|
GIÁO HỘI VỚI TRUYỀN GIÁO: SỨ MỆnh PhỔ Quát và SỨ VỤ ÐỊa Phương [1]
NhẬp ÐỀ Nhân dịp mừng
kỷ niệm 25 năm thành lập
Ishvani
Kendra (Trung
Tâm Truyền Giáo và Truyền Thông, do cha Engelbert
Zeitler, SVD,
sáng lập), đã
có hơn 80 thừa sai và
thần học gia tụ họp tại Pune (Ấn độ) trong các
ngày từ 24 tới 27 tháng 10, 2001, để trao đổi
ý kiến về chủ đề “Giáo Hội với việc
truyền giáo: Sứ mệnh phổ quát và sứ vụ địa
phương.” Mục đích cuộc nhóm họp là nhằm thu
thập kinh nghiệm và suy tư từ nhiều môi trường
và hoàn cảnh truyền giáo khác nhau, để thử
tìm ra những đường hướng mới qua đó Giáo
Hội có thể làm chứng cho Tin Mừng một cách
hữu hiệu hơn, cũng như để nhận ra những nhu
cầu sứ vụ đòi hỏi tại những môi trường
hoạt động khác nhau trong thế kỷ 21 này. Họp nhau để
trao đổi, mà lòng chúng tôi cảm thấy vừa
đầy ước mơ, hy vọng, mà cũng vừa nặng trĩu
âu lo, e sợ. Thiên niên mới ló rạng với chín
tháng đầu mang lại biết bao mơ ước về một
cuộc sống mới cho thế giới và cho Giáo Hội.
Tuy thế, làm sao khỏi đau lòng trước
tai ương chiến tranh và cảnh chết chóc tại
Aphganixstan: tất cả chỉ để trả miếng cuộc tấn
công vào Trung Tâm Thương mại quốc tế ở New
York và Ngũ giác đài ở Washington DC ngày 11
tháng 9, 2001. Chỉ nhìn qua chủ
đề của cuộc nhóm không thôi thì cũng đã
thấy hiện lên cả hàng loạt những vấn đề
tạo nên tình trạng căng thẳng trong Giáo Hội, vì
một đàng phải nhấn mạnh chiều kích phổ quát,
và đàng khác không thể bỏ quên
những đòi hỏi của
các môi trường sinh
hoạt địa phương. Quan tâm đến những lo âu của
cộng đồng toàn cầu, chúng tôi cũng không thể
không lưu tâm đến những ước mong chính đáng
dâng lên từ các Giáo Hội địa phương, muốn
có được một nền thần học bản xứ. Nhiều
thành viên cũng đã nêu bật sự việc trong nỗ
lực bản xứ hóa sứ điệp của Ðức Kitô,
các Giáo Hội trẻ hiện đang phải vất vả cực
nhọc đối diện với những thách đố vô số
mọc lên từ những bối cảnh phức tạp khác
nhau, đòi phải được giải đáp. Vì vậy, vẫn
giữ lập trường liên đới mà phê bình đối
với Giáo Hội, chúng tôi cố thành tâm và trung
thực đối thoại với nhau trong Giáo Hội, về
những vấn đề
vừa nhắc đến trên
đây,
mong tìm thấy được
phương thức ứng đáp. Tình trạng
sôi động, đầy thách
đố như đọc thấy trong thế giới và trong Giáo
Hội hiện nay, thúc giục chúng tôi suy nghĩ lại
về tầm trọng yếu then chốt của Phúc âm trong
thế giới ngày nay, để từ đó mọi người
chúng ta ra sức trở thành ánh sáng ở giữa
tối tăm. Thời đại này mời gọi hết thảy
chúng ta phải hối cải, phải đổi mới não
trạng cùng lề lối hành động. Từng bước,
chúng tôi đã tập trung nỗ lực vào bốân vấn
đề then chốt cần được canh tân; đó là: Công
bằng
và Hoà
giải; Ðức Kitô,
Ðấng Giải phóng tự
hủy; Cộng
đoàn môn đệ bình đẳng, và Sứ mệnh theo nghĩa
là một cuộc Ðối thoại tiên tri.
I.
Công BẰng và Hoà GiẢi Ngày nay ... Ðã vọng lên rõ những tiếng nói nhân danh người bị áp bức, Sống trên những đống rác, trong các khu nhà ổ chuột; Những trẻ nít xới giẻ ránh mong kiếm được gì ăn, Bị thất học, bị tước hết nhi quyền! Nữ giới quần quật lo việc nhà, bên những chiếc cối xay; Ðời sinh dưỡng nào có ai đếm xỉa, biết ơn! Lại còn bị hành hung! Buộc phải đem thân bán! Óc phụ quyền: kể chi đến nữ quyền và phẩm giá phụ nữ. Những thuyền máy! Tàu đánh cá đồ ngoại, Ðoạt cướp hết tài nguyên của đất liền và biển cả! Thủy sản nghiệp phá hại đất đai lẫn mầm sống, Gây họa đến di dân, đến quyền lợi ngư dân. Công nhân di trú, dân tộc hàng khối cũng di trú Kiếm việc làm trong các siêu đô thị ...và vẫn mãi đô thị! Bỏ làng quê, bị bóc lột bởi công ty siêu quốc. Dân đấu tranh đòi cho được quyền sống!
Lắng nghe đi: họ kêu nài cứu mệnh! Nào bị áp bức trong địa nghiệp, nào bị cướp mất quyền chủ đất: Thân phận lớp tiện dân miền quê, cũng như các bộ tộc miền núi
Ðây, đau thương bị khai trừ: thảm cảnh từ
ngàn xưa,
Ðó, đà bóc lột cứ tăng dần lên mãi! Chúng tôi từng rên rỉ, ngẫm suy và tự hỏi Trả lời sao – là Giáo Hội – cho thực quyền sống còn! Cố sức tìm lối ngõ nhằm tung ra với cả lòng xót thương Hầu trông vào sự sống mà vượt quá mọi lực lượng chết chóc! Ðấy: tiếng gọi cho địa cầu tái sinh, cho bình minh mới tỏ hiện!
MỘt
ThẾ GiỚi Toàn CẦu Hoá Kinh nghiệm cho
chúng tôi nhận ra rằng trong giới tiện dân cũng như
giữa tầng lớp lãnh tụ, đâu đâu trong các
lãnh vực cuộc
sống – xã hội, kinh
tế, chính trị, văn hoá và tôn giáo – cũng
đều thấy có những người khốc liệt tranh
giành để chiếm hữu cho được quyền bính và
của cải sao cho ngày càng nhiều hơn; trong khi đó,
ít thấy có ai kháng cự từ chối. Thêm vào
đó, các thành phố là nơi quyết định phúc
lợi xã hội cho cả nước. Nửa thế kỷ nay, vô
số người từ các thôn trang và vùng xa xôi
hẻo lánh đã lũ lượt kéo đến các thành
thị, khiến bây giờ một nửa dân số Châu Á
tập trung sống chen chúc ở trong các thành phố.
