|
CHƯƠNG I TruyỀn giáo hỌc
Sau công đồng
Vaticanô II, đã có nhiều sách viết về chủ đề
này; tạp chí chuyên đề “Truyền Giáo” cũng đã
thi nhau xuất hiện theo đà trăm hoa đua nở. Tiếp theo
lời công đồng khẳng định rõ là Giáo hội mang “bản
chất truyền giáo,” thần học đã dốc lực minh
giải để cố giúp cho thấy “bản chất” ấy là
như thế nào. Từ đó, đọc thấy nhiều tác phẩm
bàn về các đề tài liên quan đến truyền giáo,
như: “rao
giảng Tin mừng,” “đối thoại liên tôn,” “hội
nhập văn hóa,” “phát triển và truyền giáo,” v.
v. Vấn đề là trong
khi sách vở viết về
truyền giáo ngày càng nhiều thì, ngược lại, số
thừa sai – tức các nhà truyền giáo – ngày càng
ít đi. Sứ vụ truyền giáo đã gặp phải khủng
hoảng, cách riêng là vì hai lý do: 1) lý do lịch
sử: vì công cuộc truyền giáo đã phần nào dính
líu với phong trào đế quốc Tây phương; do đó, khi
các thuộc địa dành được độc lập, tự do, nhiều
người từ chối làm việc truyền giáo, coi đó là
việc làm của thực dân. Phía Tin lành, World
Missionary Conference (Bangkok 1972-73) đã yêu cầu tạm
ngưng truyền giáo. Phía Công giáo, nhà Truyền giáo
học, Ludwig Ruetti, đã dùng và khai triển từ ngữ
“shalom (hòa bình) thay cho ‘truyền giáo’”;
[1]
2) lý do thần học
(thần học về các tôn giáo): giáo lý cổ truyền
dạy rằng bất cứ ai cố gắng sống theo lương tâm,
làm lành lánh dữ thì đều có thể được cứu
độ. Lập trường này được Vaticanô II phê chuẩn
(x. GH 16). Nhưng, trong thời hậu công đồng, nhiều
tác giả đã đi xa hơn, và đã phổ biến những
giả thuyết về: “kitô giáo vô danh,” “Giáo hội
ẩn tàng và hiển hiện,” “Lịch sử cứu độ chung
và riêng,” “Kitô học vũ trụ,” “hạt giống
Ngôi Lời,” v.v., hoặc về hoạt động của Thần Khí
ở trong các tôn giáo, về đối thoại liên tôn,
v.v. Nhiều thừa sai bối rối, không còn hiểu sứ
vụ của mình là gì nữa; thần học làm như không
còn dám giữ các lập trường cổ truyền về Ðức
Kitô, về sự việc Ngài là Ðấng Cứu độ phổ
quát duy nhất. Tòa thánh đã phải can
thiệp qua việc công bố thông
điệp Sứ Mệnh Ðấng Cứu Ðộ (Redemptoris Missio:
năm 1990).
[2]
Vì thế, thần
học đã phải suy xét lại về quá khứ và trù bị
cho tương lai, nhằm góp phần vào trong sứ vụ chí
thánh Ðức Kitô đã ký thác cho Giáo hội, hiền
thê của Ngài, ở giữa lòng lịch sử.
TruyỀn
giáo hỌc Nói chung, “Truyền
giáo học” là khoa
suy tư thần học về sứ vụ rao giảng Tin mừng của
Giáo hội. Suốt bao thế kỷ, từng ngàn vạn vị
thừa sai đã dấn thân cho công cuộc lớn lao ấy;
Giáo hội đã công bố nhiều tài liệu về công
tác truyền giáo; dù vậy, vẫn không thấy thần học
soạn ra một khoa chuyên đề, thiết lập một bộ môn
đặc biệt, và cũng không thấy các đại học mở
phân khoa về “Truyền giáo học.” Từ thế kỷ 16,
đã có nhiều tác phẩm do các thừa sai viết về
lịch sử và về điều mà bây giờ có thể gọi
là “nhân chủng học.”
Trong
lãnh vực này, Dòng
Tên đã có những
đóng góp lớn, do các bài trình thuật gửi về Bề
trên Tổng quyền, cũng
như do các thư (của
thánh Phanxicô Xaviê, chẳng hạn), hoặc những sách
viết về công trình truyền giáo (như các tác phẩm
của cha Ðắc Lộ). Truyền giáo
học có hệ thống đã khởi xuất từ phía các anh
em Tin lành,
với Karl Graul († 1864)
và nhất là với Gustav Warneck († 1910). Phía Công
giáo đã có Rudolf Cornely († 1908), Friedrich Schwager (†
1929) và nhất là Josef Schmidlin (1876-1944: chết trong
trại tập trung Ðức quốc xã), người thường
được gọi là ông tổ của Truyền giáo học công
giáo. Cha Schmidlin đã ảnh hưởng sâu rộng trên tư
tưởng công giáo qua trường Muenster (ở Ðức
quốc, sáng lập năm 1910) với đặc điểm là nêu
bật việc trở lại của dân ngoại. Song song với trường
Muenster thì có trường Louvain (Bỉ), do cha Pierre
Charles, sj, sáng lập, với chủ trương cho rằng mục
tiêu của việc truyền giáo không phải là “cứu
rỗi các linh hồn,” hoặc “làm cho dân ngoại trở
về với Chúa,” v.v., song là “mở rộng biên
cương Giáo hội hữu hình, nhằm hoàn tất tiến trình
lớn lên, hầu bao phủ toàn thế giới với lời
cầu nguyện và việc phụng thờ, tức là để mang
lại cho Ðấng Cứu Thế toàn bộ gia sản của Ngài.”
Rất phổ biến trước Vaticanô II, lập trường này
đã được công đồng chấp nhận và điều hòa
với các quan điểâm khác (x. TG 6). Hai trường Tây
ban nha và Paris thì hầu như hoàn toàn rập theo chủ
hướng của trường Louvain. Trường Tuebingen, ở
Ðức, do J. S. Drey († 1853) sáng lập, quan niệm Giáo
hội như một cơ thể sống động nhờ Thần Khí hiện
diện.
