về  lượng giữa các sự vật, ngay cả đối với những  khác biệt về mức độ và giống loại hữu thể cũng  thế, đã trở nên ngày càng khó khăn, phức  tạp. Có thể dùng số lượng để mà phân định các khác  biệt về phẩm chất hay không? Trong một số trường hợp,  có phải sự khác biệt về số lượng hoặc về mức độ hoặc  về cường độ, có thể làm nên một thực trạng khác  biệt về phẩm chất hay không? Tắt một lời, các khác biệt  về mức độ có thể cấu thành một sự khác biệt về phẩm  chất hay không? [46] Nếu nói rằng Thần Khí của Thiên Chúa, tức là Thiên  Chúa, hiện diện ở trong Đức Giêsu một cách trọn vẹn,  hoặc là một cách hoàn toàn hữu hiệu, và  mãnh liệt nhất, thì thử hỏi còn cần phải  nói thêm gì nữa? Tóm lại, có thể hiểu được là Thiên  Chúa như là Thần Khí có mặt ở trong Đức Giêsu tới  mức tột bực, và như thế là đủ để diễn đạt  tất cả những gì hàm ngụ trong ý niệm "khác  biệt về phẩm chất".[47]

 

Thứ hai, cũng có thể hiểu tính chất độc nhất của  Đức Giêsu theo ý nghĩa chỉ về ơn gọi, sứ mạng của Ngài,  cũng như về sự việc Ngài được Thiên Chúa bổ nhiệm  làm trưởng tử giữa nhiều anh chị em. Cách nói  như thế phù hợp với trình thuật của Tân Ước nói về  việc xức dầu trong Thiên Chúa như là Thần Khí, và  về sứ mạng thiết lập Nước của Thiên Chúa mà Đức  Giêsu hằng trung thành chu tất. Vì thế, không đơn thuần  nằm ở vòng ngoài, các khái niệm kia chính là  những gì xác định nên bản sắc nội tại của Đức  Giêsu. Và cùng với mức độ Thiên Chúa hoạt động truyền  sinh cho Đức Giêsu, chúng cung ứng những yếu tố vừa  đầy đủ để xác định, vừa cần thiết để giải thích  tính chất độc nhất ấy của Đức Giêsu.[48]

 

 Đức Giêsu và Các Nhân Vật Cứu Tinh Khác

 Quan điểm đề xuất trong bài viết này chủ trương  như vầy: Kitô học Thần Khí sẽ làm cho việc bàn  luận theo tư thế Kitô giáo, về mối quan hệ giữa Đức Giêsu  với các tôn giáo và các nhân vật trung gian cứu rỗi  khác, trở nên dễ dàng hơn. Lý do là vì hình  thái Kitô học này có khả năng giải thích trong  một cách thức hoàn toàn chính thống, những thái  độ mà người kitô ngày nay có đối với các tôn  giáo khác cũng như đối với Đức Giêsu Kitô.

Cần ghi lòng điểm này: điều mà Kitô học có sứ  mạng lưu tâm giải thích là chính kinh nghiệm người  kitô có về Đức Giêsu; kinh nghiệm mà ở đây xin tạm  được gọi là "thái độ", hay là cuộc dấn thân  hiện sinh (cuộc sống dấn thân) của người kitô. Đó  là điều mà Tân Ước cũng như toàn bộ lịch sử  Kitô học đều đồng thanh nói lên. Các hình thái Kitô học  khác nhau là những cách thức biểu đạt, hay là  giải thích, hoặc là dựa trên kinh nghiệm đức tin về  sự kiện Đức Giêsu đã mang lại ơn cứu độ của Thiên  Chúa cho loài người, mà nhận chân về bản sắc  con người Đức Giêsu. Ngày nay, có hai yếu tố đã  làm cho chính kinh nghiệm ấy thay hình đổi dạng đi; các  yếu tố đó là: ý thức về lịch sử, và quan niệm  về vai trò Đức Giêsu làm trung giữa Thiên Chúa  và loài người. Trên nguyên tắc, quan niệm này  cho phép suy diễn rằng cũng như Thiên Chúa đã hành  động nhằm mưu ích cho chúng ta qua Đức Giêsu, thì cũng thế,  Ngài có thể hành động nhằm mưu ích cho các người  không kitô qua những trung gian khác. Nếu thế, thì đối  với trường hợp Đức Giêsu, cần phải đảm bảo  cho được hai điều này: thứ nhất, cần phải minh chứng  là có một Đấng không kém thua gì Thiên Chúa, đã hoạt  động trong Đức Giêsu để mang ơn cứu độ lại cho con người;  và ơn cứu độ ấy có khả năng thích ứng một cách phổ  quát cho toàn thể nhân loại; rồi vì thế, Đức Giêsu đúng  là quy phạm cứu rỗi chung cho cả loài người.  Nói cách khác, nếu đã xác định rằng Đức Giêsu là  quy phạm cứu rỗi cho cá nhân nào đó vì lẽ cá  nhân này là một con người, thì, theo nguyên tắc không mâu thuẫn, cũng phải khẳng định rằng Đức  Giêsu là quy phạm cứu rỗi phổ quát cho hết mọi người. [49] Thứ hai, cần phải giải thích về cương  vị của Đức Giêsu làm sao để tránh cho khỏi bị hiểu  là có tính cách loại trừ, độc chiếm, cũng như  cần phải biết nghĩ tới việc có thể có những nhân  vật cứu độ khác ngang cương vị Đức Giêsu, để vén mở cho  con người biết về một số điều có tính cách quy phạm,  liên quan đến Thiên Chúa. Thật vậy, nếu Thiên Chúa là  chính Đấng mà Đức Giêsu mạc khải cho biết, nghĩa là  Đấng Cứu Độ phổ quát, thì tất cũng phải biết chờ  mong rằng trong lịch sử nhân loại, sẽ còn có những  trung gian khác Thiên Chúa dùng để mang ơn cứu độ của  Ngài đến cho con người.

Ở  đây, chúng tôi không có ý trình bày về những  khó nhăn mà Kitô học Ngôi Lời gặp phải trong  nỗ lực ứng đáp cho thích đáng não trạng của người  thời nay. Thực tế cho thấy là phần lớn các sách báo  về Kitô học viết trong môi trường đối thoại liên tôn,  đã chẳng đề cập gì đến chính vấn đề kitô học cả,  hoặc nếu có, thì cũng chỉ làm qua loa mà thôi.  Và thường thì cuộc thảo luận cũng chỉ dừng  lại ở chỗ miêu tả những gì người kitô  cảm nghĩ về Đức Giêsu: Có cần phải nhận Đức Giêsu  là Đấng Cứu Thế tuyệt đối hay không? một Đấng Cứu Thế với vai trò kiến lập và với bản chất chuẩn tắc   (constitutive and normative )? một Đấng Cứu Thế chuẩn tắc  phổ quát nhưng lại không giữ vai trò chủ yếu?  Một Đấng Cứu Thế giữa nhiều nhân vật cứu thế khác? [50] Dù có những giáo phụ đã  cố trình bày ơn cứu độ theo cách thức ban qua Ngôi Lời,  và cho rằng cách thức ấy phổ quát hơn là đường  lối ban qua trung gian Đức Giêsu, thì Kitô học Ngôi Lời  cũng vẫn phát triển theo một khuôn mẫu mang tính  cách loại trừ và độc chiếm: nulla salus extra Christum .  Các hình thái Kitô học mà Schineller gọi là có tính  cách kiến lập (constitutive) và một số tác giả  khác lại gọi là bao hàm (inclusivist ), là  những hình thái Kitô học Ngôi Lời chủ trương cho  rằng ơn cứu độ do Đức Giêsu Kitô gầy dựng và mang lại  thì phổ quát, tức là dành cho mọi người. [51]   Một mẫu suy luận khác dựa theo phạm trù Lógos:  đó là mẫu suy luận cố tìm cách để bảo toàn  giá trị của các nhân vật cứu độ khác, bằng cách nói  tới nhiều cuộc Nhập Thể khác nhau của Lógos .[52] Những  lối giả thiết như vậy thì rõ ràng là quá lý  thuyết, tư biện, vô căn cứ, và không có chút gì là  cần thiết trong bối cảnh ý thức lịch sử hiện tại:  quả là không tin nổi.