Ða số không kiếm đủ được thu nhập để có
được đời sống an toàn. Phải chịu khổ nhiều
nhất là phụ nữ và trẻ con. Thêm vào đó, các
nước nghèo trở thành đối tượng khai thác
của các công ty siêu quốc, bởi
nhân công – cả nam
lẫn nữ – đều phải chịu nhận đồng lương rẻ
như bèo, và như thế, bị bán đứng qua các khế
ước lao động, và dưới hình thức công nhân
di trú theo diện kinh tế.
xung đỘt giá trỊ Việc toàn
cầu hoá các lãnh
vực kinh tế và truyền
thông khiến thế giới ngày nay phải thay đổi mau
lẹ về mặt xã hội, văn hoá
và kinh tế.
Trong khi những bước
tiến bộ kỹ thuật được nhiệt hoan nghênh, thì
những giá trị nhân bản và tôn giáo căn bản
đã từng nuôi dưỡng các văn hóa Châu Á
từ nhiều thiên niên cho tới nay lại bị chế
độ kinh tế mới ăn mòn và làm cho tiêu tán
dần đi. Quả vậy, các nền văn hóa này đang bị,
tùy mức độ, rạn vỡ dưới áp lực của các
mối lợi vật chất. Trào lưu tục hoá và thói
tiêu thụ đang chiếm dần quyền kiểm soát cuộc
sống tựa như hai ngẫu tượng được thời đại
này tôn thờ. Kết quả do lối sống tiêu thụ
của giới trung lưu đang tăng dần, gây ra, là
cảnh bần cùng khốn khổ của không biết bao
nhiêu triệu người trong các dân tộc Châu Á. Hàng ngàn
năm qua, lòng quý mến đối với
ruộng đất đã từng thường xuyên cẩn trọng
giữ gìn địa cầu trong lành cho các thế hệ về
sau. Ðất đai và rừng rú đã được ủy thác
cho gia tộc bảo toàn như là những nguồn tài
nguyên dành cho công ích. Ngày nay, những tập
quán sinh thái của văn hoá người thượng bị
xói mòn. Ngư dân
các nơi đang
vận động chống những thuyền đánh cá
nước ngoài dùng
lưới rà; Phong trào Cứu sống [sông] Narmada
(Narmada
Bachao Andolan) ở Ấn độ, với bao nhiêu là
cuộc đấu tranh ở Châu Á
và vùng Thái Bình
Dương, nêu bật cho thấy là các nạn nhân đã
ngày càng ý thức hơn về những gì là tốt
đẹp và phong phú thiên nhiên dành cho họ. Phản
kháng liên tục và hoạt động phối hợp nhằm
gây ý thức như thế đã tạm chận đứng
được một phần nào đó những ảnh hưởng
tác hại. Nhiều người đã tỏ ra can đảm cũng
như cho thấy khả năng lãnh đạo qua lập trường
ủng hộ và đứng về phía các nhóm bị áp
bức. Dù vậy, tiếc thay, thế lực vận động
của phía dân giàu đã bóp chết mất đi rất
nhiều cố gắng. Tư bản toàn
cầu hỗn loạn đang tạo ra một xã hội trong đó,
“sống [hiện hữu] là tiêu thụ”; trong đó,
đại đa số người dân bị tước hết mọi quyền
chính trị, hết mọi khả năng kinh tế; trong đó,
mọi người và mọi sự, kể cả tôn giáo, đều
trở thành những mặt hàng để
mua
để bán, hoặc bị coi
như là những món đồ dùng vào việc giải trí
riêng tư. Dù có khoa trương cho rằng dân chúng
được hưởng mọi quyền, thì thật ra, đâu đâu
cũng thấy tình trạng mất cân bằng dân số và
đà thoái hóa hủy hoại văn hoá. Giữa bầu khí
ấy, các thế lực thị trường là nguyên nhân
trực tiếp gây nên tình trạng bất ổn chính trị,
cũng như làm nẩy sinh ra thái độ cuồng tín trong
các lãnh vực tôn giáo và văn hoá. Chán
chường, cuộc sống xã hội đang đẻ ra một thế
hệ hằn học, chỉ biết đến loại văn hoá của
bạo lực, sợ hãi và căm thù.
thỪa
tác vỤ công bẰng và hòa giẢi Không phải là
không quan tâm đến tình trạng xã hội, song vì
nhiều lý do, chẳng
hạn như vì là thiểu số hoặc vì
còn mang đậm hình dáng Tây phương, Giáo Hội
Châu Á xem ra còn giữ thái độ lẩn tránh,
không dấn thân hoạt
động cho tích cực. Quả vậy, Giáo Hội
thường để cho giới nắm quyền coi như thuộc về
phía họ, bởi muốn bảo toàn những cơ sở tầm
cỡ của mình trong lãnh vực xã hội và giáo
dục. Sứ mệnh tiên tri và tự hủy đòi hỏi
chúng ta phải lượng định lại vị trí cùng vai
trò của các cơ sở ấy. Là ngôn
sứ và là tôi tới, Giáo Hội phải ứng đáp
như thế nào trước trạng huống ấy? Các cộng đồng
kitô có khả năng dấn thân hoạt động tích
cực và làm chứng cho sứ điệp Tin Mừng hay
không? Cuộc giải
phóng
và đấu tranh cho quyền
lợi của những người bị gạt ra ngoài lề xã
hội – tức là của hơn một nửa dân số trong
các dân nước chúng ta – cũng như nỗ lực
xây đắp lại hành tinh từng bị tàn phá này,
phải được đặt lên hàng đầu giữa các công
tác Giáo Hội đang quan tâm đến. Giáo Hội được
mời gọi ôm trọn vào lòng tất thảy những
người sầu khổ với một lòng thương bao quát
mênh mông, biểu hiện rõ dung mạo của Ðức
Giêsu, là Ðấng
đã cho hàng ngàn
người đói ăn (x.
Lc 9:12-17), đã làm
cho kẻ câm nói được và cho kẻ mù thấy rõ
(x. Lc 7:21-22). Những hoạt động như
thế sẽ làm cho nhận biết được sứ mạng của
Ðức Giêsu, là xây dựng nước Thiên Chúa ở
giữa thế giới. Phúc
Âm dồn thúc chúng
ta
đứng
về phía người nghèo
và thách đố chúng ta
dấn bước theo Ðức Giêsu trên con đường tình
yêu tự hủy và trong thân phận liên đới bền
chặt với những nạn nhân của lịch sử. Thừa tác vụ
hoà giải của Ðức Giêsu cho thấy rõ một nét
đặc thù, đó là bao giờø Ngài cũng đứng
bên phía các kẻ bị áp bức, các nạn nhân trong
thế giới, như được nêu bật qua lời tán
tụng Ðức Maria đã thốt lên trong bài
Magnificat
(x. Lc 1:46-55) cũng như qua các mối phúc thật đọc
thấy trong Phúc Âm Luca (x. Lc 6:20-26). Trong kế
hoạch cứu độ, Ðức Giêsu đã không loại
trừ người giàu ra khỏi Nước Thiên Chúa,
nhưng Ngài cũng cho biết rằng chúng ta sẽ chỉ
được vào Nước Chúa trong niềm liên đới
với người nghèo. Nói thế, Ðức Giêsu không
những vén mở cho thấy rằng con đường dẫn
đến cùng Thiên Chúa đòi hỏi phải biết sống
từ bỏ, không dính bén đối với của cải, mà
còn cho thấy quả Thiên Chúa đã đi vào trong
thế giới các nạn nhân, và chúng ta chỉ gặp
được Ngài ở tại đó qua mối đồng tâm nhất trí với họ. Nếu đối với
Ðức Giêsu, chọn lựa như thế có nghĩa là
chấp nhận tự hủy, thì cũng phải như vậy đối
với Giáo Hội. Con đường tự hủy ấy đòi
hỏi phải có một thái độ năng động, kháng
cự bất bạo động, tức thành thực đấu tranh
cho công bằng và chân lý
(satyagrapha).