Theo giáo
thuyết này,
công cuôc truyền
giáo chính là bản chất của Giáo
hội, một Giáo hội đang tự xây dựng mình lên;
nghĩa là nhờ Thiên Chúa thúc đẩy Giáo hội cố
gắng vun trồng, nuôi
dưỡng, hoàn thiện và
hoàn chỉnh đức tin trong bác ái, giữa lòng mọi
dân tộc. Ðức Bênêđíctô XV († 1922) đã muốn
thành lập một Viện Cao Học về Truyền giáo học,[3]
nhưng cho đến năm
1932, Phân khoa Truyền giáo học đầu tiên mới
được thiết lập tại Ðại Học Grêgôriana (Rôma),
và năm sau, tại Ðại Học của Propaganda Fide
(bộ Truyền bá Ðức tin). Tiếp sau đó, nhiều phân
khoa Truyền giáo học đã xuất hiện, chẳng hạn như
tại Ðại Học Comillas (Tây ban nha), Institut Catholique de
Paris, Louvain (Bỉ), Fordham (Hoa Kỳ), v.v. Sau Vaticanô II,
vì công việc truyền giáo gặp phải khủng hoảng cả về mặt lý thuyết lẫn
trong bình diện thực tiễn, nên những quan niệm tri
thức không còn có ảnh hưởng gì mấy nữa. Phía
Tin lành, Donald A. McGavran sáng lập trường Church
Growth School, hướng về việc đào tạo cho có
những thừa sai thực sự thành thạo và hứng
khởi; còn phía Công giáo, Ðức Gioan Phaolô
II
đã một
lần nữa,
qua thông điệp Sứ
Mệnh Ðấng Cứu Ðộ (Redemptoris missio), khẳng
quyết về ý nghĩa đích thực của tác vụ truyền
giáo.
Danh
TỪ và Ý NiỆm Muốn tìm hiểu về một bộ môn mang tính chất “khoa học,” thì cần phải dùng đến những khí cụ đặc biệt là các thuật ngữ riêng của nó. Như thần học nói chung thì Truyền giáo học nói riêng cũng có một số ý niệm chuyên biệt cần phải biết đến. Về bộ môn học này, tiếng Việt thường dùng thành ngữ “truyền giáo” hoặc “rao giảng Tin mừng” để biểu đạt nội dung sinh hoạt của nó, và gần đây, lại dùng một hán từ khác, đó là “phúc-âm-hóa,” để dịch sát nghĩa từ evangelization! Các tiếng Tây phương, gốc Latinh, thường dùng thuật ngữ missio với những ý nghĩa khác nhau, tùy theo trường phái hoặc tác giả. Ở đây, xin được lưu ý cách riêng đến một số thuật ngữ:
i. Missio,
Mission._
Nói chung, “missio” là đối tượng của “missiologia.”
“Missio” bởi động từ Latinh mittere (“sai
đi”) mà ra. Trong Kinh Thánh, không đọc thấy từ
này, nhưng các lãnh tụ như Môsê (x. Xh 3:15) hoặc
Ghêđêôn (x. Tl 6:4), và các tiên tri (x. 2Sb 24:19, Gr
7:25, v.v.) đều đã được Thiên Chúa “sai đi.”
Chính Ðức Giêsu đã áp dụng cho mình những lời
trong Is 61:1 để miêu tả sứ vụ của Ngài (x.
Lc 4:18). Khi
huấn luyện các môn đồ, Ðức Giêsu cũng đã “sai
phái” mười hai môn đồ “đi”; chính vì thế mà
các ông được gọi là tông đồ. Trong tiếng
Hylạp, apóstolos có nghĩa là “người được
sai đi,” hệt như missionarius trong tiếng Latinh.
Phúc âm Gioan thường giới thiệu Ðức Giêsu như
là Ðấng Chúa Cha sai đi/đến; và sau khi sống lại,
chính Ngài sai các môn đồ đi như Cha đã sai Ngài,
nghĩa là trao phó sứ vụ của Ngài vào tay các
tông đồ, tức vào tay của Giáo hội (x. Ga 20:21). Vì
vậy, toàn bộ sứ vụ của Giáo hội tóm gọn ở
trong sự việc được sai đi và không ngừng được
sai đi. Hồi thời tân
đại, với Inhã Loyola, từ missio đã bắt đầu
mang ý nghĩa chỉ về việc rao giảng Tin mừng cho các
dân tộc ngoài Hội Thánh. Sau đó, Thánh bộ Propaganda
Fide đã nhận missio theo nghĩa vừa nói, làm
đối tượng và mục đích của mình. Khi Truyền giáo
học xuất hiện, nhiều cách thức đã được đề
xuất để định nghĩa missio
cho thật chính xác. Các chuyên
gia về khoa môn này coi đó là “vấn đề then chốt
của Truyền giáo học,”
[4]
tuy nhiên, họ lại
không đồng ý với nhau. Cả các thành viên Uỷ ban
về truyền giáo trong công đồng Vaticanô II cũng
không nhất trí về những cách thức định nghĩa. Có
trường phái nhấn mạnh đến yếu tố địa lý;
[5]
có nhóm khác lại
chọn đức tin làm tiêu chuẩn;
[6]
cũng có trường
phái lấy Giáo hội làm quy tắc để phân biệt các
hoạt động tông đồ hoặc mục vụ.
[7]
Thật ra, trong
các thứ tiếng Tây phương, từ missio hàm ngụ
nhiều ý nghĩa khác nhau. Theo Giáo luật, missio là: 1) sứ vụ
hoặc sứ mạng của Giáo hội nói chung, bao gồm tất
cả những việc Giáo hội có bổn phận chu toàn (x.
khoản 114 và 794), hoặc mục đích cụ thể của một
người hoặc một tổ chức (x. kh 801). 2) một giáo
khu, một lãnh địa, nơi các thừa sai rao giảng Tin
mừng, hoặc đơn thuần là vùng đất thuộc Thánh
bộ Truyền giáo (x. kh 790 và TG 29b). 3) một sứ vụ
hoặc công tác tông đồ giữa dân ngoại với tất
cả những gì đi kèm theo (x. kh 791). 4) một hoạt
động đặc thù hiểu theo cách định nghĩa của
Vaticanô II: “là ‘việc truyền giáo’ tất cả
những công tác đặc biệt qua đó các nhà rao
giảng Phúc Âm, được Giáo hội sai đi khắp thế
gian, thi hành nhiệm vụ rao giảng Phúc Âm và ‘vun
trồng’ Giáo hội nơi các dân tộc, cũng như giữa
những nhóm người chưa tin vào Chúa Kitô” (TG
6c) Và khoản 786
giáo luật định nghĩa như sau: “Hoạt
động truyền giáo chính danh, qua đó Giáo hội đâm
rễ vào giữa
lòng các dân nước hay các chủng tộc, là hoạt
động tiến hành chủ yếu qua việc Giáo Hội phái
gửi những người ra đi rao giảng Phúc Âm và như
thế cho đến khi các tân Giáo Hội được
thiết lập toàn vẹn,
nghĩa là có đủ nhân lực riêng và phương tiện
đầy đủ để tự mình thực hiện công tác truyền
bá Phúc Âm.” Thật ra, TG 1-5
dùng từ missio theo nghĩa rộng; rồi từ số 6
trở đi, lại
bắt đầu bàn về missio theo nghĩa hẹp, tức
đề cập đến việc truyền giáo cho những người
không-kitô. Ðể tránh lối hiểu mập mờ sinh ngộ
nhận, Ðức Gioan Phaolô II đã dùng thành ngữ
“missio
ad gentes” trong
thông điệp Sứ Mệnh Ðấng
Cứu
Ðộ cũng như về
sau. Trong Giáo
Lý Hội Thánh Công Giáo, từ missio
cũng được hiểu tương tự như ở trong Giáo luật
(x. các số 849-856). Hiện nay, các
tác giả nêu lên những yếu tố này nọ tùy theo
lập trường riêng. Trong chiều hướng đó, D. A.