Còn Kitô học Thần Khí thì có thể giúp xác nhận được  cương vị Đức Giêsu theo một đường hướng khả dĩ giải thích đầy đủ cho kinh nghiệm về ơn cứu độ Thiên Chúa ban  qua trung gian Đức Giêsu. Đấng không kém thua Thiên Chúa hoạt  động trong Đức Giêsu, và hoạt động đến độ lòng thương  phổ quát của Thiên Chúa được trung gian hóa và trở  thành hiện diện, thiết thực, tỏ hiện công khai ra  trong thế giới, cũng như hiển nhiên ở trong cuộc sống  của những ai qua đức tin, biết đáp trả lại lời  mời gọi của Thiên Chúa nhắn gửi trong Đức Giêsu.  Kitô học Thần Khí chỉ khác với Kitô học Ngôi Lời ở  điểm này:  Kitô học Thần Khí không chấp nhận lập trường  thường đi đôi với Kitô học Ngôi Lời, tức là lập  trường loại trừ việc Thiên Chúa cũng có thể hoạt  động qua những trung gian cứu độ khác. Ở  đây, không  chủ ý thẩm định phê phán về các tôn giáo khác, cũng  không chủ ý xác định mức độ theo đó Thiên Chúa như là  Thần Khí biểu hiện ra trong các tôn giáo này, mà chỉ  muốn đơn thuần xác nhận là điều đó có thể xảy ra.  Trong một khuôn khổ lịch sử nhất định, Kitô học Thần Khí  cũng tuyên xưng rằng Đức Giêsu là một thể cách làm  trung gian hữu thể của Thiên Chúa, một thể cách mang  tính chất quyết định, cuối cùng, chung quyết, và cả  tuyệt đối nữa, miễn là đừng quan niệm các  tính chất ấy theo lối loại trừ, độc chiếm, tức là  phủ nhận việc Thiên Chúa như là Thần Khí có thể hoạt  động trong các tôn giáo khác. Trên nguyên tắc, không có  một lý do nào cho phép phủ nhận sự việc có thể kia  cả. Trái lại, qua sự việc làm hiện thân của Thiên  Chúa và như thế, có khả năng mạc khải Thiên Chúa  dưới diện mạo của tình thương vô biên, Đức Giêsu chính  là nền tảng vững chắc nhất để căn cứ vào  đó, con người nhận ra Thiên Chúa như là Thần Khí đang  hoạt động nơi tất cả mọi tôn giáo, bất chấp hành  động lệch lạc và tội lỗi con người, là những  gì làm cho hết mọi tôn giáo đều phải liên lụy và  bị méo mó đi.

Vậy, dựa vào đâu và muốn hiểu theo ý nghĩa nào  mà khẳng định một cách quả quyết thật sự mà lại  không loại trừ độc chiếm, để nói rằng Đức Giêsu là  trung gian cứu rỗi của Thiên Chúa, một thể thức trung  gian có tính cách quyết định, cuối cùng, chung quyết và  cả tuyệt đối nữa? Ý nghĩa và lý lẽ của  các thuộc tính hay là của các tính cách ấy nằm ở  chính nơi mối liên hệ hiện sinh nối chặt người tín hữu  lại với Đức Giêsu. Ơn cứu độ của Thiên Chúa được  thông ban cho người kitô qua trung gian Đức Giêsu. Mà  hiển nhiên điều đó muốn nói rằng Đức Giêsu chính là  quy phạm, là mẫu mực cho những gì người kitô  cảm nghiệm được về Thiên Chúa. [53] Lề lối diễn biến của kinh nghiệm này, tức  là diễn biến từ trong chính mình, thì có tính cách  đơn giản, quyết định, cuối cùng, chung quyết và  tuyệt đối. Tuy nhiên, không phải vì thế mà cho là  có lý để làm cho các tính chất đặc thù ấy biến thành  những lời quả quyết có tính cách cạnh tranh, về  các thể cách trung gian khác được Thiên Chúa dùng, trừ  phi các thể cách này mâu thuẫn với nhau. Nếu phải  giải quyết các mâu thuẫn như thế -- mẫu thuẫn  thường là biểu kiến hơn là thực sự -- thì cần  phải dùng đến con đường đối thoại mà giải  quyết, dẫu rằng lúc khởi đầu cuộc đối thoại, cả  hai phía đều không chút ngần ngại nghĩ là kết quả  chung cục chắc chắn sẽ về phần mình.

 

 Việc Thờ Phượng Đức Giêsu

 Vấn đề Kitô giáo thờ phượng Đức Giêsu là một vấn  đề mấu chốt trong Kitô học. Lịch sử hằng ghi nhận là  người kitô thờ phượng Đức Giêsu, và như thế là  họ vén mở cho thấy họ đối xử với Đức Giêsu như là  đối xử với một vị thần linh; giáo lý của các công  đồng về Đức Giêsu đã nảy sinh từ giữa bối  cảnh sống này. Ngoài ra, Kitô học ngày nay  còn có bổn phận phải giải thích lý do tại sao  người kitô hằng không ngừng giữ mối liên hệ ấy  với Đức Giêsu trong kinh nguyện và trong việc thờ phượng.  Vậy, vấn đề là thế này: thử hỏi, cùng  với việc nhấn mạnh theo cách thức mới mẻ như thế đến  nhân tính của Đức Giêsu, một hình thái Kitô học Thần  Khí chủ trương bảo quản chiều kích ấy, còn có  khả năng để giải thích cho thỏa đáng thái độ phụng  thờ đối với Đức Giêsu và những kinh nguyện thưa  lên với Ngài hay không? Tương tự như vấn đề này là  vấn đề đặt ra cho thiên tính của Đức Giêsu, nhưng ở  đây thì được xét theo phương diện hiện sinh.