Ðó là cuộc sinh hạ thật đau đớn nhưng cũng
thật cao quý: cuộc hạ sinh một thế giới mới.
Tự hủy cũng có nghĩa là không thì hành sứ
mệnh từ một địa vị quyền uy hoặc từ trên
một bục cao. Ðức Giêsu đã sai các môn đệ ra
đi, không mang theo bất cứ một thứ gì, ngoài
một cây gậy (x. Mc 6:8).
[2]
Gương mẫu của
Ðức Giêsu là một tiếng gọi gióng lên trong
ngày này, kêu mời chúng ta làm một
cuộc trở lại, quay
về với người nghèo,
là những
người sẽ biến đổi chúng
ta thành một Giáo Hội của dân nghèo, một Giáo
Hội ghi đậm đặc nét sáng ngời của tình liên
đới với các nạn nhân.
Sống sứ mệnh tự hủy
là giữ mình cho khỏi mọi thứ kiêu căng, và đem hết lòng kính nể
mà đi đến với người khác. Tự hủy là trút
bỏ mọi tiên kiến tiêu cực, phát sinh từ tín
ngưỡng hoặc thành kiến sẵn có, là biết để
cho người khác khác với mình, biết để cho họ
sống như họ là [sống trọn bản chất con người
của họ]. Hành động
phải đi đôi với nhận định phê bình của lập
trường kitô giáo đối với việc toàn cầu hóa
chạy theo đà tiêu thụ. Kitô hữu nên nghĩ đến
việc cần phải gia nhập các nhóm hoạt động,
chẳng hạn như các nhóm gây ý thức soi sáng cho
người tiêu dùng, các nhóm cổ vũ nhân
quyền, và
dấn thân vào các cuộc
đấu tranh tích cực của
họ. Việc gia nhập các
phong trào liên tôn chống văn hóa hư hỏng nhằm tỏ rõ lập
trường kiên quyết loại trừ những hậu quả
khốc hại của trào lưu toàn cầu hóa, sẽ làm
cho những hoạt động tham gia của chúng ta trở
nên ngày càng trong suốt và dễ được chấp
nhận hơn. Bởi tình trạng
bóc lột các dân tộc đã từng bị gạt ra ngoài
lề xã hội vẫn còn liên tục kéo dài dưới
nhiều hình thức bức chế và đàn áp, cho nên
cần phải tỏ rõ thái độ
ahimsa
(bất bạo động) đầy sáng kiến với một lòng
xót thương triệt để. Ðiều đó đòi hỏi tất
cả chúng
ta
phải quyết dấn thân hết
sức mình cho vương
quyền Thiên Chúa, với một ý thức đổi mới
về linh đạo kitô, tức coi đó là cách thức
sống cương vị người môn đệ chính thực qua
việc tham gia hoạt động tích cực, cũng như qua
viện tỏ rõ lập trường phản kháng có tính
cách tiên tri trước những cơ cấu bất công.
Việc kháng cự không chút nhân nhượng và
hữu hiệu này có thể là kết quả
của dạng đối thoại
giải phóng (satyagraha, sức
mạnh của chân lý) và của một vài phương cách
kháng cự khác, đầy năng động
mà vẫn không thiếu tính chất an
hoà.
Ðó là điều
giúp cho chúng ta ý thức về việc cần
phải nhờ đến các cách thức kháng cự
thường được dùng đến tại các địa phương,
như gặp thấy trong trường hợp của Phong trào Chipko
ở Ấn độ.
[3]
Nguyên tắc hướng
đạo của một phong trào kháng cự theo cách
thức như thế phải là lòng thương xót; bởi
chính lòng xót thương này sẽ làm cho phong trào
vượt quá lên trên mọi thứ ranh giới ngăn
cách. Lớn lên từ
các làng mạc,
thành phố phải gánh
chịu hai cực đoan: giàu có và nghèo khổ. Cần
phải cấp bách thiết lập một
kế hoạch kinh tế quân
bằng, biết quan tâm đến mức an sinh của các
vùng quê ngõ hầu chận đứng đà di dân quá
trớn tuốn về các thành phố, cũng như để
giữ cho được một mức cân bằng thích đáng
giữa hai khu vực thôn quê và thành thị. Giáo
Hội phải có mặt và sống tình liên đới giữa
tầng lớp tiện dân sống trong các khu ổ chuột,
trong các xóm nghèo của thành phố, và phải
gióng lên tiếng nói tiên tri để đòi bình
đẳng cùng công bằng cho tất cả. Một chiều kích
chủ chốt trong sứ mệnh của chúng ta là thức
tỉnh lương tri của
giới giàu sang quyền
quý để họ nhận ra nghĩa vụ của họ đối cộng
đồng xã hội. Chúng tôi xin
khiêm tốn khẳng định rằng Giáo Hội thừa sai
là một Giáo Hội gồm các tội nhân. Như lịch
sử cho thấy, nhiều lần Giáo Hội đã cấu kết
với những cơ chế thế lực bạo quyền và áp
bức. Vậy, muốn phục vụ vương quyền của Thiên
Chúa, thì cần phải có thái độ thành thực
thống hối và sẵn sàng xin những ai đã bị xúc
phạm tha thứ cho. Niềm thống hối ấy được thể
hiện qua nỗ lực cải thiện chính
bản thân mình, để nhờ đó, đi đến
chỗ loại trừ hết các nguyên nhân đẻ ra các
cơ cấu áp bức tội lội ấy, và như thế, một
kiểu mẫu đổi mới sẽ xuất hiện trong đời
sống cá nhân cũng như của Giáo Hội. Chúng tôi nhận thấy rằng không những cần phải có công bằng và hòa giải, mà còn phải làm sao để giữ cho hai mục tiêu ấy ở mãi trong thế tương tác năng động. Ðã là môn đệ của Ðức Kitô tiên tri, tất chúng ta phải tìm cho có được công bằng; đã là môn đệ của Ðức Kitô tự hủy, tất chúng ta phải ra sức cổ võ hoà giải. Nỗ lực đi tìm công bằng phải được tiến hành và chỉ đạo bởi nỗ lực cổ võ hòa giải.
II.
đỨc kitô: đẤng giẢi phóng tỰ hỦy Cuộc đời
tiên tri tự hủy của Ðức Giêsu là mẫu mực
của sứ mệnh kitô. Cách thức quan niệm về
Giáo Hội và Sứ mệnh phải được thấm nhuần
bởi một nền kitô học vừa tiên tri vừa tự
hủy. Ðức Giêsu Tiên tri kêu mời chúng ta
đứng về phía người nghèo và những người
bị ruồng bỏ; còn Ðức Giêsu Tôi tớ thì kêu
mời chúng ta
cố tìm cho được công
bằng không phải là với bạo lực, nhưng là qua
việc phục vụ tự hiến và công cuộc đối
thoại. Theo Ðức Giêsu Tiên tri, chúng ta tố giác
bất công; theo Ðức Giêsu Tôi tớ tự hủy,
chúng ta học biết được rằng ‘tố giác’
không thể có nghĩa là thù ghét hoặc loại trừ
những kẻ bức hiếp ra khỏi quan hệ liên đới
và đối thoại.
sỨ
mỆnh xây dỰng công bẰng cỦa lòng trẮc Ẩn Nếu tình thương
(agape) của
Thiên Chúa là tình
thương phổ quát,
thì sứ mệnh Thiên
Chúa
(missio Dei)
trao phó
cũng vậy, tức bao
gồm toàn thể thế giới, vượt quá và lên
trên mọi ranh giới chủng tộc, văn hóa, thời
đại và địa dư. Thánh sử Gioan nói rõ: “Thiên Chúa
yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một...”