McGravran, Tin lành, định nghĩa việc truyền giáo “là
sự nghiệp chuyên biệt nhằm tới việc tuyên báo
Tin mừng của Ðức Giêsu Kitô, cùng thuyết phục
mọi người trở thành môn đồ của Ngài và trở
nên thành viên tận tâm tận lực của Giáo hội
Ngài.”
[8]
5) ủy nhiệm (missio
canonica), tức quyền nhận được để có thể thi
hành thừa tác vụ Lời Chúa, hoặc để hành quyền
trong Giáo hội. Bộ Giáo luật mới không còn dùng
từ này; hiện giờ, ý niệm này được biểu đạt
bằng từ mandatum. ii. Missionarius,
missioner, missionary là thừa tác viên của missio,
tức nhà thừa sai. Vaticanô II dành trọn chương 4
của Sắc lệnh TG để nói về các vị này. Giáo
luật giải thích: “Các nhà thừa sai – tức những
người được thẩm quyền Giáo hội phái đi làm
việc truyền giáo – có thể được tuyển chọn từ
các người bản xứ hay không phải bản xứ, hoặc
từ các giáo sĩ triều, hoặc từ các phần tử
thuộc Hội Dòng tận hiến hay tu đoàn tông đồ,
hoặc từ các giáo dân” (kh 784). Ðáng chú ý là
giáo luật đã không đề cập đến yếu tố địa lý
(“missions étrangères”) như phải đi xa, đi
đến với các dân tộc khác, v. v.; như thế, có
thể là thừa sai ngay tại trong nhà, trong quê hương
đất nước và văn minh văn hóa của mình. Thế
nhưng, cũng không ai có thể tự sai phái mình đi,
song phải nhận ơn ấy từ “bề trên,” tức từ
người có thẩm quyền trong Giáo hội (có thể là
qua Hội Dòng, chẳng hạn); lý do là vì việc loan Tin
mừng cứu độ là việc trọng yếu,
đến
từ bên trên và phải được chu tất với một số
điều kiện. Ðức Kitô cũng đã được Chúa Cha sai
đến, chứ không phải tự mình mà đến (x. Dt 5:5);
rồi chính Ngài đã sai các tông đồ đi, v.v. Lẽ dĩ
nhiên vẫn có thể có những trường hợp ngoại
lệ; tuy nhiên, để trở thành thừa sai thì phải
được sai phái, tức là nhận được sứ mệnh,
một sứ mệnh không phải tự mình đặt ra cho mình,
nhưng là của Ðức Kitô và Giáo hội. Dù không
cần phải đi ra nước ngoài, thì cũng vẫn còn phải
vượt qua một thứ “biên giới,” biên giới của
đức tin, ranh giới của Giáo hội, để bước sang
lãnh vực, thế giới “không-kitô.”
iii. Xứ truyền
giáo hoặc “terre de mission”
(x. kh 790) là gì?
Sắc lệnh TG 38 và 41 coi là “miền truyền giáo”
những vùng đất chưa có Giáo hội riêng, hoặc vì
số tín hữu còn quá ít hoặc vì số giáo sĩ còn
quá thiếu, v.v.; thường thì các vùng đất như thế
thuộc thẩm quyền Bộ Truyền giáo. Gọi là “xứ
truyền giáo” những nơi chưa có Giáo hội địa
phương với hàng giáo phẩm và những cơ cấu đầy
đủ; hoặc dù đã có như vậy, nhưng đại đa số
người dân chưa tin vào Chúa Kitô. Hiện nay, không
như ngày trước, thành
ngữ này ít được dùng đến, bởi tình
trạng đa dạng tôn giáo đang lan rộng hầu như khắp
nơi. Ðể xác định môi trường truyền giáo, có khi các
tiêu chí địa lý (như các nước
Ả rập, Nhật bản, v.v.), hoặc chủng tộc (như truyền
giáo cho dân H’mong), hoăïc tầng lớp xả hội (như mission
ouvrière, ở Pháp) cũng được dùng đến; song,
việc dùng danh xưng chỉ là vấn đề phụ. iv. Truyền bá
Phúc Âm (evangelization) là một ý niệm mập
mờ. Có khi muốn chỉ về “việc tông đồ” nói
chung, như đọc thấy trong các khoản 298 và 843 của
Giáo luật; có khi thì lại đồng nghĩa với “truyền
giáo,” như gặp thấy trong khoản 781 và 786. Danh từ
này phát nguyên từ evangelium (Phúc Âm), và
trong tiếng Việt được dịch ra là “phúc âm hóa”:
nghe qua, cũng hơi lạ tai. Có khi người không-kitô
dùng từ evangelization theo nghĩa là giảng đạo
hoặc tuyên truyền tôn giáo nói chung.
[9]
Ý niệm ấy xuất
xứ từ Kinh Thánh, với ý nghĩa chung là loan báo
Tin mừng (x. Lc 1:19; 2:10; 4:18, v.v.). “Tin mừng”
ấy có thể là sự việc Ðấng Mêsia đến (x. Lc
2:10), hoặc “Nước Thiên Chúa” đến (x. Lc 4:43;
16:16), hoặc niềm chờ mong của dân đã đến hồi
toại nguyện (x. Lc 4:18; 7:22; 9:6, v.v.). Sau Phục sinh, “Tin
mừng” là Chúa Kitô đang sống, đã lên trời,
đang hành sự như Ðấng Cứu thế của muôn dân,
v.v. Chính Ngài là nội dung của Tin mừng (x. Cv 5:42).
