|
GIáo Dân trong HỘi Thánh
I
Felipe Gómez Ngô
Minh
[1] Có
lẽ một trong những thành quả
đáng kể nhất của công đồng
Vaticanô II là việc
nêu bật
vai trò của giáo dân ở giữa
lòng
cuộc sống Hội Thánh. Chỉ
trong quãng thời gian trên dưới
một thế hệ nay, đã thấy
có nhiều giáo hữu không chịu
chức thánh đóng giữ những vai
trò trọng yếu hoặc trở nên
những
thành
phần
năng
động trong Giáo Hội.
Hẳn
là còn
phải tiến xa hơn nữa cho đến
khi đa
số thầm lặng này tham gia hàng
loạt và tích cực vào sứ
mệnh của Ðức Kitô ở
giữa thế giới. Trong quá khứ,
giới giáo dân được quan
niệm như là Giáo Hội thụ
huấn, hoàn toàn ở dưới
quyền chi phối của giáo sĩ.
Họ chỉ là giới tiêu dùng
tựa như khách hàng trong siêu thị
tôn giáo của các bí tích. Nói Giáo
Hội là người ta nghĩ ngay
đến hàng giáo phẩm hoặc các
giáo sĩ: Giáo Hội
bảo...
Giáo Hội
dạy...
Giáo Hội
tỏ rõ
lập trường của mình... v.v.
có nghĩa là các giám mục và lắm
khi chỉ một mình Giáo chủ Rôma!
làm như thế; còn khối các tín
hữu khác thì chỉ là đàn chiên
được chăn dắt bởi
các mục tử. Thánh Piô X đã
quả quyết với một lời bi
tráng như sau: Chỉ duy các mục
tử mới có quyền hành và uy
thế... Còn dân chúng [tức giáo dân]
thì chỉ có quyền để các
mục tử dẫn dắt, và như
đàn chiên dễ bảo, biết nghe
theo các ngài...
[2] Nhân
đức căn bản của giáo dân
là vâng lời và cách thức góp
phần vào công trình của Giáo Hội
là góp tiền của cho các cuộc
lạc quyên, là góp "tiền oi"
mỗi Chúa nhật. Thực vậy,
đối với đa số, sống
đạo chỉ cốt tại
việc xem lễ các ngày Chúa nhật
và lễ buộc. Ðó là bổn phận
cốt cán của đời sống
kitô! May thay, hình ảnh có phần biếm họa trên đây hiện đang chuyển mình biến đổi. Bởi một mặt, Giáo Hội (hàng giáo phẩm) đang mạnh mẽ thúc dục giáo dân gia nhập các phong trào tông đồ muôn hình thái và tham gia tích cực vào trong sứ vụ chung của Giáo Hội. Giáo Hội đã phải đấm ngực thú nhận lỗi tại tôi... mọi đàng vì thái độ tiêu cực đã từng có đối với dân Chúa, vì đã bỏ quên các đặc sủng Thánh Thần ban cho họ, đã bỏ rơi tài năng đa dạng của họ, cũng như vì đã đối xử với họ như là loại dân thiêng liêng thứ cấp. Và mặt khác, bởi có kiến thức đầy đủ và được đào tạo chu đáo, giáo dân ngày nay không những không còn ngại ngùng, mà hơn nữa, còn mạnh mẽ dấn thân vào trong các công tác tông đồ và hành chánh của Giáo Hội. Không thiếu gì giáo dân đích thân đứng ra thành lập các phong trào hoặc hội đoàn tông đồ hay đạo đức. Và hiện nay, cũng không thiếu gì giáo dân đang đứng đầu dẫn dắt các cộng đoàn giáo xứ. Và trong khắp thế giới, đại đa số các giáo lý viên đều là giáo dân: họ là những thầy giáo khai tâm, có sứ mạng gieo hạt giống Lời Chúa vào lòng các thế hệ trẻ. Giáo Hội có bổn phận nhìn nhận địa vị của họ, không chỉ cứ sự không thôi mà còn cứ luật nữa. Bởi thế, đã đến lúc phải gấp rút sửa đổi nhiều điều trong Giáo Hội, phải thay đổi cả não trạng, thái độ và cơ cấu: thời kỳ đã mãn! [3]
Giáo HỘi Trung Ương Trong
thời tân đại, giáo dân công giáo
đã sống đạo theo lối
hầu như hoàn toàn thụ động.