(Ga 3:16). Hiển nhiên là thế: từ Ðức Giêsu, qua một
mệnh lệnh, Giáo Hội đã lãnh nhận sứ vụ tự
bản chất, mang phổ quát tính. Ðức Giêsu truyền
lệnh cho Giáo Hội đi khắp tứ phương thiên hạ,
loan báo Tin Mừng (x. Mc 16:15).
Thế nên, tiếp tục thi hành mệnh lệnh
phổ quát này, chúng ta cũng
phải theo sát gương
Ðức Giêsu để thực thi sứ mệnh phổ quát
của Ngài trong khi tiếp xúc với các cá nhân,
với các dân tộc, môi trường và bối cảnh. Sứ mệnh phổ
quát của Ðức Giêsu cũng là sứ mệnh “nhập
thể.” Ngôi Lời vĩnh cửu đã trở thành
Ðức Giêsu Nadarét, một người Do Thái, làm
thợ mộc, sống tại một làng nhỏ bị bỏ quên,
ở trong miền Galilê. Ngài giới hạn sứ mệnh
dương thế của Ngài vào một lãnh thổ, một
thời gian, một dân tộc. Nhưng chính Ngài là vị Cứu tinh phổ quát,
bởi vì – vốn là Thiên Chúa – Ngài đồng
nhất hóa chính mình với mỗi một con người,
mỗi một dân tộc và mỗi một nền văn
hóa mà
vẫn tôn trọng, bảo
toàn căn tính của mọi đoàn thể, của mọi cá
thể. Mẫu gương sứ
mệnh Ðức Giêsu giúp chúng ta nhận ra bổn phận
cần phải biết hằng
giây phút lắng nghe
lời Thần Khí kêu mời
các Giáo Hội và mọi người thiện chí. Không
có một mẫu mực hoặc hoạt động chung nào nhất
định, khả dĩ giải trình cho thấy sứ mệnh là gì
trong mỗi một lúc, tại mỗi một nơi cụ thể. Bao
giờ những chỉ thị chung cũng đều phải được
thi hành qua một nỗ lực nhận định sáng suốt.
Vượt quá những văn kiện và bộ luật, tiêu
chuẩn và nguồn suối cuối cùng của sứ mệnh
phổ quát là chính Thiên Chúa;
Người đã dựng nên
một thế giới hết sức đa dạng và tốt đẹp;
Người cư ngụ trong cuộc đời của mọi dân
tộc: sinh động hóa, nuôi dưỡng, thúc dục và
ban cho khả năng sống
vững niềm cậy trông,
hy vọng; vì từ nguyên thủy
và suốt dòng lịch
sử, Thiên Chúa hằng
không ngừng mạc khải ý của Người (x. MK 3).
Và như thế, sứ mệnh cũng hằng không ngừng
lộ hiện từ mọi hoàn cảnh, mọi môi trường,
mọi khía cạnh của cuộc đời.
ĐẤng
giẢi phóng tỰ hỦy Quyết tâm
dấn thân chúng ta có
đối
với sứ mệnh là
một quyết tâm bén rễ sâu vào trong và được
hướng đạo bởi tầm nhận thức của chúng ta
về tính cách đặc
thù của Ðức Giêsu Kitô, và nỗ
lực theo
sát gót Ngài. Ðào sâu ý nghĩa của các tước
hiệu cổ truyền chỉ về Ðức Giêsu, chẳng hạn
như: Con Thiên Chúa, Ðấng Cứu Tinh, chúng ta mới
thấy ra và cảm nhận được
tính
cách đặc thù ấy;
cách riêng là trong hai khía
cạnh đời sống Ngài:
thái độ đặc biệt ưu
ái quan tâm đối với các nạn nhân và lòng
thương tự hủy hằng rộng mở ra cho người
khác.
Ðức Giêsu Tiên tri ‘thách
thức’ đã bênh vực và đứng về phía những
người bị áp bức và bị gạt ra ngoài lề xã
hội; Ðức Giêsu Tôi tớ tự hủy đã tỏ ra
luôn luôn sẵn sàng tiếp xúc và trò chuyện
với bất cứ ai, cả đến những kẻ áp bức.
Là Ðấng Giải phóng
tự hủy, Ðức Giêsu đã loan báo Tin Mừng
về Nước Thiên Chúa, đã tỏ rõ lập trường
cương quyết chống lại mọi thứ cơ cấu tội
lỗi, và đã khởi động một phong trào giải
phóng. Chính Ðức Giêsu
ấy đang chuyền ban hứng khởi và chỉ lối cho
quyết tâm dấn thân của chúng ta vì sứ mệnh.
Chính vì
đã sống qua thân phận
tôi tớ khổ đau, Ðức Giêsu đã trở
thành Ðức Chúa.
Lên án mọi hình thức
đàn áp, nhưng bao giờ Ðức Giêsu cũng yêu
thương những kẻ đàn áp. Bởi thế, sứ mệnh
mưu cầu công bằng chúng ta theo đuổi,
phải được thi hành
qua con đường tình thương tự hủy, qua nỗ lực
phục vụ và đối thoại. Lịch sử cho
thấy điều này: tính chất phổ quát và chiều
kích địa phương
là
hai đặc nét thường bị
Giáo Hội bỏ qua, không lưu ý đến
cho đủ trong sứ mệnh
của Ðức Giêsu,
đến độ đã bị cuốn
hút vào
trong vòng ảnh hưởng của đế quốc chủ nghĩa
xét về mặt chính trị, của chính sách chuyên chế
xét về mặt văn hóa, của một dạng chủ thuyết
thực dân xét về mặt tôn giáo, và của một
thứ lập trường cứng nhắc trong lối thiết cấu
cơ chế tổ chức. Và cũng vì thế, một phần
nào đó, Giáo Hội cũng đánh mất đi khả năng
cảm nhận nhạy bén, không còn có thể dễ dàng
liên kết sứ mệnh phổ quát với những vấn
đề địa phương, với những hoàn cảnh cá
biệt cùng căn tính văn hóa
đặc thù của các dân tộc, cũng như với
những cuộc đấu tranh của người dân bị gạt ra
ngoài lề xã hội. Thế
nên, ngày nay, điều thiết yêu cần phải làm là
đặt sứ mệnh phổ quát của Ðức Giêsu vào
trở lại trong mối liên hệ với những gì, với
những vấn đề các địa phương đang quan tâm
đến.