Trước hết, để trả lời câu hỏi vấn đề đặt ra,  thì cần phải đặt nguyên tắc như thế này: không thể  hoặc ít ra không được phép tiếp xúc với Đức Giêsu mà  không dùng đến phương thức biện chứng. Không thể cư xử  với một biểu tượng tôn giáo nào mà không dùng  đến phương thức biện chứng được cả, bởi vì tình trạng  căng thẳng mô tả trên kia, là cấu tố xác định bản  chất của chính biểu tượng tôn giáo. Trong Kitô học, thường  gặp thấy những trường hợp cám dỗ hoặc cố gắng  ngấm ngầm cắt bỏ tình trạng căng thẳng ấy đi; nhưng kinh  nghiệm cho thấy rằng cứ mỗi lần xảy ra như thế càng  nặng, là mỗi lần diện mạo của Đức Giêsu xét  theo tư thế là Đấng Kitô, càng bị bóp méo trầm trọng  thêm hơn. Khi nguyên tắc này được áp dụng vào việc  cầu nguyện và thờ phượng Đức Giêsu, thì kết quả  sẽ mang hình thái căng thẳng biện chứng như thế này:  không ai lại đi thờ phượng hoặc cầu nguyện với Đức Giêsu xét theo tư cách là một con người, một tạo vật; nhưng  là cầu nguyện và phụng thờ Thiên Chúa trong và  qua Đức Giêsu. Những cách nói "cầu nguyện qua Đức  Giêsu," "đến với Chúa Cha qua Chúa Con," đã  có từ lâu trong truyền thống phụng vụ, và phản  ánh cách biểu đạt thông thường nhất trong Tân Ước. Dù  Lampe có tìm thấy được ở trong Tân Ước, một vài thí  dụ về việc cầu nguyện với Đức Giêsu, thì quan niệm trội  hẳn và nổi bật hơn cả vẫn coi thờ phượng là  việc làm qua Đức Giêsu, vì Đức Giêsu là Đấng làm  trung gian cho việc chúng ta phụng thờ Thiên Chúa. Kitô  học Thần Khí nêu bật hẳn điểm này.[54]

Tuy nhiên, việc khẳng định về nguyên tắc như vậy, có lẽ  tự nó vẫn chưa đầy đủ để ứng đáp cho vấn đề, nếu  không biết lưu tâm tới điều mà nó biểu đạt, tức là  một mối quan hệ hiện sinh. Mối quan hệ này triển nở  ra như một tiến trình nhân bản đầy năng động của sự  việc có quan hệ, như một lối thực hành cầu nguyện, như  một hành động xác định về chính mình nơi mối tương quan  với Thiên Chúa trong và qua Đức Giêsu. Mà việc miêu  tả về hiện tượng có-quan-hệ-một-cách-hiện-sinh như thế,  thì sẽ cho thấy rõ tính chất biện chứng của nó.  Thí dụ, khó mà phân biệt cho rõ được giữa các  cách mô tả việc phụng tự kitô theo ngôn từ của  giáo lý công đồng Canxêđôn, và theo ngôn ngữ của  Kitô học Thần Khí. Theo Canxêđôn, Đức Giêsu có hai bản  tính khác biệt nhau, không pha tạp và không lẫn lộn  với nhau; đó là một quan niện biện chứng. Theo khuôn mẫu  này, thì không ai nói là mình thờ phượng nhân tính  của Đức Giêsu, hoặc Đức Giêsu xét theo tư cách là  con người, nhưng là thờ phượng Đức Giêsu xét theo  tư thế là Thiên Chúa, vì Ngài là hiện thân của Lógos .[55] Còn  Kitô học Thần Khí thì giải thích theo lối diễn tả  bằng loại suy (tương tự). Đức Giêsu là biểu tượng thật  sự, biểu tượng thể hiện Thiên Chúa như là Thần Khí hằng  hoạt động trong con người của mình; là biểu tượng,  Đức Giêsu thông phần với Thiên Chúa như là Thần Khí,  làm trung gian cho Thiên Chúa, và thế là Ngài  làm cho Thiên Chúa hiện diện ra (làm cho sự hiện diện  của Thiên Chúa thành hiện thực, cụ thể). Như vậy,  phụng thờ con người Giêsu là Kitô giáo chủ  ý đi qua Đức Giêsu để hướng tới đối tượng được Đức Giêsu  làm trung gian cho, là chính Thiên Chúa. Nhưng, Thiên  Chúa ấy chẳng phải là Đấng lúc thì có mặt ở  đây, lúc thì hiện diện đằng kia, và lúc thì đứng tách  ra khỏi Đức Giêsu. Người kitô phát hiện và gặp  gỡ Đấng Thiên Chúa ấy ngay trong và qua Đức Giêsu.  Kinh nguyện kitô đặt Thiên Chúa làm trung tâm, tức là  mang tính chất quy thần (theocentric), nhưng lại được thưa  lên với một Đấng Thiên Chúa mà người kitô nhận biết  được qua nỗ lực chú tâm nhìn vào Đức Giêsu. Vậy,  quan niệm như thế về nguyện cầu và thờ phụng là  tương ứng thích đáng với những gì đã trình bày trước  đây liên quan đến ơn cứu độ và linh đạo kitô theo quan  niệm của một thể cách làm môn đồ được Thiên Chúa  như là Thần Khí truyền sinh lực cho, qua Đức Giêsu là  Đấng làm trung gian.

 

 Thiên Chúa Ba Ngôi

 Thoạt nhìn, giáo thuyết xem ra đã chịu ảnh hưởng  nhiều nhất của nền Kitô học Thần Khí toàn diện là  giáo lý về Thiên Chúa Ba Ngôi. Nếu quan sát tính chất tương

tự về phương diện chức năng nơi các biểu tượng "Thần  Khí" và "Lógos" hoặc "Khôn Ngoan," rồi  đem biểu tượng này thế chân cho biểu tượng kia, thì chẳng  phải là làm cho đà tiến phát của giáo  lý về Thiên Chúa Ba Ngôi hiện hữu trong nội giới của  mình bị chặn đứng đi đó hay sao? Dù còn cần phải  nghiên cứu thêm nhiều về điểm này, và khai thác thêm  nhiều các dữ liệu lịch sử cũng như thần học liên  hệ, thì trên nguyên tắc, cũng vẫn có thể đưa ra ở  đậy, một số nhận định để minh họa cho thấy rằng Kitô học  Thần Khí đi theo một đường hướng phù hợp với cơ cấu  ba ngôi trong thể cách người kitô tự nhận thức về chính  mình, và trong cả toàn bộ Kitô giáo nữa. [56] Trước hết,  chủ yếu đối với cuộc sống kitô và cơ  cấu tư tưởng Kitô giáo là những gì đã từng  được gọi là ”nhiệm cục Thiên Chúa Ba Ngôi” (economic  Trinity ). Vì cơ cấu của Kitô giáo cốt tại ở sự  việc Đức Giêsu làm trung gian lịch sử giữa Thiên Chúa và loài người, và ở kinh nghiệm về  Thiên Chúa như là Thần Khí, một kinh nghiệm hằng không  ngừng tiếp diễn ngay giữa lòng thế giới đã  được chính Đức Giêsu xác định bản sắc lại cho. Đó là  cơ cấu chủ yếu của đà sinh động kitô, như đã  được Tân Ước bảo tồn. Được hiểu như là ngôn ngữ  phản ánh cơ cấu căn bản của sự việc Đức Giêsu  làm trung gian của Thiên Chúa như là Thần Khí, ngôn  ngữ ba ngôi ấy nói lên thực chất của Kitô giáo:  chính nó định tính cho kinh nghiệm Kitô giáo.