Vì thế, danh từ Tin mừng (evangelium, Gospel)
bao gồm toàn bộ biến cố Ðức Kitô với trọn ý
nghĩa cứu độ của nó; thế nên, rao giảng Tin mừng
hoặc loan truyền Tin mừng có nghĩa là làm cho
người ta biết Ðức Kitô, thuyết phục họ theo
Ngài, mở rộng cộng đồng môn đồ, v.v., như thánh
Phaolô đã từng nhắc nhở (x. Rm 1:1; 1Cr 1:17; Gl
1:6.7.11, v.v.). Trong lịch sử, tuyên bố Phúc Âm (evangelizare,
evangelize) là mục đích của Giáo hội: “Sở
dĩ có Giáo hội là để tuyên bố Phúc Âm,” như
Ðức Phaolô VI viết.
[10]
Vốn có gốc Tin
lành (thế kỷ 19), thuật ngữ evangelization đã
được Ðức Phaolô VI phổ biến giữa giới Công
giáo qua tông huấn Công Bố Tin Mừng (Evangelii
Nuntiandi, năm 1975). Ðể xác định ý nghĩa của khái niệm bao quát ấy, thần học phân biệt ba dạng rao giảng Tin mừng (evangelization): 1) rao giảng Tin
mừng lần đầu (prima evangelizatio, first evangelization)
– như nhiều tác giả thường nói – trong một vùng
đất, một lãnh vực văn hóa, một dân tộc, v.v.
chưa bao giờ đón nhận Tin mừng; 2) rao giảng Tin
mừng lần thứ hai (secunda evangelizatio, second
evangelization) trong một môi trường đã từng là
kitô giáo, nhưng nay đã mất đức tin, không còn
thuộc về cộng đoàn Giáo hội; 3) rồi, nhân
dịp năm thánh 2000, Ðức Gioan Phaolô II đã nói
đến new evangelization; và thành ngữ này đã
được hiểu nhiều cách khác nhau: hoặc là rao giảng
Tin mừng theo một cách thức mới, hoặc là rao
giảng lại một lần nữa, hoặc là cả hai... v. Pre-evangelization
tức “tiền phúc âm hóa,” là công tác hoặc giai
đoạn chuẩn bị cho việc rao giảng Tin mừng. Ðối
với ý niệm này, nhiều tác giả đã tỏ thái độ
phủ nhận hoặc lên tiếng sôi nổi đặt lại vấn
đề. Vaticanô II đã không dùng từ này. vi. Ðối thoại
liên tôn là một ý niệm tương đối mới. Vaticanô
II đã khuyến khích Giáo hội nói chung xây dựng quan
hệ giao hảo với mọi người, đặc biệt là
với tín đồ thuộc
các tôn giáo khác “bằng con đường đối thoại
và hợp tác” (NK 2); trong khoản 787, Giáo luật cũng
nhắn nhủ các thừa sai để tâm theo sát con đường
ấy. Giáo Lý
Hội Thánh Công Giáo
nhiều lần nhấn mạnh đến điểm này, cả đến trong đoạn
văn nói về công tác truyền giáo (x. số 856). Thần
học Châu Á đã đặc biệt khai triển rộng rãi và
tiến hành công tác ấy. vii. Công tác
phát triển quả có quan hệ chặt chẽ với công
cuộc truyền giáo, nhất là qua hoạt động giáo dục
của Giáo hội. Trong thập niên 70, lúc thần học
giải phóng đang thịnh, có tác giả đã cho rằng
công cuộc truyền giáo và công tác phát triển là
hai hoạt động đối nghịch nhau. viii. Hội nhập văn hóa là điểm quan trọng, đặc biệt tại Châu Á và Châu Phi. Từ lúc khởi nguyên, Kitô giáo đã bắt tay ngay vào công tác này, tức là đã tiến hành nỗ lực bản xứ hóa ở khắp nơi. Nhưng, suy tư về quan hệ giữa Phúc Âm và văn hóa cùng về quá trình “hội nhập văn hóa” là sự việc mới. Các văn kiện của Vaticanô II cũng như bộ Giáo luật không biết đến từ này, và Giáo Lý Hội Thánh Công giáo cũng chỉ ám chỉ tới từ này có một lần (x. số 854). Vậy mà, hiện giờ, trong Truyền giáo học không một chủ đề nào được khai triển nhiều qua các bài viết và sách vở cho bằng chủ đề này. Tòa thánh cũng đã đề xuất một số tài liệu về chủ đề. Ðức Gioan Phaolô II định nghĩa công tác ấy là “sự biến đổi sâu xa của các giá trị văn hóa đích thực một khi được sáp nhập vào Kitô giáo, và là việc Kitô giáo hòa nhập vào một nền văn hóa cụ thể.” [11]
Nhân
loẠi thỜi nay đỐi vỚi Kitô
giáo Hai mươi thế
kỷ sau Phục sinh, sứ mạng Ðức Kitô phó thác cho
các tông đồ chưa hoàn tất. Lệnh truyền “làm cho
muôn dân trở nên môn đệ” đã có kết quả
tích cực ở một phần thế giới, song lại xem ra
thất bại ở một số nơi khác, như tại Châu Á.
( Các con số trong bảng thống kê dân số dưới đây phải x1,000)
Nếu nhìn vào Châu Á, thì sẽ thấy tình trạng còn bi đát hơn nữa:
(Annuarium
Statisticum Ecclesiae 1997, tt. 37-39)
* * * Những con số lạnh
lùng ấy chưa kể ra hết chuyện. Châu Âu và Bắc Mỹ có
vẻ như là kitô giáo; nhưng thật ra đa số không sống đạo,
và thế hệ trẻ hoặc không theo đạo hoặc không được
rửa tội. Tại các Châu này, số người vô thần hoặc vô
tôn giáo thật ra lớn hơn nhiều, nhất là số những
người sống “như không có Thiên Chúa.” Tại “thế giới thứ
ba,” tức là tại những vùng đất có “nhiều tôn giáo
nhất,” thì còn thấy được những hiện tượng có thể
có ảnh hưởng đến lãnh vực truyền giáo. Xin nhắc tới
hai hiện tượng sau đây:
đô
thỊ hóa Trong tương lai gần
đây, đa số dân thế giới, kể cả người
Châu Á và Châu Phi, rồi sẽ sinh sống và hoạt động
ở trong các đô thị lớn. Vào lối năm 2025, một phần
nửa thế giới sẽ sống ở thành phố. Hiện tượng này
đặt ra nhiều vấn đề về mọi phương diện. Ðối với việc
truyền giáo, nên lưu ý điểm này là Kitô giáo đã bắt
đầu ở trong các đô thị: các tông đồ – nhất là
Phaolô – đã chọn các thành phố để rao giảng Tin mừng. Giáo hội cần phải
chuẩn bị thừa sai đặc biệt cho các đô thị. Vô số dân
chúng đang sống trong một tâm trạng lộn xộn, vì đã đánh
mất đi những tọa độ cổ truyền từng đóng góp để
giữ vững trật tự xã hội và tôn giáo qua bao nhiêu thế
kỷ. Trong các đô thị, họ phải sống cô đơn, vô danh, bơ
vơ về mặt luân lý, dễ bị lôi cuốn về đàng xấu, nhưng
cũng dễ mở ra cho hướng đi mới về phía tín ngưỡng tôn
giáo. Giáo hội có thể cống hiến cho họ, cho hàng triệu
triệu người, một “gia đình” thiêng liêng, một căn tính
mới, cả tâm lý lẫn tôn giáo. Trong môi trường vô danh
nơi các đô thị, Kitô giáo phải suy nghĩ lại cho kỹ về
cách tổ chức cộng đoàn Giáo hội làm sao để các tín
hữu tìm được cơ hội sống đạo theo một cung cách mới,
giữa những đoàn nhóm thật sự thân tình, ưu ái, có
khả năng đón nhận thành phần mới và dẫn
nhập họ vào đời sống đức
tin, chia sẻ Lời Chúa, cầu nguyện,
tương trợ, v.v. Các cộng đoàn cơ bản có thể đóng một
vai trò hết sức tính cực và hữu hiệu trong lãnh vực
mục vụ đô thị mai ngày.