Ðã có ít nhiều sáng kiến cá nhân:
Pauline-Marie Jaricot đã sáng lập
hội Truyền Giáo tại Lyon
(năm
1822); cùng
với một nhóm bạn, Frédéric Ozanam
đã khởi động và khai sinh
Hội Thánh Vinh Sơn Phaolô (năm
1835). Rồi năm 1924, phong trào JOC
(Jeuneuse
Ouvrière Catholique, Thanh Lao Công) được
sáng lập tại Bỉ dù do
sáng
kiến của một giáo sĩ,
Joseph Cardinj
và
đã lan
rộng đến nhiều nước
dưới nhiều thể dạng khác
nhau. Còn có một số
sáng
kiến xuất hiện tại nhiều
nơi khác,
nhưng
chỉ là những sáng kiến
đơn thuần địa phương,
không có được tầm hưởng
quốc tế. Phong
trào Công Giáo Tiến Hành đã khởi
đầu hồi thế kỷ 19
bằng
những
bước
ngập
ngừng,
mập
mờ,
với
sự
ủng hộ chưa nói được
là hoàn toàn của Ðức Piô IX.
Rồi tiếp đó, các thông điệpTân
Sự
(Rerum novarum) của Ðức Lêô XIII
và Năm Thứ
Bốn Mươi
(Quadragesimo
anno)
của Ðức Piô XI đã thúc
giục người công giáo dấn
thân vào các lãnh vực chính trị và
lao động. Qua
Ubi
arcano Dei (năm 1922), Ðức Piô XI đã đặt nền
móng nhằm thiết kế một phương thức mới cho công tác
hoạt động tông đồ giáo dân; ngài cũng đã viết một
thông điệp cho Công
Giáo Tiến Hành nước Ý (Non
abbiamo bisogno, 29-6-1931), với mục
đích chinh phục môi trường
đang bị tục hóa của Châu Âu.
Các Giáo hoàng đã lưu ý cách riêng
đến các nước Tây
phương,
là những
nước có đông người công
giáo. Ðức Piô XII đã dốc
lực tổ chức các phong trào công
giáo trên bình diện quốc tế. Theo
ngài, giáo dân có thể được
quan niệm như là phụ tá của
giáo sĩ; trong thông điệp
Năm
Thánh
(Anni
sacri,
12.3.1950),
ngài
viết:
Bởi
linh mục
không thể đến với tất
cả và làm hết mọi sự, và cũng
chẳng có thể thường xuyên
thỏa mãn cho tất cả được,
nên các thành phần chiến
đấu
trong hàng ngũ Công
Giáo
Tiến Hành có bổn phận góp
phần trợ lực cho kinh nghiệm
và công lao của họ (số 8). Và
trong thông điệp
Những
Người Loan Báo Tin Mừng
(Evangelii praecones),
ngài phát biểu tiếp: Cần
phải có những giáo dân quảng
đại và nhiệt thành hợp tác
với giáo sĩ trong việc
tông đồ,
cũng như
tham
gia đông
đảo vào trong các hàng ngũ Công
Giáo Tiến Hành.