Một khi đã đặt nền tảng như thế, thì điều quan trọng  cần phải làm, là ghi nhận về mối quan hệ giữa  một đàng là giáo lý về Thiên Chúa Ba Ngôi hiện hữu  trong nội giới của mình, và đàng kia là ngôn  ngữ dùng để diễn tả cách thức Thiên Chúa  đối xử với chúng ta suốt theo dòng lịch sử, như  đọc thấy trong Tân Ước. Ở  đây, khi nói tới giáo lý  về Thiên Chúa Ba Ngôi hiện hữu trong nội giới của  mình, là tôi muốn chỉ về công thức đã từng xuất  hiện hồi cuối thế kỷ thứ tư, đưa ra chủ trương cho  rằng Thiên Chúa là một theo bản tính, nhưng cũng  là Ba Ngôi; vì trong thiên tính ấy, có hiện hữu ba  ngôi vị khác biệt nhau. Ý thức lịch sử ngày nay  có ảnh hưởng như thế nào đối với mối quan hệ  giữa hai chiều kích nêu trên đây của tư tưởng về  Thiên Chúa Ba Ngôi? Trước hết, quan điểm về nhiệm cục Thiên  Chúa Ba Ngôi thì khác với giáo thuyết về Thiên Chúa Ba Ngôi  hiện hữu trong nội giới của mình. Cho dù K. Rahner  có đưa ra một tiên đề hữu ích, nói rằng Thiên Chúa Ba  Ngôi nhiệm cục và Thiên Chúa Ba Ngôi nội giới chỉ là  một, [57] thì cũng cần phải nhấn mạnh đến điểm  này là hai giáo thuyết ấy khác nhau về phương diện  khoa học luận, vì giáo thuyết về Thiên Chúa Ba Ngôi nội giới  chỉ có thể nhận biết được qua trung gian của giáo thuyết  kia; và hai giáo thuyết còn khác biệt nhau cả về  phương điện lôgích nữa, vì giáo thuyết về Thiên Chúa Ba  Ngôi nhiệm cục không nhất thiết đòi hỏi cần phải  dùng tới giáo thuyết về Thiên Chúa Ba Ngôi nội giới. [58] Thứ hai, trong Tân  Ước, không thấy có dấu vết nào, ngay cả ngầm ẩn,  của giáo thuyết về Thiên Chúa Ba Ngôi nội giới, vì trong  đó, không có gì nhất thiết đòi phải dùng đến  giáo thuyết ấy, cho dù, trong thực tế, giáo thuyết này  đã tiến phát nhờ vào những suy nghĩ tìm hiểu  về Tân Ước. Thứ ba, đà phát triển ấy đã bắt nguồn  từ những tiền đề không còn có giá trị rõ  ràng cho lắm đối với chúng ta, chẳng hạn như tiền đề  về cách thức văn bản Thánh Kinh làm trung gian chuyển  đạt mạc khải đến các thế hệ loài người. Thứ  tư, tiêu đích của việc phát triển này là nhằm  phản ánh, đẩy mạnh và dùng, như đã từng  thấy, một thứ vòng lũy hữu thể mà bảo  đảm thế đứng cho giáo thuyết về Thiên Chúa Ba Ngôi nhiệm  cục. Thứ năm, giáo thuyết về Thiên Chúa Ba Ngôi nội giới  tự nó không có được một thế đứng độc lập đối với kinh  nghiệm về Thiên Chúa Ba Ngôi nhiệm cục, một thế đứng khả  dĩ ứng đáp thích đáng cho đà năng động của chính kinh  nghiệm kitô.

Qua những gì rút ra từ lôgích ứng dụng trong giáo thuyết  về Thiên Chúa Ba Ngôi như vừa giới thiệu một cách tóm  tắt trên đây, ít nhất cũng nhận ra được Kitô học Thần  Khí có quan hệ như thế nào với giáo thuyết ấy. Thứ nhất,  xét về tầm quan yếu và về phương diện nguồn gốc cũng  như cơ sở, Kitô học Thần Khí cho thấy là có khả  năng đảm bảo cho giá trị của giáo thuyết về Thiên  Chúa Ba Ngôi nhiệm cục, vì phản ánh đích xác được ngôn  ngữ của Tân Ước trình thuật về kế hoạch cứu độ Thiên  Chúa thực hiện qua Đức Giêsu. Thứ hai: thế nên, Kitô học  Thần Khí biểu đạt trong một cách thể rõ ràng, chủ  điểm của giáo thuyết về Thiên Chúa Ba Ngôi nội giới,  tức là nhấn mạnh đến phương diện hữu thể, để khẳng  định rằng Đấng không kém gì Thiên Chúa đã thực sự hoạt  động trong Đức Giêsu nhằm cứu rỗi chúng ta, và rằng  Thần Khí mà cộng đồng kitô ngày nay đang cảm nhận  qua kinh nghiệm sống của mình, thì không kém thua gì Thiên  Chúa. Thứ ba, tuy nhiên, Kitô học Thần Khí không trực tiếp  phản ánh ngôn ngữ tư biện (thuần lý) được dùng  để giải thích về cách thức hiện hữu của Ba Ngôi,  và về mối quan hệ giữa Ba Ngôi trong cuộc sống nội  giới của thiên tính. Suốt dòng lịch sử Kitô giáo,  giáo thuyết này đã liên tục làm nẩy sinh lên  hàng đợt những suy tưởng; và còn cần phải  suy nghĩ nhiều hơn nữa để phác họa cho ra một thứ ngôn  ngữ khả dĩ biểu đạt thích đáng về Thiên Chúa Ba Ngôi  hiện hữu một cách tuyệt đối nhiệm mầu, ở trong nội  giới của thiên tính.

 

 Kết Luận

 Sau đây, xin tổng kết những lý do cho thấy tại sao Kitô  học Thần Khí có thể đứng vững, sống mạnh và tiến  phát lâu bền được.