toàn
cẦu hóa Hiện tượng nước
đôi này trước hết mang tính chất kinh tế và văn hóa,
nhưng cũng sẽ kéo theo những hậu quả khó xử về mặt
tôn giáo. Cứ vào một siêu thị thì sẽ thấy đủ mọi
thứ hàng hóa đến từ khắp nơi trên thế giới; cứ
đánh một vòng tham quan thì sẽ thấy không
biết bao nhiêu công ty
địa
phương đang chế tạo sản phẩm cho các “công ty mẹ” ở
nước ngoài. Người ở đâu đâu trong thế giới, nhất
là người trẻ, cũng đều trang phục hệt như nhau, cũng
đều nhảy đều vũ cùng một điệu như nhau, cũng đều chạy
theo những “phong trào” như nhau, cũng đều coi những
chương trình TV và phim ảnh hệt như nhau, v.v. Trong các tiệm
sách, lẫn trộn những tác phẩm nội ngoại; trong các đại
học, giao thoa những luồng tư tưởng khác nhau, tác dụng
vào nhau, đẻ ra những khái niệm lai căng, v.v. Phong tục,
tập quán cũng có vẻ đang hướng về tình trạng đồng
nhất hóa, vì ngày càng nhiều người, vốn xuất thân từ
những nền văn hóa khác nhau, thường đi lại, tiếp xúc,
sống chung và hợp tác với nhau trong những dự án chung,
cùng nhìn về một tương lai chung, v.v. Một loại ngôn ngữ
phổ quát đang hình thành để làm khí cụ trao đổi chung. Về phương
diện tôn giáo, đa số các
nước có nhiều tín ngưỡng khác nhau đều sống chung với
nhau, trong một bầu khí khoan dung và tự do. Có người còn
gợi lên hình ảnh “siêu thị tôn giáo,” làm
như thể mỗi
người có thể tự chọn lấy tôn giáo cho mình hoặc tuy nghi
lẫn trộn những yếu tố của các tôn giáo theo sở thích
riêng. Làm thế thì quả là khó để mà nói về “tôn
giáo thật.” Tình huống này khơi
dậy những phản ứng khác nhau. Nhiều người lo sợ sẽ
đánh mất căn tính và chủ trương bênh vực đặc nét của
riêng nước mình, của riêng nền văn hóa, bộ lạc mình
v.v.; và từ đó, một mực từ chối tất cả những gì là
“ngoại lai” và đi theo những chủ nghĩa dân tộc hay quốc
gia, chủ nghĩa công xã (communalism) hoặc là tôn giáo,
v.v. Có khi những nỗ lực hội nhập văn hóa cũng bị nhiễm
một thứ ý thức hệ tương tự như thế. Về phương diện truyền
giáo, tình trạng này đặt ra một thách đố lớn. Có tinh
thần tông đồ thực sự thì người kitô có thể ảnh
hưởng đến hàng triệu người đang khát Tin mừng về
Ðức Kitô. Việc
hội
nhập văn hóa ở đây mang một ý nghĩa khác. Ngày nay,
kitô hữu nào cũng có thể dễ dàng dấn thân cho việc
truyền giáo, nhất là chỉ trong một thời gian tương đối
ngắn, bởi lẽ điều kiện di chuyển và di trú đã trở
nên đơn giản; cũng tương tự như thế đối với việc trao
đổi tư tưởng với người xa lạ: chỉ cần dựa vào
những giá trị và phạm trù chung của dạng văn hóa phổ
quát là có thể có được phong thái “công giáo = phổ
quát” trong cách thức ứng xử. Mặt khác, trong cuộc chung
sống với các tôn giáo khác, Kitô giáo hiện phải đương
đầu với thái độ coi mọi giá trị đều là tương đối,
tôn giáo nào cũng đều tốt. Trong bối cảnh này, Ðức
Kitô xuất hiện chỉ như là một giữa các vị sáng lập tôn
giáo. Nếu phải so sánh, thì theo con mắt loài người, Kitô
giáo và các kitô hữu chưa chắc đã xuất sắc hơn các
tôn giáo khác và các tín đồ của họ, v.v. Ðể làm thừa
sai trong thời nay, thì không phải chỉ cần được đào tạo
cho chu đáo hơn mà thôi, nhưng nhất là còn cần phải trở
nên thánh thiện hơn, để có thể qua cuộc sống của mình,
làm chứng cho Tin mừng mình rao giảng. Hơn bao giờ hết, bây
giờ là lúc giáo lý và đời sống, lý tưởng và thực
tế phải thực sự đi đối với nhau.
trao
đỔi thỪa tác viên Ngày
trước thường nghe nói các “nước kitô giáo” gửi
thừa sai đến các “vùng đất truyền giáo.” Bây giờ
tình trạng đã thay đổi nhiều. Xin xem sau đây thống kê
thực hiện hồi cuối thế kỷ 20:
* * *
Từ những con
số trên đây, có thể rút ra một bài học. Trước
hết, mỗi lục địa (mỗi Giáo hội địa phương) đều
phái gửi và đón nhận thừa sai. Thứ đến, các
Giáo hội Châu Âu hiện đang phái gửi nhiều thừa
tác viên đi truyền giáo, lại đang thiếu ơn gọi. Vì
thế, trong tương lai, sẽ không còn hay còn rất ít
người để đến truyền giáo nước ngoài. Các “Giáo
hội trẻ” sẽ phải đảm nhận nhiều hơn công tác
truyền giáo. Tại Châu Á, Ấn độ, Plilippines, Ðại
hàn, v.v. đã có những hội truyền giáo. Vì tự
bản tính, Giáo hội là truyền giáo, và vì hiện
trạng tôn giáo trong thế giới đòi hỏi, nên mỗi
Giáo hội sẽ phải vừa phái gửi mà cũng vừa
đón nhận thừa sai; như thế, công tác rao giảng Tin
mừng sẽ là việc trao đổi giữa các Giáo hội
địa phương.