III.
cỘng đoàn Môn đỆ bình đẲng Ðức Giêsu,
Ðấng Giải phóng tự hủy, đã mời gọi mọi
phần tử trong gia đình nhân loại đi theo con
đường Ngài đã vạch ra, tức trở thành môn
đồ của Ngài. Ðiều này giả thiết là
những ai theo Ðức Giêsu đều có những quyền
lợi và bổn phận như nhau. Do ảnh hưởng của
lịch sử, Giáo Hội đã thiết đặt giai cấp,
trật bậc ở trong cộng đoàn kitô;
hậu quả trực tiếp là
đã thể chế hóa “phong trào nguyên thủy” của
Ðức Giêsu. Mặt khác, tệ
trạng cư xử hung bạo đối với nữ giới đang
ngày càng lan rộng, là một sự kiện rất đáng
lo ngại vàø đặt vấn đề đến một mức hết
sức trầm trọng, về chỗ đứng và vai trò của
tôn giáo trong các xã hội đa tín ngưỡng tại
Châu Á. Ðịa vị của nữ giới ở trong Giáo
Hội công giáo và trong các Giáo Hội Kitô khác
chưa chắc đã khá hơn gì so với chỗ đứng của
nữ giới trong các truyền thống tôn giáo khác
hoặc giữa xã hội loài người nói chung. Một
đàng Giáo
Hội Công
giáo nói đến việc
giải phóng nữ giới, nhưng đàng khác, Giáo
Hội lại lơ là đối với số phận của họ trong
cộng đoàn mình. Những nhận thức của các học
giả và các nhà thần học
nữ quyền về nam
nữ bình quyền trong
các tôn giáo cũng như
giữa xã hội, đang còn cần phải được đưa
thấm nhập vào trong quan niệm và cách lý luận
chung.
công
giáo tính theo mẦu dẠng mỚi Giáo Hội Công
giáo khẳng quyết về “công giáo tính” của
mình; nhưng “công giáo tính” ấy sẽ không vẹn
toàn bao lâu một nửa số thành viên bị
coi như là “thành phần hạng hai” đơn thuần chỉ
vì
là phụ nữ. Việc nữ giới bị loại ra khỏi
giới cấp và tiến trình hành sử quyền quyết
định trong Giáo Hội là kết quả của một hệ
thống kỳ thị phát sinh từ những cơ cấu phụ
quyền, nhưng lắm khi lại được biện minh trong
Giáo Hội bằng những lý sự đủ loại cho dù
không mấy vững chắc. Nếu loại trừ phụ nữ
ra, làm cho họ mất đi tiếng nói chính đáng và
tùy ý lèo lái điều khiển họ, v.v. thì chẳng
khác chi là dùng bạo lực đàn áp họ. Có
những tác giả nữ quyền cho rằng công giáo
tính trong Giáo Hội còn mang nặng tính chất
kyriarchal, chúa tể (tiếng lóng họ dùng – rút ra từ
chữ kyrios = “chúa”
– để chỉ về quan hệ “chúa tể-thần dân,”
“chủ-nô,” “phụ-tử,” “phu-thê,” “quý-tiện,”
“giàu-nghèo,” “trí thức-thất học,” v.v.),
và thiên về – nếu không nói là chủ trương
– chế độ nam giới trị. Công giáo tính
của Giáo Hội bị thương tổn do kiểu lý luận
Lamã, với
việc đặt ra luật
lệ xét duyệt và kiểm soát,
với thái độ chuyên
nhất cho rằng chỉ mình mới có chân lý tuyệt
đối và đòi mọi người phục tòng quyết định
do mình đưa ra mà không được quyền
nhận định phê bình. Giáo
Hội vẫn còn tìm cách
kiểm soát qua việc kiểm duyệt và cấm không cho
nói. Vậy, cần phải tiến đến chỗ
lý luận theo cung cách
thật sự công giáo, tức theo cung cách bao gồm,
biết cậy nhờ đến những ân huệ thiên hình
vạn trạng
do Thần Khí Khôn Ngoan
Thiên Chúa ban xuống, và hiểu rằng trong đó, tất thảy
mọi người, không trừ một ai,
đều có nghĩa vụ đối với sứ mạng
chung. Chúng tôi hiểu
“công giáo tính” theo nghĩa là toàn thể, đại
kết, toàn cầu, bao gồm tất cả. Công giáo tính
toàn vẹn của Giáo Hội, như thần học xác định,
chỉ thành tựu được khi tất cả đều có thể tham dự –
theo
mức độ
khả năng và
trách vụ của mình – vào
tất cả những luận đàn đưa đến chỗ nắn
đúc nên căn tính và sứ mệnh của Giáo Hội.
Ðiều đó giả thiết các phụ nữ được công
nhận là thành viên chính thực của Giáo Hội, tức
được trọn vẹn dự phần vào hết mọi nghĩa
vụ, quyền lợi và đặc ân. Với nỗ lực sống trọn
công giáo tính của
mình,
“Giáo Hội nam
nữ bình đẳng” sẽ
nêu cao tinh thần ‘dân
chủ,’ công bằng, và như thế sẽ thích ứng, hòa
hợp dễ dàng hơn với
những trào lưu dân chủ trong khắp thế giới
hiện đang cổ võ cho công bằng, tự do và bình
đẳng (x. Cv 2:17tt). Phong trào phụ nữ đấu tranh
đòi quyền bình đẳng nam nữ trong Giáo Hội cũng
như giữa xã hội, là một lời yêu cầu Giáo
Hội đổi mới cách nhận thức về sứ mệnh
của mình trong những gì liên quan đến công bằng,
tự do và cách tổ chức công đoàn: làm sao
để cộng đoàn Giáo Hội thực sự là một
cộng đoàn môn đồ bình đẳng.
Cần phải
tránh mọi mưu đồ đặt
Châu Âu làm điểm quy
chiếu cho toàn thể nhân loại. Do đó, cách trình
bày về sứ mệnh kitô giáo cần phải được
xét kỹ lại, xem có còn mang nặng sắc thái đế
quốc về mặt chính trị, chuyên đoán về mặt văn
hóa, và thực dân về
mặt tôn giáo hay không.
Ðiều đó sẽ tiếp diễn cho đến khi các
Giáo Hội địa phương
đạt đến mức tự trị trong mối thông hiệp
toàn cầu của các Giáo Hội Công giáo. Cần phải khai
triển một linh đạo bình đẳng – tuyệt đối bình
đẳng – mang tính chất đại kết và liên tôn
cũng như toàn cầu, có khả năng giúp mở lòng
đón nhận cảm thức cùng sáng kiến của “Giáo Hội
nữ giới”: một lòng
hiếu khách nhạy bén hơn, một thái độ cởi
mở nới rộng hơn trong việc chia sẻ quyền bính,
và thực tâm nhận chân rằng những khác biệt
tựu trung chỉ là một cách biểu hiện công giáo
tính. Và như thế, chúng ta ca tụng những ân huệ
muôn hình thái Thần
Khí-Khôn Ngoan ban xuống:
Ngài tạo thành và gìn
giữ
các quan hệ mang lại
công bằng và hạnh phúc trong toàn cầu; Ngài
dệt nên cảnh phong phú của thực trạng đa dạng
tôn giáo
và văn
hoá. Ý thức mới này tất sẽ giúp cho thấy
là cần phải đổi mới ngôn ngữ, đổi mới
cung cách biểu đạt; đó là một
việc làm quan trọng,
bởi vì những
giới hạn
ngôn ngữ [tôn giáo]
chúng ta dùng chính là những hạn mức làm cho
thế giới sống đạo của chúng ta bị thu hẹp
lại. Chúng tôi thấy cần phải nhấn mạnh thêm
rằng đòi công bằng cho nữ giới là một vấn
đề nhân bản, là vấn đề liên quan đến tất
cả chúng ta. Sau nhiều năm
đặt vấn đề và cố gắng giải quyết, tình
trạng kỳ thị
nữ giới trong Giáo
Hội vẫn chưa thấy có gì thay đổi đáng kể.