Kitô học Thần Khí ứng đáp thỏa đáng tất cả những  gì bộ môn Kitô học đòi hỏi. Kitô học Thần Khí trình  bày có mạch lạc, kinh nghiệm kitô về Đức Giêsu, và  "giải thích" ý nghĩa của sự việc Đức Giêsu  làm Đấng mang ơn cứu độ Thiên Chúa ban, đến cho nhân loại.  Và đó là nền Kitô học trung thành theo sát ngôn  ngữ được Tân Ước dùng thường nhất, những khi  trình bày các điểm liên hệ đến vấn đề Kitô học theo  nghĩa hẹp; cũng như trung thành theo sát giáo lý kitô  học của hai đại công đồng Nixêa và Canxêđôn, để  nhất trí khẳng định với Nixêa rằng Đấng không kém thua Thiên  Chúa đã ở trong Đức Giêsu, và với Canxêđôn rằng  Đức Giêsu là đồng bản tính với con người chúng  ta. Kitô học Thần Khí bảo toàn được mối quan hệ đượm  tính chất biện chứng giữa hai thân phận trong Đức Giêsu:  thân phận làm người và thân phận làm thần  thiêng. Kitô học Thần Khí tỏ ra dễ hiểu, có mạch  lạc và thích hợp với kinh nghiệm của con người  ngày nay -- thường nhạy cảm đối với ý thức  lịch sử, đối với việc nhấn mạnh đến sự kiện Đức Giêsu  là một con người, đối với kinh nghiệm gặp thấy những  nét tương tự giữa Đức Giêsu và các nhân vật hoặc  thể chế khác làm trung gian cho ơn cứu độ của Thiên  Chúa trong các tôn giáo khác -- mà vẫn bảo  toàn được các điểm giáo lý liên quan đến: Nhập Thể,  thiên tính của Đức Giêsu, vai trò làm trung gian  cho ơn cứu độ của Thiên Chúa, tầm thích dụng phổ quát,  và tính chất quy phạm toàn vũ. Kitô học Thần Khí  cũng đáp ứng đúng tiêu chuẩn của việc quyền lực  hóa (empowerment ), nghĩa là cung ứng một nền tảng  vững chắc cho thể cách làm môn đồ bằng việc xác  minh về sự kiện Đức Giêsu và con người chúng ta là  đồng bản tính, cũng như về tính chất liên tục trong  hành động Thiên Chúa như là Thần Khí quyền lực hóa  Đức Giêsu và chúng ta. Kitô học Thần Khí cũng minh  giải cho thấy rằng ơn cứu độ ban qua trung gian Đức Giêsu  thì chặt chẽ gắn liền với lối sống khuôn rập theo và  ở trong Thần Khí; thế nên, ơn cứu độ ấy có ảnh hưởng  đối với sinh hoạt của những con người đang sống  giữa dòng lịch sử. Như vậy, Kitô học, đời sống  ân sủng, giáo hội học và linh đạo kitô liên hệ với  nhau một cách hết sức mạch lạc.

Bối cảnh mà bài khảo luận ủng hộ Kitô  học Thần Khí này đã chọn làm khuôn khổ, chính  là bối cảnh đa dạng của các hình thái Kitô học  khác nhau gặp thấy ở trong Tân Ước. Sự kiện ấy muốn  nói rằng một hình thái Kitô học không có quyền gì để tự  đặt mình vào vị trí độc tôn mà khai trừ các hình  thái khác. Nhưng đồng thời, thần học hệ thống cũng  có bổn phận phải lựa chọn một chủ điểm làm trọng  tâm, và cố gắng tiến hành công tác làm sao cho  kiên định và mạch lạc. Đó là điều mà lập trường  ủng hộ này có thể làm được, vì Kitô học Thần  Khí có đủ thái độ cởi mở để thu nhận những  ý kiến và luận điểm của các hình thái Kitô học khác  được coi như là tất yếu đối với công tác tìm hiểu về  Đức Kitô. Luận đề nêu lên ở đây là như thế này:  ngày nay, chủ trương phát triển Kitô học Thần Khí toàn  diện là chọn lựa một lập trường có khả năng  sống mạnh và tiến phát lâu bền. Dù đây chỉ là  một chủ trương có tính cách đơn thuần xây dựng, thì ai  cũng rõ là lập trường của bài viết  này đối nghịch lại với quá trình phát triển của Kitô  học Ngôi Lời hiện hành. Dù đã tránh hết mọi  hình thức so sánh, thì lập luận đối chiếu giữa hai hình  thái Kitô học lúc nào cũng được hàm ngụ một  cách mặc nhiên. Vì thế, bài khảo luận này xin kết thúc với giả thuyết nói rằng Kitô học Thần Khí thì  tương đối thích hợp với các dữ liệu Kitô học ngày  nay hơn là Kitô học Ngôi Lời. Nói thế không có nghĩa  là ngày nay, Kitô học Ngôi Lời không thể nào  có chỗ đứng được nữa, miễn là hình thái Kitô  học này biết ý thức về tính chất ẩn dụ và biểu  trưng của ngôn ngữ dùng để nói về Lógos .  Nhưng, ngay cả trong bối cảnh của các biểu tượng  tôn giáo, ngôn ngữ dùng để nói về Lógos cũng  bị một vài cứ liệu dồn vào trong thế quá tải;  trong khi đó, Kitô học Thần Khí có thể thu nhận các cứ liệu  này một cách thích đáng hơn. Đó là điều biểu hiện  rõ nhất trong hai tiêu điểm sau đây: giáo lý của công  đồng Canxêđôn xác định Đức Giêsu đồng bản tính với chúng  ta, và giáo lý của công đồng Nixêa về thực tại của  Đấng không kém gì chính Thiên Chúa, hằng hoạt động trong Đức  Giêsu để cứu rỗi chúng ta. Mà đó lại chính là  cốt lõi của vấn đề Kitô học theo nghĩa hẹp.

 

 Felipe Gómez Ngô Minh phiên dịch.


 

[1] Roger Haight là giáo sư Thần  học tại Weston School of Theology, ở Cambridge, tiểu bang  Massachusetts, Hoa Kỳ. Bài viết này mang tựa đề  "The Case for Spirit Theology," đăng trong tạp chí Theological  Studies , tập 53, số 2, June 1992, tr. 257-287.

[2] Xin nêu lên đây một số các  tiểu luận có thể giúp làm những bước dẫn nhập  để đi vào trong khoa Kitô học Thần Khí: James D.G. Dunn, Jesus and the Spirit (London: SCM, 1975); idem, Christology  in the Making   (Philadelphia: Westminster, 1980); Olaf Hansen,  "Spirit Christology: A Way out of Our Dilemma?" trong The Holy Spirit in the Life of the Church , ed. P. Opsahl (Minneapolis:  Augsburg, 1978) 172-203; Norman Hook, "A Spirit Christology," Theology 75 (1972) 226-232; Harold Hunter, "Spirit Christology:  Dilemma and Promise," Heythrop Journal 24(1983)127-40,  266-77 (bài viết này lập luận chống lại khoa Kitô  học Thần Khí, bằng cách dựa vào các nguồn cứ liệu Kinh  Thánh và kitô ban sơ được giải thích theo một đường  hướng riêng); G.W.H. Lampe, "The Holy Spirit and the Person  of Christ," trong Christ, Faith and History , ed. S.W. Sykes  và J.P. Clayton (Cambridge: Cambr. Univ., 1972)111-130; idem,  God as Spirit (Oxford: Clarendon, 1977); Paul W. Newman, A Spirit Christology: Recovering the Biblical Paradigm of Christian  Faith (Lan-ham, Maryland: Univ. Press of America, 1987); Philip  J. Rosato, "Spirit Christology: Ambiguity and Promise." Theol. Stud . 38 (1977) 423-449.