* nhỮng
khuynh hưỚng mỚi trong
thẦn hỌc vỀ truyỀn giáo
Sau Vaticanô II,
các ngành thần học đã sôi nổi đề xuất những
giả thuyết mới về hết mọi khía cạnh của Giáo
hội, trí thức lẫn thực tiễn. Riêng Truyền giáo
học đã bị ảnh hưởng nặng do cuộc khủng hoảng
xảy ra trong quan niệm đối với hoạt động truyền
giáo; thế nên, liên quan đến truyền giáo, thần
học đã đề xuất nhiều luận đề mâu thuẫn với
nhau, xuất xứ từ nhiều chủ trương rất khác nhau:
từ những nhóm bảo thủ tuyệt đối không muốn
đổi thay
gì cả
(thường
là
các giáo phái nhiệt tâm),
cho đến
những người chủ trương phải ngưng hẳn hoạt động
truyền giáo. Trước tình cảnh ấy, các nhà truyền
giáo học đã ra sức giải đáp các vấn nạn do
khủng hoảng đặt ra
và phối
hòa nhiều yếu tố suy tư xem ra mâu thuẫn (chẳng
hạn: truyền giáo và đối thoại);
rất nhiều sách
vở đề cập đến vấn đề.
[13]
Giáo hội Công
giáo đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề và đã
chính thức lên tiếng.
Khóa họp năm
1974
của Thượng Hội Ðồng Giám Mục do Ðức Phaolô VI
thiết lập (1965), đã chọn “truyền giáo” làm chủ
đề, và Evangelii Nuntiandi (1975) là kết quả của
kỳ nhóm họp ấy. Khi Vaticanô II chưa hoàn toàn kết
thúc, thì Ðức Phaolô VI đã công bố Ecclesiam suam
(1964) với chủ đề “đối thoại” và nhấn mạnh
đến nhiệm vụ số một của Giáo hội là rao giảng
Lời Chúa.
Sau đó, trong
Populorum progressio (1967) ngài đã đưa toàn thể
Giáo hội dấn thân vào công cuộc phát triển, coi
đó là “tên gọi mới của hòa bình.” Thông
điệp này ảnh hưởng đến tư tưởng về truyền
giáo, dù Evangelii nuntiandi là văn
kiện quan trọng
nhất của ngài liên quan đến công tác truyền giáo.
Ðức Gioan Phaolô II là Vị Giáo hoàng và là
người đã rao giảng Tin mừng cho nhiều người nhất
trong 20 thế kỷ qua.
Năm 1985, ngài công bố
thông điệp Slavorum Apostoli, về công việc
truyền giáo mẫu mực của hai thánh Cyrillô và
Mêthôđiô. Trong thông điệp về Chúa Thánh Thần
(1986), ngài đã khai triển thần học về Thần Khí và
về thời đại của Giáo hội, tức về giai đoạn
truyền giáo trong lịch
sử
cứu độ.
Trong Ut unum sint
(1995), ngài coi đại kết là điều kiện thiết yếu
cho công tác truyền giáo (x. số 98). Và Redemptoris
missio (7-xii-1990) quả là một tập luận thuyết
hoàn chỉnh về Truyền giáo học. Cuối cùng, trong các
tông huấn ban bố sau các hội nghị của mỗi lục
địa, ngài luôn luôn nhắc đến công tác “tân
phúc âm hóa,” đặc biệt là trong các tông huấn Ecclesia
in Africa (1995),
Ecclesia
in Asia (1999) cũng như
trong tông huấn về Châu Mỹ (1999). Công cuộc truyền giáo
còn được trực tiếp đề cập đến dưới ánh
sáng giáo lý và thần học, trong nhiều văn kiện
khác của Ðức Gioan Phaolô II.
FABC
[14]
I (Taipei, 1974) đã
chọn “Công cuộc rao giảng Tin mừng và Châu Á
ngày nay” làm chủ đề. Các văn kiện của Liên
hiệp đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ truyền giáo của
Giáo hội. Năm 1993, Hội đồng Châu Á về truyền
giáo đã bàn thảo về đề tài “Hãy mở rộng
cửa cho Chúa Kitô,” và trong lần họp năm 2000,
trung thành với tinh thần ấy, Hội đồng đã khẳng
quyết rõ hơn nữa về bổn phận truyền giáo. Evangelii
nuntiandi (tông huấn Công
Bố Tin Mừng = CB ) đã ảnh hưởng rất sâu
đậm đến các nỗ lực
suy
tư công giáo về sứ mạng truyền giáo. Ý niệm về thừa
tác vụ này đã mở rộng: không chỉ là loan báo
Tin mừng hoặc dạy giáo lý hay là thiết lập giáo
hội,v.v., mà còn cho thấy “Giáo hội có bổn phận
loan báo sự giải phóng cho hàng triệu người
(nhiều người trong số đó là con cái của mình!),
có bổn phận góp phần vào cuộc giải phóng ấy,
làm chứng cho nó và làm cho nó thành tựu chắc
chắn” (CB 30). Thần học
gọi quan niệm này là “ý niệm toàn diện” (holistic
concept) về việc rao giảng Tin mừng. “Giải phóng”
muốn nói ở đây là trừ bỏ nghèo đói, mù
chữ, bệnh tật, tham nhũng, hối lộ, và mọi thứ
áp bức như việc bóc lột kinh tế hoặc chế độ
độc tài chuyên chính, v.v. Sứ mệnh của Giáo hội
có quan hệ đến tất cả mọi khía cạnh trong cuộc
sáng tạo của Chúa Cha, trong công trình cứu chuộc
của Chúa Con, và trong cuộc đổi mới muôn vật do
Thánh Thần thực hiện. Một điểm
khác là ý thức về tính cách “toàn cầu” của
công tác truyền giáo, nghĩa là cần phải
rao giảng Tin mừng ở khắp nơi, trong mọi nước, vì
ở khắp nơi còn có những nhóm người chưa bao
giờ nghe biết về Ðức Kitô. Vả, chính vì thế mà
phải coi việc sai phái các thừa sai là một việc
làm hai chiều: mọi giáo hội đều sai phái và đều
đón nhận; như thế có nghĩa là mọi giáo hội địa
phương đều phải đặt mình vào trong “tình trạng
truyền giáo.”