Còn thay đổi trong xã hội thì chỉ diễn ra từng
bước, qua tác dụng của một
số hành động tiên tri
và cách
giải thích chúng.
Vậy, muốn làm
cho Giáo Hội tái sinh
thành một cộng đồng bình đẳng
và làm cho nữ giới
có quyền chia sẻ trách nhiệm trong mọi bình diện
đời sống Giáo Hội, thì xem ra phải cần đến
cả hành động biểu tượng lẫn nỗ lực giải
thích chúng, mới đạt được kết quả. Tiến
hành theo phương sách như thế sẽ là một bước
khởi đầu rất đáng hoan nghênh. Chúng ta rao
giảng Tin Mừng không chỉ như những cá nhân
riêng lẽ, mà
còn và hơn nữa, như là thành phần của một
cộng đoàn đức tin – tức
ecclesia,
Giáo Hội – đang thường xuyên đối thoại với
các cộng đoàn và những người thiện chí
khác. Lịch sử Giáo Hội cho thấy nhiều lần
chúng ta
đã không trung thành cho
đủ với Ðức Kitô: đó là những khi chúng ta
để cho bị lôi cuốn bởi ảnh
hưởng của những lề thói phản phúc âm, như
quyền bính, óc thống trị và não trạng phụ
quyền... Muốn cho được khả tín và hữu hiệu, thì sứ mệnh của
chúng ta phải thực sự xuất phát từ một
ecclesia,
một cộng đoàn môn đồ bình đẳng, biết
nhìn đến những cộng đồng và
dân tộc khác không phải như là đối
tượng để chinh phục,
song như
là
những anh chị em,
những người bạn
đồng hành trong
missio
Dei (sứ mệnh
Thiên Chúa trao phó),
cùng đi với chúng ta trong nỗ lực tìm kiếm
vương quyền công bằng và bình đẳng của Thiên
Chúa. Bởi vậy, thể cách thực thi sứ mệnh là
sống tình bạn đồng hành trong đối thoại.
IV.
SỨ mỆnh theo thỂ dẠng ÐỐi thoẠi tiên tri Hiện nay, bản
chất của sứ mệnh ngày càng được quan niệm
như là một tiến trình đối thoại. Ðối thoại
ở đây được hiểu không phải theo nghĩa là
một khí cụ sư phạm, song theo nghĩa là một thái
độ, một lối sống. Cung cách đối thoại này có
tính chất tiên tri vì đòi hỏi phải thực sự
dấn thân – tất nhiên là với thái độ phê
bình – vào những tiến trình phát triển xã
hội. Ðối thoại đích thực giả thiết một thái
độ cởi mở, một ý hướng trong lành muốn
giúp nhau đạt đến mức cao hơn trong nỗ lực tìm
biết chân lý để nhờ đó mà trở thành phong
phú hơn. Cuộc Ðức Giêsu nói chuyện với phụ
nữ Samari là một chuẩn mẫu của đối thoại
đích thực (x. Ga 4).
cuỘc
đỐi thoẠi tiên tri bỐn hưỚng Chúng tôi nghĩ
rằng thành ngữ “đối thoại tiên tri” biểu
đạt đầy đủ được tầm nhận thức sâu xa
nhất về lời mời gọi đặc thù, lời mời
gọi dấn thân cho sứ mệnh. Chúng ta được
mời gọi rộng mở tâm hồn để, qua thái độ
đối thoại tiên tri, đi đến gặp gỡ với
những ai đang
đi tìm
niềm tin, với
những
ai không có được một
cộng đoàn tín ngưỡng; với người nghèo và
với những ai bị gạt ra ngoại lề xã hội, đang
tìm cách để cổ động một cuộc giải phóng
nhân
bản toàn vẹn; với những
người thuộc các nền văn hoá khác nhau nhằm
tìm hiểu cùng chia sẻ với nhau những ân huệ
vạn trạng Thiên Chúa Sự sống ban cho; với tín
đồ các truyền thống tôn giáo khác cũng như
với cả những người đang hoạt động tích cực
cho các ý thức hệ. Cùng với tất cả các bạn
đồng nghiệp đến dự kỳ hội họp này, chúng
tôi hy vọng nghe ra được lời Thần Khí Khôn
Ngoan mời gọi chúng tôi tiếp tục tiến tới
trên con đường phục vụ.
đỐi
thOẠi tiên tri vỚi nhỮng ai đang đi tìm niỀm tin Giáo Hội đang
có mặt khá rộng rãi giữa ‘xã hội dân sự,’
tức là giữa môi trường sống của những
người cùng nắm tay kiến tạo phúc lợi chung,
cùng nhau bàn thảo trao
đổi về những vấn đề liên
hệ đến đời sống
chung, và
khi cần, thì vận động đòi hỏi Nhà nước tôn
trọng những
quyền chính đáng của
mình. Ðể
bảo phòng cho môi trường ấy tránh khỏi những
xung đột phá hoại, chúng tôi nghĩ phải noi theo
cung cách ứng xử của đức Gandhiji, tức theo
lời khấn về
satya
(sự thật) và
ahimsa
(bất bạo động chủ động) và theo con đường
cầu nguyện cùng ăn chay trong cách sống đạo của
ngài. Satya và ahimsa đã mang lại sức năng cho lớp người bị áp bức,
làm cho họ có nghị lực kháng cự lại kẻ đàn
áp, nhưng là với một lòng thương thắm đượm
hòa giải và hòa hợp, khiến cho tia lửa thần
thiêng tiềm ẩn nơi đáy lòng kẻ áp bức có
được cơ hội bừng sáng lên. Trong
tiến trình đối thoại này, chúng tôi lưu tâm
cách riêng đến các hiện tượng và ý thức
hệ đang gặp thấy trong xã hội như thái độ
cuồng tính tôn giáo, công xã chủ nghĩa, chủ
thuyết văn hóa ái quốc, và dạng
hiện thân (avatar) cuối cùng của tư
bản chủ nghĩa là hiện tượng toàn cầu hóa.
Dù có phê bình các hiện tượng ấy trong tinh
thần tiên tri, chúng ta cũng vẫn phải dấn bước
vào con đường đối thoại hợp tác với mọi
phong trào cổ võ nhân quyền, cùng hoạt động
nhằm xây dựng một xã hội công bằng,
và phải trở thành
một lực lượng hòa giải trong các vụ căng
thẳng, xung đột do các nhóm quá khích gây ra
giữa cộng đoàn xã hội. Trong bối cảnh như
thế, việc thành lập các cộng đồng liên tôn
là một việc làm hết sức hữu ích và quan
trọng.
đỐi
thoẠi tiên tri vỚi nhỮng ngưỜi bỊ gẠt ra
ngoài lỀ xã hỘi Tại Châu Á,
nếu có một môi trường nào Giáo Hội hiện
diện nhiều nhất là ở giữa những thiểu số
sắc tộc. Riêng tại Ấn độ, thì ở giữa giới
Ðalít (dân vô giai cấp, cùng đinh,
untouchables:
tiện dân) và các bộ lạc. Nếu muốn có một
thái độ, một sự hiện diện rộng mở hơn nữa
trong khi sống giữa tiện dân, các sắc tộc và
những kẻ bị áp bức, thì chắc hẳn Giáo Hội
sẽ phải biến đổi lối sống
và cung cách hoạt động
của mình.