[3] Anh ngữ  gọi   Logos Christology là một nền Kitô học thường  dùng các phạm trù liên quan đến "biểu tượng” Lógos /Lời; nói chung, đó là nền Kitô học điển  hình trong truyền thống kitô. Còn Kitô học Thần Khí  (Spirit Christology ) thì lại lấy các phạm trù liên quan  đến Pneuma /Thần Khí, hoặc là các phạm trù thường  dùng trong Thánh Linh học, để trình bày và giải  thích những cứ liệu của Mạc khải và giáo lý  về Chúa Kitô. Qua bài khảo luận trưng dẫn trong  chú thích trên đây, Rosato đã không đề xuất một khoa Kitô  học Thần Khí toàn diện, nhưng chỉ muốn tìm cách để lấy  một số chủ đề của Kitô học Thần Khí ấy đem sáp nhập  vào trong khuôn mẫu của Kitô học cổ điển cũng  như của Tam Vị học. Để có một cái nhìn tổng lược về các  vấn đề dính líu tới Kitô học Ngôi Lời, xin xem Newman, A Spirit Christology 1-27

[4] Đôi lúc có người cho rằng những đổi thay trong Kitô  học chung quy cũng chỉ là vấn đề làm mất đi quân  bình: một lúc nào đó, người ta đã nhấn mạnh quá  đáng đến một trong hai bản tính hiện hữu song đôi trong  Đức Giêsu: tức là nhân tính và thiên tính, gây ra  xáo trộn với những phản ứng ngược lại. Thật ra, không  phải là thế. Đúng hơn là nên coi những biến  chuyển đổi thay kia như là cơ sở để từ đó có thể  dấy cho bừng lên một cuộc cách mạng trong đường lối  suy tư của Kitô học. Xem Karl Rahner, Foundations of Christian  Faith , (New York: Seabury, 1978)285-93: viết về những phân  biệt theo phương thức khoa học luận và luận lý học, giữa  những lời khẳng định về nhân tính và thiên tính  của Đức Giêsu.

[5] Thiết nghĩ từ ngữ Đức Kitô theo sứ điệp Tin Mừng (kerygmatic Christ) thì không được chính xác cho bằng cách  nói ” những Đức Kitô theo sứ điệp Tin Mừng (kerygmatic  Christs ), tức là những cách hiểu và trình bày  khác nhau về ÀĐức Kitô của đức tin' trong thế kỷ đầu  -- của Kitô giáo"; xem James D.G. Dunn, Unity and  Diversity in the New Testament: An Inquiry into the Character of Earliest  Christianity (Philadelphia: Westminster, 1977) 216

[6] Trong cuốn Dynamics of Theology (Mahwah, N.J.: Paulist,  1990), tôi đã có dịp trình bày đầy đủ hơn về nhiều  cách quan niệm khác nhau đối với phương pháp thần học; ở  đây, tôi chỉ xin lược kê sơ qua mà thôi. Trong cuốn A  Spirit Christology , tt. 62-67, tác giả Newman đã đề  ra một loạt các tiêu chuẩn khác nhằm tới việc xây dựng  một nền thần học tích cực. Chúng tôi có nhiều quan điểm  tương đồng với nhau

[7] Hans Kung, "Towards  a New Consensus in Catholic (and Ecumenical) Theology, ” trong L.  Swidler, ed. Consensus in Theology ? (Philadelphia: Westminster,  1980) 1-17: bài viết trình bày rành mạch về một  phương thức sống mối tương quan đầy tính cách phê bình như vừa  nói

[8] Trong Experience of God (New  York: Oxford Univ., 1968) 68-98, John E. Smith đã trình bày  rộng về học thuyết này. Nói cho đúng thì học thuyết này  không phá hoại cái thường được gọi là kinh nghiệm  thần bí. Và cho dù những kinh nghiệm ấy có xem  ra trực tiếp (tức là không qua một trung gian nào),  thì quan điểm trình bày trong tác phẩm này cũng  cho rằng thực sự đó cũng là những kinh nghiệm  mang tính chất "trực tiếp qua trung gian," tức là:  cho dù kinh nghiệm thần bí có được miêu tả như là  trạng thái tiếp xúc "trực tiếp" với Thiên Chúa, bởi  lẽ Thiên Chúa hiện diện trực tiếp nơi cá nhân con người  có kinh nghiệm thần bí, thì ý niệm về sự hiện diện của  Thiên Chúa cũng phải mang một hình thái hay một nội  dung biểu đạt nhất định, và việc nhận thức tư duy như thế  về Thiên Chúa tất phải nhờ đến các phương tiện trung  gian; rốt cuộc, là nhờ trung gian của các kinh nghiệm  về thực tại cảm tính trong thế giới.

[9] Ở đây, "biểu tượng" được quan niệm theo cách thức trình bày trong các tác phẩm  của Paul Tillich và Karl Rahner; xin xem hai tác phẩm  đặc trưng trong lối trình bày theo cách thức ấy: K.Rahner  "The Theology of Symbol," trong Theological Investigations 4 (Baltimore: Helicon, 1966) 221-252; và P. Tillich, "The  Meaning and Justification of Religious Symbols," trong Religious  Experience and Truth , ed. Sidney Hook (New York: N.Y Univ.,1961)  3-12

[10] Dunn, Unity and Diversity  in the New Testament 369-70.

[11] Muốn biết thêm về các hình thái Kitô học khác nhau ở  trong Tân Ước, xin xem Dunn, Christology in the Making (nhiều  đoạn khác nhau), và Unity and Diversity 33-59, 203-231.  Edward Schillebeeckx cũng trình bày về bốn trào lưu  Kitô học căn bản, trong nội dung của tác phẩm Jesus:  An Experiment In Christology (New York: Seabury, 1979) 401-438.

[12] E. Schillebeeckx,  Christ: The Experience of Jesus as Lord , (New York: Seabury, 1980)  463

[13] Dunn đã nêu ra câu hỏi như sau: Vì Tin  Mừng (kerygma) trong Tân Ước mang tính chất đa dạng  như thế, thì thử hỏi có thể một cách nào đó,  lấy tính chất đa dạng ấy làm tiêu chí được không? Và  ông kết luận rằng qua tiến trình phân tích và trừu  tượng hóa, có thể phác họa ra được một nền móng làm  cơ sở nhất thống và đồng hợp cho một tổng thể các  nhân tố có chung: Đức Giêsu là tâm điểm; qua trung gian  Đức Giêsu, mọi người được mời gọi để tin vào  Thiên Chúa; ngoài ra, trong mối quan hệ niềm tin ấy cũng  tiềm ẩn lời hứa ban ơn cứu độ cho những người  có lòng tin (Unity and Diversity , 30). Như vậy, dù  liên quan đến vấn đề này, còn nhiều điểm cần phải  được bàn tới và không thể khai triển cho đủ trong  khuôn khổ hạn hẹp của bài khảo luận này được,  thì quy phạm mà Tân Ước và giáo thuyết thường  cho thấy, cũng mang tích chất hiện sinh; và nói cho  cùng rồi tính chất hiện sinh này cũng chẳng có  thể chịu đơn thuần đóng khung ở trong các công thức biểu  đạt niềm tin được.

[14] Điểm này đã được Schubert M.  Ogden đặc biệt nhấn mạnh tới trong bài viết "The point  of Christology,”  Journal of Religion 55 (1975) 375-95, và  đã được khai triển rộng ra hơn trong cuốn The Point of  Christology (San Francisco: Harper and Row, 1982).