[4] Khi
ngõ lời với Công Giáo Tiến Hành
Ý (7.12.1963), Ðức Phaolô VI đã
tóm
lược
như sau
về quan
niệm đối
với giáo
dân trong thời tiền Vaticanô II: Các
con thường khẳng định rõ:
là những giáo dân nam nữ thuộc
mọi giai tầng xã hội, chúng con cương
quyết gắn bó với thừa tác
vụ phẩm trật của Giáo
Hội,
hầu
trở nên,
trước
tiên,
những người
con nhiệt tình hiếu thảo, luôn
biết lắng nghe lời hàng giáo
phẩm, sẵn sàng đón nhận các
huấn lệnh, cũng như chia
sẻ những lo âu, khổ nhọc và
niềm hy vọng của các ngài; chúng
con cũng cam kết đem toàn
lực
hoạt động với tất
cả lòng trung thành để tiếp
tay làm cho sức hữu hiệu tông
đồ của các ngài được
dâng cao và tỏa rộng thêm mãi. Ðức
Gioan
XXIII cũng
đã
từng
khai
triển tư
tưởng này, như đọc
thấy chẳng hạn, ở trong thông
điệp
Thủ
Lãnh Các Mục Tử (Princeps pastorum,
28.11.1959), bàn Về tác vụ truyền
giáo, các giáo sĩ địa phương,
và việc hợp tác của giáo dân.
Ngài
viết:
Thời đại chúng ta đòi
hỏi cần phải cố gắng
không những như xưa, mà còn
nhiều hơn nữa (trong việc giáo
dân dấn thân hoạt động cho
các công tác tông đồ), bởi
lẽ nhu cầu ngày càng lớn càng
nhiều, nhu cầu ứng đáp cho
lòng mong ước của đông đảo
con người hiện đang khao khát lương
thực thiêng liêng của giáo lý chân
thật... Cũng là điều
thiết yếu, việc hết mọi
thành viên trong Giáo Hội đều
cùng nắm tay hợp tác để
thực hiện công cuộc cứu
độ của Giáo Hội.
[5]
Hầu
như bao giờ các văn kiện này cũng
quan niệm hoạt động của giáo
dân như chỉ là một yếu
tố phụ thuộc; giáo dân
được phép hợp tác với
giáo phẩm trong công việc tông đồ
của
giáo phẩm; họ có thể bổ túc
cho những thiếu hụt của giáo
sĩ, nhưng thật ra không cần
thiết. Công
đồng
Vaticanô II đã đổi hẳn cách
quan niệm,
và hơn
nữa đã đổi luôn cả mô
biểu quy chiếu của Giáo Hội
học. Suy tư
dựa theo
thực trạng biện chứng
giữa mầu nhiệm và dân Thiên
Chúa, công
đồng đã nhận ra ngay là
cần phải đổi
mới Giáo
Hội.
Các nghị
phụ đã thấy là phải không
ngừng thanh luyện (x. GH 8) và cải
cách Giáo Hội (x. HN 6). Ít khi công đồng
dùng đến từ
reformatio
(cải cách), nhưng lại dùng
rất nhiều
đến
từ renovatio
(đổi mới,
canh tân)
để
nhấn
mạnh đến tính chất liên
tục trong Hội thánh. Mục đích
của việc đổi mới là
để
làm cho mình trở thành ngày càng hữu
hiệu hơn đối với ơn
gọi của mình (x. HN 6), tức là
để chu toàn hoàn hảo hơn
sứ mệnh tại thế gian của
mình. Ðiều đó giả thiết
một nỗ lực căn
bản và
trường kỳ nơi mọi tín
hữu (từ giáo hoàng cho tới người
tân tòng cuối cùng), nỗ lực
thống hối và cải thiện
nội tâm, cũng nỗ lực cải
tiến các hình thức sống đạo
cá nhân, cách tổ chức và quản
trị cộng đoàn, cách thể thi
hành sứ vụ, v.v. Còn về
những phương tiện thì chính
sắc lệnh về Ðại kết cũng
đã đề ra một số chỉ
dẫn: Giáo Hội thực hiện
cuộc canh tân
ấy
bằng
nhiều hình thức khác nhau trong
đời
sống
Giáo
Hội,
như
phong trào
Kinh
Thánh
và phụng
vụ, việc rao giảng Lời
Chúa và giáo
lý, hoạt
động tông đồ giáo dân,
những hình thức mới trong đời
tu trì, nền linh đạo hôn nhân,
học thuyết và hoạt động
xã hội của Giáo Hội (x. HN 6b).