Một khi đã hội nhập
vào trong xã hội tiện dân và các sắc tộc,
tất Giáo Hội cần lưu tâm kỹ hơn
đến những giá trị và
biểu tượng có tính chất giải phóng tiềm ẩn
trong các nền văn hóa ấy: chúng là một thách
thức lớn dựng lên sừng sững trước những
truyền thống và tín ngưỡng phủ nhận sự sống.
Ðến với những kẻ bị gạt ra ngoài lề xã hội
và với những nạn nhân của mọi hành động
tàn ác là một yếu tố cấu tạo trong sứ mệnh
của chúng ta. Chấp nhận Phúc Âm không có nghĩa
là hạ thấp giá trị hoặc hủy tiêu văn hoá
của các sắc tộc. Thường thì các sắc tộc gia
nhập một Giáo Hội
không theo cơ cấu bộ
lạc. Ðã đến lúc Giáo
Hội cần phải hội nhập vào trong các nền văn
hóa sắc tộc và triển khai cơ cấu của mình sao
cho thích hợp với căn tính các sắc tộc. Các
Giáo Hội sắc tộc sẽ giúp toàn thể
Giáo Hội biết nhạy
cảm hơn trước những vấn đề sinh thái. Bởi
lẽ ngày nay, công tác bảo toàn Mẹ Ðất và
Ðại Dương phong phú là một khía cạnh chủ yếu
trong sứ mệnh của chúng ta. Và như thế,
việc đối thoại với
thiên nhiên sẽ trở thành một nhân tố trọng
yếu trong hiện trạng sứ mệnh chúng ta, tức trong
lúc nạn phá hoại sinh thái đang tăng dần. Trong khắp Châu
Á, các tầng lớp xã hội đã từng bị qua bao
thế hệ, gạt ra bên lề cuộc sống, hiện đang ý
thức ngày càng rõ hơn về
nhân phẩm và nhân quyền của mình. Họ bắt đầu
kháng đối
chống lại những thế
lực thống trị không ngừng tìm cách đặt gông
cùm đô hộ lên trên họ. Những nhóm bị gạt
bỏ như nữ giới, lớp tiện dân, các bộ lạc,
ngư dân, công nhân lẻ loi nằm ngoài các tổ
chức, những nhóm lo về môi sinh và các sắc
tộc đang tổ chức đội ngũ và đang trở thành
những phong trào mạnh mẽ, nhằm tới nỗ lực
thiết cấu nên một chế độ xã hội mới. Ðó
hẳn là những dấu chỉ đầy hy vọng. Bổn phận không
tránh né được của Giáo Hội là nhìn nhận
Thiên Chúa hằng hiện diện và tích cực hoạt
động ở trong các phong trào kia, và
phải tỏ rõ tình liên đới tiên tri với họ
bằng cách cùng họ đồng hành trong những cuộc
đấu tranh giải phóng đang tiến hành. Cùng suy tư
trong đối thoại với các nạn nhân về các cuộc
đấu tranh của họ, sẽ giúp cho Giáo Hội hiểu
mình và sứ mệnh giải phóng của mình rõ ràng
hơn. Và đó là cách thức tốt nhất để Giáo
Hội phục hồi ‘chiều kích phong trào’ nguyên
thủy của mình, mà trong quá khứ đã bị đánh
mất đi bởi cứ rập khuôn theo một tiến trình
thể chế hóa cứng nhắc.
đỐi
thoẠi tiên tri vỚi nhỮng ngưỜi
thuỘc các nỀn văn hóa khác nhau Mầu nhiệm Nhập thể và Phục sinh của Ðức Giêsu Kitô quả là khuôn mẫu của cuộc đối thoại giữa đức tin và văn hóa. Cuộc đối thoại thường xuyên và sống động này là kết quả của việc đức tin lớn lên trong một địa phương cụ thể: nó mọc lên từ cuộc sống và sinh hoa kết quả thành những cung cách thiết thực trong đời sống và việc phụng tự kitô. Vì thế, cuộc đối thoại này phải phản ánh thực tại đa văn hóa tại Châu Á, chứ không chỉ giới hạn vào trong một dạng văn hóa xuất chúng, hay một lãnh vực ‘tiểu văn hoá’ cô lập nào đó. Việc hội nhập văn hóa sẽ thu nạp hết tất cả những gì tốt đẹp trong các nền văn hóa khác hoặc trong các dạng văn hóa cấp dưới, để rồi nêu bật những giá trị ấy, những ahimsa đầy sáng tạo, như: lòng thương mến vũ trụ, tình liên đới tiên tri, thái độ khoan dung đối với tha nhân, quyền sở hữu chung về ruộng đất, lòng tôn trọng đối với mọi hình thức của sự sống và đối với những người cao niên. Cả đến những chương trình kinh tế và giáo dục cũng cần được thiết kế lại theo cách nhìn đi từ cấp thấp lên.
đỐi
thoẠi tiên tri vỚi tín đỒ các tôn giáo khác Có người chủ
trương rằng trong thế giới ngày nay, sống đạo
là sống đời
sống liên tôn; đó hẳn là chủ hướng ảnh
hưởng hết sức sâu rộng đến sứ mệnh của
chúng ta. Ðại kết
và đối thoại liên tôn giả
thiết không những phải
biết lắng nghe người khác mà
còn phải biết chân
thành trao đổi
và chia sẻ kinh nghiệm
cho nhau. Ðiều đó có
nghĩa là
hai phía chịu sẵn sàng đón
nhận thách đố của nhau trong ánh sáng những
giá trị nhân bản và tôn giáo. Trong cuộc đối
thoại này, cần phải lưu ý đến
việc lắng nghe ý kiến
và kinh nghiệm của các
hiệp hội liên-kitô và liên-tôn, cũng như ủng
hộ họ trong lãnh vực mục vụ. Ðể được như
thế thì Giáo Hội cần mở rộng việc thu nạp di
sản của các tôn giáo khác vào trong đời sống
của Giáo Hội. Việc đối
thoại với các tôn giáo khác phải được
khởi phát từ trong nơi
sâu thẳm của tâm lòng. Vì thế,
cần phải biết đi sâu vào trong kinh nghiệm
tôn giáo của nguời
khác, tức
đi sâu vào trong di sản tinh thần, đạo đức
được biểu đạt qua Sách thánh, phụng vụ, các
khúc ca, vũ
điệu, nghệ thuật và các kiểu mẫu kiến trúc
của họ. Thái độ sẵn sàng tiếp nhận như vậy
phát sinh từ kinh nghiệm sống với những người
thuộc các tín ngưỡng và tôn giáo khác. Tuy
nhiên, đối thoại tiên tri đòi
hỏi chúng ta không chỉ đón nhận sự
phong phú mà còn phải phát hiện và ứng đối
với những bóng tối ẩn khuất trong các truyền
thống tôn giáo khác, nhưng lại
thường lộ
diện nơi các hiện
tượng đồi bại như thể chế đẳng cấp, óc kỳ
thị nữ giới. Ðối thoại đích thực và hội
nhập văn hoá đúng nghĩa của nó chỉ xảy ra khi
chúng ta sẵn sàng “chịu phép rửa trong sông
Giođan của tinh thần tôn giáo Châu Á” và “chịu
đóng đinh vào thập giá của cảnh cùng khốn
tại Châu Á.”