[15] Các từ  "nhìn thấy được" và "sờ mó được" đã  được đặt trong các ngoặc kép như thế là để lưu ý rằng  tự hậu, cần phải hiểu chúng theo một ý nghĩa biện chứng,  tức là trong tư thế diễn nghĩa chức năng của một  biểu tượng lịch sử, chúng vừa làm cho và cũng  vừa không làm cho Thiên Chúa có thể nhìn thấy và  sờ mó được. Nếu bỏ quên đi cách thức diễn nghĩa  biện chứng ấy, thì chỉ biết chú ý tới có một phía, thiếu  mất toàn bộ, để đi đến chỗ nhận thức méo mó về  thực tại

[16] Nếu  muốn so sánh và nối kết cách quan niện như thế về ơn  cứu độ với các cách thể quan niện khác trong Tân Ước và  trong văn bản các Giáo Phụ, thì ngoài thiên khảo  luận sâu rộng của E. Schillebeeckx, Christ 81-626,  xin xem thêm Stanley B. Marrow, "Principles for Interpreting  the New Testament Soteriological Terms,” New Testament Studies 36(1990) 268-80, và Michael Slusser, "Primitive Christian  Soteriological Themes,” Theol. Stud . 44 (1983) 555-69

[17] Lampe lưu ý rằng quan niệm về ơn cứu độ có ảnh  hưởng sâu rộng đối với Kitô học; thế nên, tác giả  phân biệt giữa hai thể loại nhãn quan về ơn cứu độ:  ơn cứu độ xảy đến toàn bộ ngay một lúc vào một  thời điểm lịch sử, và ơn cứu độ diễn ra theo  một tiến trình liên tục cũng như song hành với công  trình tạo dựng và với lịch sử. Bài viết này  dựa theo quan quan điểm thứ hai, cũng là quan điểm của  tác giả Lampe: xin xem God as Spirit 14-15, 32-33; và  Newman, A Spirit Christology 9-10

[18] Lampe đưa ra những nhận định phân tích về khái  niệm Thần Khí của thời tiền Kitô giáo, trong God  as Spirit 41-60; và căn cứ nhiều hơn vào khoa chú  giải, Newman cũng trình bày những nhận định tương  tự, trong tác phẩm A Spirit Christology 69-94

[19] Lampe, God as Spirit 37, 115-6, 179; Newman, A Spirit Christology 79; Dunn, Christology in the Making 131, 266. Xét theo quan  điểm Kinh Thánh, thì có thể nói rằng Kitô học Ngôi Lời  thực ra cũng chỉ là Kitô học Thần Khí, vì biểu tượng  Khôn Ngoan có thể được đồng nhất hóa với cách biểu đạt  Thiên Chúa như là Thần Khí (Kn 1,7; 7,25), và Khôn Ngoan  trong Kinh Thánh là ý niệm giúp cho thấu hiểu về ý nghĩa  của Lógos . Xem Addison G. Wright, "Wisdom," trong   The New Jerome Biblical Commentary (Englewood Cliffs, N.J.:  Prentice Hall, 1990) 513tt; Pheme Perkins, "The Gospel according  to John" (ibid. 951tt)

[20] Không nên nhầm lẫn khái  niệm trung gian với ý niệm phương tiện đã  được bàn tới trước đây. Ý niệm phương tiện là một phạm trù nhân chủng học và khoa học  luận; còn khái niện về một trung gian đến từ  Thiên Chúa xuống trong thế gian, là một phạm trù vũ  trụ quan

[21] Dunn, Jesus and the Spirit 41-67; xem Newman, A Spirit Christology 103-137

[22] Dunn, Jesus  and the Spirit 52

[23] Ibid. 66; xem Lampe, God as Spirit 26-31.  Newman xác tín rằng "ngôn từ Đức Giêsu dùng để  diễn đạt về vương quyền Thiên Chúa có thể được chuyển  dịch một cách hết sức chính đáng, thành ngôn từ biểu  đạt sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa như  là Thần Khí" (A Spirit Christology 116).

[24] Xem Dunn, Unity  and Diversity 213-217

[25] Lampe, God  as Spirit 62

[26] Dunn, Christology in the Making 129-162; Còn  Lampe thì phân tích khái niệm Thiên Chúa như là Thần Khí  trong tương quan với Đức Kitô, đặc biệt là qua các văn  bản của Phaolô, của Luca và Gioan; xin xem God  as Spirit 5-10, 61-94

[27] Dunn, Unity  and Diversity 216

[28] Dunn, Christology in the Making 266-7

[29] Một cách nào đó, biểu tượng Lógos   đã là nguyên nhân đưa tới lạc thuyết”phụ thuộc” (subordinationism ), bởi lẽ, thay vì được dùng  như một lối nhân cách hóa, như một hình thái tu từ, thì  biểu tượng ấy đã trở thành một hình thức ngôi  vị hóa; công đồng Nixêa đã phải gia công để giải  tỏa cho vấn đề lẫn lộn đó. Xem Lampe, God as Spirit 12-13, 41, 132, 140-144; Dunn, Christology in the Making 161.

[30] Liên quan  đến nguyên tắc về loại suy làm nền tảng cho khoa chú  giải, xin xem Haight, Dynamics of Theology 172-3. Ở   đây, "kinh nghiệm thông thường giữa loài người"  không có nghĩa là kinh nghiệm cụ thể theo số liệu thống  kê, nhưng là kinh nghiệm chung của con người, vì  nó thuộc cơ cấu nội tại đặc thù của nhân loại: mọi  người đều có khả năng để cảm nghiệm như vậy;  thí dụ, thị giác là thuộc cơ cấu nội tại của con người,  dù một số người có thể bị mù từ lúc mới  sinh ra

[31] Về tính chất tương quan giữa các  khái niệm "Thần Khí" và "ân sủng" đọc  thấy trong các văn bản của Phaolô, xin xem Dunn, Jesus and the Spirit 201-5. Còn về thần học ân sủng  theo K.Rahner, thì xin đọc Foundations of Christian Faith 116-133

[32] Gl 2,19-20;  xem Reinhold Niebuhr, The Nature and Destiny of Man 2 (New  York: Charles Scribner's Sons, 1964) 107-126

[33] Hễ cuộc sống con người ở trong bối cảnh của  một thời điểm ý thức lịch sử, càng được hiểu  như là một biến cố tự do được phóng sinh vào trong  dòng lịch sử, thì ngôn từ tôn giáo dùng để  chỉ về ân sủng đồng tác như thế, càng trực tiếp đóng  giữ một vai trọng yếu trong việc con người tự hiểu  biết về chính mình. Ngày nay, chẳng có ai lại đi hiểu con  người như là một thứ nhân tính trừu tượng, trọn  vẹn hoàn bị với những đặc tính có thể xác định được  một lần cho tất cả.

[34] D. M. Baillie, God Was in Christ (New York: Charles Scribner's Sons, 1948) 106-132

[35] Ý thức lịch sử  ngày nay không cho phép nói rằng thực trạng Đức Giêsu  làm người thật sự có ý chỉ về một bản tính loài  người toàn vẹn nhưng trừu tượng, với một ngôi  vị thần linh, chứ không có một nguyên tắc hiện hữu loài  người, làm nguyên lý hiện hữu. Vì thế, có ý kiến  cho là nên nói về hai bản tính trong một nhân vị. Lampe  viết rằng: "Kitô học Thần Khí cần phải sẵn sàng  nhìn nhận rằng chủ thể của kinh nghiệm nơi Đức Giêsu  Kitô là một con người. Ngôi vị (hypostasis) không  phải là Lógos nhập thể, nhưng là một con  người." ("The Holy Spirit and the Person of Christ"  124). Về cuộc bàn thảo liên quan đến chủ đề này,  xin xem E.Schillebeeckx, Jesus 652-69.