Các văn kiện
chính thức của huấn quyền cũng như thần học đều
đồng thanh nêu bật vai trò của Thần Khí trong sứ
mệnh truyền giáo. Dựa vào sự kiện này, một số
tác giả đã phê bình điều họ gọi là “ý niệm
quy-Kitô” trong cách hiểu về sứ mệnh ấy và khai
triển một ý niệm khác, ý niệm “quy-Thần Khí,”
để từ đó đi đến chỗ không còn coi Giáo hội
là mục đích của tác vụ truyền giáo và lấy “vương
quốc” mà thay vào. Kết quả là, một đàng, ý
niệm “rao giảng Tin mừng” trở nên quá mập mờ,
nước đôi, và, đàng khác, nhiều thừa tác viên
không còn truyền giáo nữa, mà chỉ lo cho mọi
người trở nên tốt hơn trong tôn giáo (hay trong
quan niệm
sống, có khi là vô tôn
giáo) của họ.
Vì thế, để chỉnh tu
khuynh hướng này, thông điệp Redemptoris missio
đã dành hai chuơng II và III để bàn về “Vương
quốc” và về “Thần Khí.” Chắc hẳn chiều kích
Thần Khí đã mở rộng chân trời của Giáo hội
và làm cho sứ mệnh của Giáo hội thêm phong phú
hơn. Một thành quả tích cực khác là thái độ
lạc quan đối với các thực tại trần thế, nói
chung, và đối với các tôn giáo, nói riêng.
Cả hai yếu tố
đã hòa nhập vào ý niệm về mission hay evangelization,
tức vào trong sứ mệnh của Giáo hội: nhờ ảnh
hưởng đặc biệt của Dòng Tên qua nỗ lực đẩy
mạnh công tác promotio justitiae, tức là cổ vũ
công bằng xã hôi, và thứ đến là nhờ công
cuộc đối thoại liên tôn. Giáo triều Rôma đã
thiết lập những Hội đồng Tông tòa (Pontifical
Councils) để phối hợp các hoạt động liên quan
đến các tôn giáo (Ðối thoại)
và các hoạt
động từ thiện, phát triển (Cor Unum, Justice
and Peace,
v.v.). Ðức
Gioan Phaolô II khẳng định rõ: “Con người là con
đường Giáo hội phải dấn bước vào, để thực
thi sứ mệnh của mình: con người là chính lộ...
một cách nào đó, quan lộ này là con đường cơ
bản của hết mọi nẻo đường Giáo hội phải đi.”
[15]
Từ đó xuất hiện
dạng “Truyền giáo học từ dưới lên” (missiology from
below), lấy thực trạng bối cảnh xã hội, tôn
giáo, chính trị, v.v. nơi môi trường các thừa sai
hoạt động, làm khởi điểm. Vì thế, những tác
phẩm viết về dạng Truyền giáo học này, mang sắc
thái “nhân chủng học” nhiều hơn là “thần học.”
[16]
Cuối cùng còn
có công cuộc Ðại kết: thật ra, phong trào hiệp
nhất là con đẻ của tác vụ truyền giáo. Công
đồng Vaticanô II đã lồng mối quan tâm đại kết
vào trong các văn kiện và trào lưu tư tưởng chính
công đồng khơi dậy. Riêng trong lãnh vực Truyền
giáo học, khó mà phân biệt được giữa thần
học Tin lành và thần học Công giáo, vì hai bên
không ngừng trao đổi tư tưởng về sứ vụ chung
này và ra sức hợp tác trong nỗ lực rao giảng Tin
mừng, dù vẫn còn phải tiến thêm nhiều hơn nữa
trên con đường đại kết.
Các
Giám mỤc châu Á vỚI cÔNG TÁC TruyỀn giáo
Ngay từ phiên
họp đầu tiên
(1974),
FABC đã
chọn việc “Rao giảng Tin mừng tại Châu Á ngày nay”
làm chủ đề, và đã nhấn mạnh đến việc cần
phải mặc Á đông tính cho công tác truyền giáo
tại Châu Á, nghĩa là cần phải đối thoại với
dân nghèo, với các nền văn hóa và với các
tôn giáo bạn. Vì thế, Liên hiệp đã thiết lập
các văn phòng đặc nhiệm là BISA, BIMA và BIRA,
[17]
cũng như thể chế cho
hoạt đôïng xã hội,
truyền giáo và cho
công cuộc đối thoại liên tôn. Cứ bốn năm một
lần, các tổ chức này nhóm họp, bàn luận về
một đề tài và đề xuất một văn kiện tổng kết.
Nếu thu tập các tài liệu này lại thì sẽ có
được một bộ giáo lý phong phú về Truyền giáo
học. Thêm vào đó, tại Manila (tháng 12, 1979) đã
có một hội nghị quốc tế về truyền giáo, và một
hội nghị khác của các cố vấn thần học nhóm họp
tại Hua Hin, Thái lan (tháng 11, 1991), cùng
gần một 100 FABC Papers, tức là những bài
viết của các chuyên gia về hầu hết mọi khía cạnh
trong sứ mệnh của Giáo hội.
Một điểm nổi
bật là Giáo hội Châu Á không ngừng tự nhắc
nhủ là mình có nhiệm vụ không thể lẩn tránh
được đối với việc rao giảng Tin mừng cho đồng
bào chưa được nghe biết về Ðức Kitô, hoặc chưa
hưởng được ơn cứu độ toàn vẹn trong Giáo
hội. Từng
có kinh
nghiệm về tình thương của Thiên Chúa và hằng sẵn
sàng thực thi mệnh lệnh của Chúa Phục sinh (x. Mt
28:20), tất những tâm hồn tín hữu Châu Á sẽ
hăng say xả thân vào việc truyền giáo để thể
hiện lòng biết ơn đối với Cha Cả trên trời và
tình mến đối với đồng bào của mình, bởi xác
tín rằng Tin mừng chính là men giải phóng, chính là
sức năng biến đổi xã hội.
[18]
Không ai –
nhất là giữa các giám mục – lại không ý thức
về ưu tiên hàng đầu và tính chất khẩn cấp của
tác vụ truyền giáo; nhưng vấn đề là cần phải
tìm cho ra phương pháp mới để truyền đạt Tin
mừng, bởi xem ra các phương pháp cổ truyền không
còn mang lại được hiệu năng thích đáng. Ðể có
thể tìm thấy được một “kiểu Á đông” trong
phương cách truyền giáo, thì các Giáo hội địa
phương phải được bản xứ hóa thật sự. Nói về
“một Giáo hội theo cung cách mới” là muốn ám
chỉ đến một dạng Kitô giáo “thực sự Á đông.”