[4]
Một khi
đã nhận thức được
rằng thái độ quan tâm đặc biệt đối với các
nạn nhân và đối với công bằng là yếu tố
chủ yếu trong đặc thái tính (distinctiveness)
của Ðức Giêsu, tất chúng ta sẽ phải ra sức
mang công bằng vào trong nội dung của công tác
đối thoại với tín đồ các truyền thống tôn
giáo khác. Có thể nói rằng phần đóng góp
đặc thù của người kitô vào trong công cuộc
đối thoại qua mối quan tâm lo cho công bằng xã
hội, bình đẳng giới tính và
môi sinh, đóng giữ một
vai trò quan trọng ở trong tất cả các
sáng kiến hoạt động liên tôn. Dựa vào sự
việc
Thượng Hội đồng Giám
mục năm 1971 coi công bằng là yếu tố cấu tạo
trong toàn bộ sứ mệnh kitô, chúng ta có thể
nhận định rằng đối thoại cũng làm nên yếu
tố cấu tạo trong việc dấn thân cho sứ vụ
thừa sai của chúng ta,
đặc biệt là tại những khu vực có nhiều tôn
giáo khác nhau, như tại các vùng Nam và Ðông Nam
Châu Á. Một phương
cách cụ thể để phối kết công bằng với đối
thoại là khuyến khích việc thành lập những
cộng đồng nhân bản cơ bản. Các nhóm nhỏ này
thường cho thấy có hai đặc tính: thứ nhất,
quyết hoạt động
xây
dựng cho công bằng
và lợi ích của con
người
cũng như của môi sinh;
thứ hai, dựa vào kinh nghiệm lòng tin của mình
để hiện thực hóa quyết tâm kia. Những cộng
đồng liên tôn này đều có chung cùng một
đường lối hoạt động xã hội, và dựa vào
phương thức hành động chung này, họ ra sức chia
sẻ cho
nhau những giá trị, những
xác tín và huấn chỉ tôn giáo. Công cuộc đối
thoại liên tôn này được xây dựng trên và
được năng động hóa
bởi những hoạt động đạo đức chung. Trong
dạng thể đối thoại này, thành viên của các
cộng đồng liên tôn có thể có những giây
phút cùng nhau “thờ phượng Thiên Chúa trong
thần khí và sự thật” (x. Ga 4:24).
Hy
vỌng cho tương lai
Những
lực lượng mới xuất hiện gần đây, hùng
hậu, đang tác động
mạnh trên con người,
và đang
tạo ra những biến
đổi hết sức nhanh
chóng, không lường nổi, trong mọi lãnh vực
cuộc sống xã hội. Và dĩ nhiên, nạn
nhân bao giờ cũng là những người yếu thế
nhất trong
xã hội. Ðà toàn cầu hóa ngang nhiên dâng cao
lan rộng, dồn dập, vũ bão, không mảy may đếm
xỉa gì đến số phận của
tiện dân và giới vô
sản, lại còn làm cho trào lưu đô thị hóa trầm trọng thêm lên.
Cần làm gì, nếu không
phải là cương quyết kháng cự và tỏ rõ lập
trường phê bình? Những tình trạng căng thẳng,
dễ bén nổ như hiện thấy trong các phạm vi kinh
tế, chính trị, xã hội và tôn giáo, đòi chúng
ta phải thường xuyên có mặt ngay giữa trận
tuyến, một sự có mặt thắm đượm hoà bình,
công bằng và chân lý, theo tư thế của “đàn
chiên nhỏ” (x. Lc 12:32). Quả thật,
Thiên Chúa Ba Ngôi là nguồn suối cuối cùng và
là nền tảng của bản chất và sứ mệnh Giáo
Hội. Ba Ngôi đã muốn chuyển thông cho nhân loại
chính nguyên lý của căn tính Người là cộng đoàn liên
đới trong tình yêu. Phát sinh từ nguồn tình yêu ấy,
nên giữa mọi môi
trường, hoàn cảnh, Giáo Hội phải biết thực
thi sứ mệnh của mình theo sự hướng dẫn của
Khôn ngoan Thần Khí Thiên Chúa và trong sự hiện
diện không ngơi ngừng của Ngôi Lời (x. Mc 16:20).
Có như thế, sứ mệnh của Giáo hội mới trở
thành một nỗ lực sống
thực sự,
nỗ lực sống sứ
mệnh của mình trong mọi bối cảnh địa phương cho
đến khi ý định cứu độ phổ quát của Thiên
Chúa được thể hiện (x. 1Tm 2:4) và Thiên Chúa
Thiên Chúa là tất cả trong tất cả (x. 1Cr 15:28). Nhận thấy rõ
các thách đố những bối cảnh khác nhau đặt ra
cho mình,
và đồng thời được
cổ võ bởi những nhận định cùng sáng kiến
rút tỉa được qua nỗ lực cùng nhau tìm hiểu
trong cuộc hội
họp này, một lần
nữa, chúng
tôi xin cam kết sẽ cẩn trọng chú tâm đến lời
thúc giục của Thần Khí Khôn Ngoan Thiên Chúa
để ra đi thi hành
sứ mạng với một đà nhiệt tâm, với
một lòng hăng say mới. Chúng tôi thâm tín
rằng Giáo Hội thừa sai thực sự là thừa sai
qua Giáo hội địa phương thừa sai, và hễ càng
biết ứng đáp các thách đố địa phương cho
đầy đủ, cho thích đáng theo tư thế là kitô hữu,
thì chúng tôi càng trở thành hữu hiệu hơn
trong sứ mạng thừa sai của chúng tôi. Chúng
tôi quyết sẽ ra sức thực tình chia sẻ
lối nhận thức mới
này về sứ mạng thừa sai,
với tất cả những
người chúng tôi sẽ gặp.
Felipe Gómez lược dịch
[1]
Conclusions of the
Ishvani Kendra Silver Jubilee Colloquium “The Church in
Mission: Universal Mandate and Local Concerns” (Pune, 24-27
October, 2001): Internet:
http://sedos.org/english/colloqstate.htm.
[2]
Theo Mt 10:10, thì
một cây gậy cũng không.
[3]
“Chipko” nghĩa là
“ôm” trong một phương ngữ Ấn độ bắc. Khi
năm 1730 tiểu
vương của Jodhpur sai tôi tớ cắt gỗ ở rừng
Bishnoi, thổ dân mà tránh làm hại cho mọïi ai,
cả đến cây cối nữa, thì họ đổ xô đi
bênh vực cây bằng ôm thân. Cho đến 363
người (thường là phụ nữ và trẻ con) bị
giết, nhưng cuối cùng các kẻ cắt cây đành
phải bỏ việc. Rồi năm 1973, in Gopeshwar (Uttar
Pradesh) chuyện đã nhắc lại: khi một công ty đi
cắt cây, thổ dân ôm cây mà hét: “Chipko!”
và không cho chúng cắt những cây. Như vậy
phong trào bất bạo động để bảo toàn
môi trường sinh thái
đã khởi sự ở Ấn độ.
[4]
Aloysius
Pieris, SJ (xuất xứ ?).
|