[36] Lampe, "The Holy Spirit and the Person  of Christ" 124

[37] Newman, A Spirit Christology 179; xin xem thêm 180-2

[38] Xin xem Dunn, Unity and  Diversity 228; cũng nên đọc Lampe, God as Spirit 114-5. Vấn đề khó khăn đối với khái niệm về một cuộc tiền  hiện hữu của Đức Giêsu là ở chỗ khái  niệm ấy không phù hợp với giáo lý của công đồng  Canxêđôn dạy rằng Đức Giêsu là đồng bản tính với  chúng ta. Xem Lampe, "The Holy Spirit and the Person of Christ"  119.

[39] Tất cả các tác giả đề xuất và ủng  hộ Kitô học Thần Khí, đều nhấn mạnh đến điểm hết sức căn  bản này. Đó là một trong những yếu tố xây  dựng nòng cốt nhất của Kitô học Thần Khí. Xin xem  Newman, A Spirit Christology 176-7; Lampe, "The Holy Spirit..."  117-8; Hook, "A Spirit christology" 229

[40] Rất thường khi các sách báo Kitô giáo quan  niệm sự việc Nhập Thể của Ngôi Lời như là một  sự kiện phủ nhận thân phân làm người của  Đức Giêsu. Đó là điều thấy rõ đặc biệt trong các  bản trình thuật về Đức Giêsu: diễn viên chủ yếu  và thật sự trong lịch sử không phải là một  con người, nhưng là một diễn viên thần linh, là  Thiên Chúa cải trang làm người, vì không gì khác  hơn, nhân tính trừu tượng chỉ là một dụng cụ thụ động  Thiên Chúa dùng để hành động

[41] Lampe, "The Holy Spirit..." 125-6; Hook,  "A Spirit Christology" 228

[42] Xin xem Newman, A Spirit Christology 139-70. Dựa theo lập trường "Thiên Chúa như là Thần  Khí," Newman quan niệm vai trò cứu độ của Đức Giêsu  như là làm trung gian cho ơn cứu độ ấy. Coi vai trò  cứu độ của Đức Giêsu như là có tính cách mạc khải  và mẫu mực do sự việc Ngài là hiện thân năng  động của Thiên Chúa như là Thần Khí, thiết tưởng  không phải là làm cho quan điểm của tác giả  bị méo mó đi

[43] Xem Newman, A Spirit Christology 179

[44] Xem Lampe, "The Holy  Spirit..." 120, 126-7

[45] Newman, A Spirit Christology 182-183

[46] Dùng từ theo cách này thì không  khác gì cách dùng khái niệm "tính cách” (qualitas)  trong ngôn ngữ kinh viện, tức là gồm hàm ý nghĩa  đối lại với "bản chất," "yếu tính," "bản  tính." Lối dùng từ như thế muốn nói lên một khác  biệt về tính cách, chứ không phải là về bản chất

[47] Hook, "A Spirit..." 229. Hook  cho là sự hiện diện của Thần Khí trong Đức Giêsu thì  tương tự như là việc Nhập Thể. Lampe cũng giải  thích sự khác biệt về "phẩm chất" của mối kết  hợp giữa Thiên Chúa với Đức Giêsu so với mối kết hợp  giữa Thiên Chúa với các người khác, như là một  sự khác biệt về "mức độ." Ông miêu tả cách  thức Đức Giêsu ứng đáp đối với Thiên Chúa như là hoàn  toàn. Nhưng mối hiệp nhất "hoàn toàn" giữa  Thiên Chúa với Đức Giêsu không thể nào giảm bớt  đi được những giới hạn cố hữu trong thân phận làm  người mà Đức Giêsu đã mang lấy, ngoại trừ tội lỗi; tình trạng ngoại trừ này tượng trưng cho  thái độ Đức Giêsu đáp ứng toàn vẹn đối với thánh ý  của Thiên Chúa. Lampe, God as Spirit 23-24, 111-112.

[48] Newman, A Spirit  Christology 185-6, 205

[49] Còn cần phải xác định càng minh bạch thì càng  tốt, những gì làm nên tính chất quy phạm ấy. Nếu chỉ  khẳng định Đức Giêsu là quy phạm mà không minh chứng  bằng những luận cứ rõ ràng, thì dĩ nhiên là  chưa đủ.

[50] Đó là những mẫu điển hình đề ra trong bài viết  của J.Peter Schineller, "Christ and Church: A Spectrum of  Views,” Theol. Stud . 37( 1976) 545-566. Còn P.Knitter,  J.Hick, A.Race và G. D'Costa thì phân loại các mẫu cứu  thế theo một thức cách khác, không rõ ràng cho bằng  các mẫu trên đây

[51] Bài  khảo luận của K.Rahner, "The One Christ and the Universality  of Salvation," Theological Investigations 12, 161-178,  là một thí dụ cho thấy rõ về hình thái Kitô học ấy

[52] Xin xem Raimundo Panikkar, The Unknown Christ of Hinduism: Towards  an Ecumenical Christophany, (Maryknoll, N.Y.: Orbis, 1981).

[53] Xem ra đó là lập  trường của Lampe trình bày trong các tác phẩm "The  Holy Spirit... 127-8, và God as Spirit 112-4, 180-2. Còn  Newman thì không thích dùng các thuộc từ như "tuyệt  đối" hoặc "chung quyết" để áp dụng cho Đức Giêsu,  vì lịch sử vẫn chưa kết cục; xem A Spirit Christology 205-9.

[54] Lampe, God as  Spirit 162-163.

[55] "Thật ra, không thể phân biệt được giữa  cầu nguyện với Đức Kitô và cầu nguyện với Thiên Chúa,  nếu hiểu Thiên Chúa theo nghĩa là Đấng tự tỏ lộ  ra trong Đức Kitô " (Lampe, God as Spirit 166).

[56] Xem Newman, A Spirit Christology 187-203: tác giả đã  dựa theo quan điểm của Kitô học Thần Khí mà suy tư  về giáo lý Thiên Chúa Ban Ngôi. Bài viết này không  dựa theo các suy tư của Newman.

[57] K.Rahner, The Trinity (New York: Herder and Herder,  1970) 21-24

[58] Xem R. Haight, "The Point of Trinitarian Theology,” Toronto  Journal of Theology 4(1988)191-204, đặc biệt 201-2 và số  12. Còn có thể lý luận thêm như sau: trừ con số ba   của các ngôi vị ra, thì tất cả những gì có thể  khẳng định về Thiên Chúa vì lẽ có ba ngôi khác biệt nhau  thật sự trong thiên tính của Ngài, thì cũng có  thể được khẳng định về Ngài ngay cả trong trường  hợp các ngôi vị không khác biệt nhau

 


Trở về  "Mục Lục"