Năm 1970, nhân dịp Ðức Phaolô VI viếng thăm Phi
luật Tân, 180 giám mục từ khắp nơi trong Châu Á
đã nhóm họp tại Manila và đã khởi động cuộc
cùng nắm tay hợp tác với nhau. Các ngài đã đề
xuất một văn kiện, trong đó quyết định số 13 dứt
khoát lên tiếng ủng hộ việc xây dựng “một nền
thần học bản xứ để nhờ đó, sinh hoạt kitô và
sứ điệp Tin mừng nhập thể ngày càng sâu đậm
hơn vào trong các nền văn hóa cổ truyền phong phú
của Châu Á.”
[19]
Sau đó, tất cả
các văn kiện của FABC và của các văn phòng đặc
nhiệm đều, bằng cách này hay cách khác, nhắc đến
công tác “hội nhập văn hóa” dù có khi không
phải là theo dạng biểu đạt minh nhiên. Những lãnh
vực các nỗ lực kia nhằm tới là toàn bộ Giáo
hội: cơ cấu tổ chức, phụng vụ, tư tưởng, sinh
hoạt đối nội và đối ngoại... Ðại hội lần thứ
7 (3-13 tháng 1 năm 2000) của FABC kết luận rằng “Chứng
tá đời sống đã và bao giờ cũng là
phương thế Phúc âm hóa và phục vụ hữu hiệu
nhất.”
[20]
Cần phải cổ vũ
những giá trị thuần túy Á đông như tinh thần
chiêm niệm, thái độ coi trọng sự sống hơn lý
thuyết và đối xử thuận hòa với mọi người,
lòng cảm thương đối với người dân khốn khổ, thái
độ tôn trọng thiên nhiên. Về mặt đối ngoại (như
truyền giáo chẳng hạn), Giáo hội Châu Á nêu bật
phương cách Á đông, tức là trước hết,
làm chứng bằng đời sống và đối thoại với
các thực tại xã hội: người nghèo, các nền văn
hóa và tôn giáo, vì Châu Á là quê hương của
nhiều nền văn hóa cổ kính và phong phú, của những tôn
giáo lớn và sống động, và cũng là
nơi có người nghèo nhiều nhất trong thế giới.
Hơn tại bất
cứ lục địa nào khác, tại
Châu Á, Giáo
hội hiện đang phải đối diện với một nhu cầu hết
sức to lớn và bức thiết: nhu cầu đối thoại
liên tôn. Ðể tiến hành công tác ấy, FABC dựa
vào nguyên tắc thần học sau đây: Thần Khí hằng
hoạt động khắp mọi nơi, trong mọi lương tâm và
nơi mọi tôn giáo. Mặt khác, nhìn thực tại với
óc thực tế, và thường xuyên sống đối diện
với các tôn giáo khác, Giáo hội tất phải chọn
lối hoạt động song đôi: một đàng, hợp tác với
các tôn giáo bạn trong nỗ lực nâng đỡ và xoa
dịu mọi thứ khổ đau; và đàng khác, kiên trì trao
đổi với các tôn giáo, coi
đó là đối tượng nhắm vào trong khi loan báo
Ðức Kitô, nguồn cứu độ phổ quát cho toàn thể
nhân loại. Tương lai truyền giáo rồi sẽ cam go hơn
vì phải đương đầu với tình trạng “tranh đua,”
bởi các tôn giáo Châu Á cũng có những phương
thức riêng và rất tích cực trong việc truyền
đạo. [1] L. Ruetti, Zur Theologie der Mission: Kritische Analysen une neue Orientierungen, Mainz/Muenchen 1972; T. Sundermeier, “Theology of Mission,” trong K. Mueller, SVD (ed), Dictionary of Missiology, Orbis Books 1997, 429-450. [2] Văn kiện Dominus Jesus (6-viii-2000) là thí dụ điển hình: về phương diện giáo lý không có gì mới, nhưng ở nhiều nơi, “dư luận” đã phản ứng rất tiêu cực, cả từ những người chưa bao giờ đọc qua tài liệu! [3] AAS 11 (1919) 448. Xem tác phẩm của Jan A. B. Jongeneel, Philosophy, Science and Theology of Mission in the 19th and 20th Centuries. A Missiological Encyclopedia, Part II, Frankfurt: Peter Lang 1997; Karl Mueller, Th. Sundermeier, S. B. Bevans and R. H. Bliese (eds), Dictionary of Mission: Theology, History, Perspectives, Orbis Books 1997. [4] Cuốn sách quan trọng của E. Loffeld mang nhan đề Le problème cardinal de la missiologie et des missions catholiques, Rhenen 1956. [5] Với những thành ngữ Missions étrangères, Mission lands, terre de mission, v. v.
[6]
Với hạn từ “dân ngoại,” hoặc missions aux infidèles,
heathen missions, Propaganda Fide… v.v. [7] Thành ngữ căn bản ở đây là Plantatio Ecclesiae, planter l’église, planting the Church, v.v. [8] McGravran, D. A., Undestanding Church Growth, Grand Rapids: Eerdmans 1990, tr. 24. [9] Xem Cheng, Chen-huang, “A model of evangelization for an interreligious world,” Inter-Religio 25 (1994) 21-27; bài này nói về “evangelization” Phật giáo ở Ðài Loan. [10] Evangelii Nuntiandi 14. [11] Xem Redemptor Hominis số 52. [12] Nguồn: David B. Barrett and Todd M. Johnson, “Status of Global Mission in the Context of 20th and 21st Centuries,” in International Bulletin, January 1999. [13] Xin xem James M. Philipps and Robert T. Coote (eds), Towards the 21st century in missions, Grand Rapids: Eerdmans 1995; Bevans, S. B., New Directions in Mission and Evangelization, New York: Orbis Books 1992; Charles Van Engen, Mission on the way - Issues in mission theology, Grand Rapids 1996. [14] Liên Hiệp các Hội Ðồng Giám mục Châu Á. [15] Redemptor Hominis, 14; xin xem thêm Salvifici Doloris, tr. 5; Dominum et Vivificantem, 58, 67. [16] Louis J. Luzbetak, SVD, The Church and Cultures: New Prespctives in Missiological Anthropology, Orbis Books 1988. [17] BISA: Bishops’ Institute for Social Action, BIMA: Bishops’ Institute for Missionary Apostolate, và BIRA: Bishops’ Institute for Interreligious Affairs. [18] Xem FABC Paper số. 84 “Discovering the Face of Jesus in Asia Today” 1.4. [19] G. D. Rosales and C. G. Arévalo (eds), For All Peoples of Asia: Federation of Asian Bishops’Conferences Documents from 1970-1991, Quezon City (Philippines) 1992, tr. 9 [20] Tuyên bố kết thúc, C. 1.
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||