Ðáng chú ý là việc
tông đồ
của giáo dân được đặc
biệt nêu bật. Và hơn nữa,
công đồng Vaticanô II là công đồng
đầu tiên đã công bố
một sắc lệnh về giáo dân, Sắc
lệnh về Hoạt Ðộng Tông
Ðồ giáo Dân!
[6] Làm
thế nào
để thay đổi mô biểu
của Giáo Hội học? Khi ủy
ban chuẩn
bị công đồng đề
nghị lược đồ về
Giáo Hội, thì đa số nghị
phụ đã từ chối không
nhận và yêu cầu một nhóm
thần
học gia
nổi tiếng soạn thảo một
lược đồ khác. Sau nhiều
buổi thảo luận gay go và
nhiều lần bỏ phiếu, công
đồng đã đạt được
một kết quả bất ngờ,
tựa như theo lối biểu đạt
của cha D.-M. Chenu, O.P. một cuộc
cách mạng Copernic trong Giáo Hội
học: ngày trước, Giáo Hội
được quan niệm chủ
yếu như là một xã hội đặt
dưới quyền thống trị
của hàng giáo phẩm, và làm như
tâm điểm của Giáo Hội
tập trung cả vào nơi quyền
bính của hàng giáo phẩm;
[7] còn
công đồng thì lại
đặt
tâm điểm
nơi chính Thiên Chúa (mầu nhiệm),
và cộng đồng tín hữu là dân
Thiên Chúa. Trong cộng đồng Giáo
Hội, mọi thành viên đều có
phẩm giá ngang nhau, dù chức năng
có khác nhau. Nguồn gốc chung của
mọi thừa tác vụ là phép Thánh
Tẩy, rồi các bí tích khác thì làm
phát sinh nhiều thừa tác
vụ
khác
nhau;
vì thế,
trong
Hiến Chế Tín Lý
về
Giáo
Hội, chương
3 bàn về cơ cấu phẩm
trật và chương 4 về giáo dân,
nói cách khác: trước tiên bàn về
nhiệm vụ chung, rồi sau đó
mới đến các đặc tính
của từng phần. Hơn nữa,
sử liệu công đồng cũng
cho thấy rằng tính chất chung này,
đặc biệt là ơn gọi chung
tiên tri, tư tế và vương
giả là nguyên tắc chú giải
(hermeneutical
principle)
áp dụng cho toàn bộ Hiến
Chế Tín Lý về Giáo Hội, tức
cho nền Giáo Hội học của
Vaticanô II.
Hiến
chế được chấp nhận
ngày 21.11.1964,
với
2151
phiếu thuận và 5 phiếu phủ
quyết. Cho đến Vaticanô II, không
một công đồng nào đã bàn
luận như thế về giáo dân. Như
vậy, Dân Thiên Chúa (toàn thể tín
hữu không phân biệt trật
bậc) là nền tảng của
Hội thánh cả về phương
diện xã hội lẫn về phương
diện bí tích. Giáo dân và giáo sĩ
quả là khác
nhau,
song không
phải như bề trên
với
bề dưới:
hai bên đều
chia sẻ cùng một ơn gọi nên
thánh và cùng một sứ mệnh chung
là xây
dựng Nước
Trời.
Phải nói
là
ơn
gọi chung này phức
tạp
và
bao
gồm
nhiều
ơn
gọi riêng,
cùng
những đặc sủng
tập
thể
cũng
như cá
nhân, thông thường thì được
ban qua các
bí tích khác nhau. Vậy,
nguồn suối của sức đổi
mới trong Giáo Hội là
missio
Dei,
tức
sứ
mệnh
Thiên Chúa trao phó
(qua sự
việc
Chúa Cha sai
phái Chúa Con, và Chúa Con sai phái Giáo
Hội); và mục đích của
sứ mệnh ấy là làm chứng cho
Thiên Chúa và triển dương vương
quyền tại thế của Người.
Sứ mệnh là lý do hiện hữu (raison
dêtre) của Giáo Hội: thiết
lập Giáo Hội là Ðức Kitô có ý
tạo nên một phương thế
làm
khí cụ
của việc kết hợp mật
thiết với
Thiên Chúa,
và của
mối
hiệp
nhất
giữa
toàn
thể nhân
loại (GH 1); nói cách khác: Giáo Hội
là để cho thế gian, chứ không
phải ngược lại, và Dân Chúa
(mà đa số là giáo dân) là phương
thế để đạt tới
mục đích ấy; căn tính
của Giáo Hội cốt tại ở
sứ vụ này, và giáo dân càng dấn
thân cho sứ vụ thì
Giáo
Hội càng
thành tựu chính mình, càng lớn lên,
v.v. Giáo Hội sẽ đổi mới
hay không và đến mức độ
nào, thì đó là tùy vào mức độ
dấn thân của toàn thể Dân Chúa
cho
sứ
vụ làm chứng về Ðức Kitô
và phục vụ muôn loài. Việc
gặp gỡ với xã hội, văn
hóa, tôn giáo, v.v. phải diễn ra trong
khuôn khổ và với tinh thần
của sứ mệnh.
[8] Vaticanô
II đã đặc biệt bàn về
giáo dân trong chương 4,
Hiến
Chế Tín Lý về Giáo Hội, và
trong Sắc
lệnh về Tông đồ Giáo dân.
Tất cả những gì nói về Dân
Thiên Chúa thì đều liên
quan đồng
đều đến cả giáo dân, tu
sĩ và giáo sĩ (GH 30) để
mọi người cùng góp phần vào
công cuộc chung tùy theo cách
thế
của
mình.
Theo công
đồng, cứu cánh của Dân thiên
sai là phát triển thêm mãi Nước
Thiên Chúa và không ngừng tự đổi
mới dưới tác động
của Chúa Thánh Thần (GH 9). Tất
cả mọi thành viên đều tham
dự vào chức tư tế cộng
đồng (x. GH 10-11) và hưởng
nhận những đoàn sủng khác
nhau khiến họ có đủ khả
năng và sẵn sàng đảm
nhận những công tác và nhiệm
vụ khác nhau, hữu ích cho việc
canh tân, xây dựng và phát triển Giáo
Hội (GH 12). Vì thế, làm việc
tông
đồ
là
giáo dân
thông phần
vào chính
sứ mệnh cứu độ của
Giáo Hội. Qua việc lãnh nhận bí
tích Rửa tội và Thêm sức,
hết thảy mọi tín hữu đều
được Chúa đề cử làm
tông đồ (GH 33b). Ðã được
làm anh em của Ðức Kitô cũng như
của hàng giáo phẩm và giáo sĩ (x.
GH 32d), tất giáo dân có nhiệm vụ
cao cả là làm cho quyết định
cứu độ của Thiên Chúa ngày
càng lan rộng tới tất cả
mọi người ở mọi nơi,
trong mọi thời đại (GH 33c).
Cuối cùng, chương 4 kết thúc
với lời trích dẫn thư
gửi Diognetus (thế kỷ 20): Người
kitô làm cho thế giới sống
hệt như linh hồn làm cho thân xác
sống vậy (GH 38). Tiếp
theo sau đó,
Sắc
lệnh về Tông đồ Giáo dân
đã bắt đầu với lời
xác định nói rằng: các kitô
hữu giáo dân giữ một phần
cá biệt và thiết yếu trong
sứ mệnh của Giáo Hội (TÐ 1),
rồi khai triển nội dung của
nhiệm vụ này, và sau cùng kết
thúc với lời kêu gọi: Nhân Danh
Chúa, thánh công đồng tận
lực kêu mời tất cả các giáo
dân hãy quảng đại, mau mắn
đáp lại tiếng của Chúa Kitô
hiện đang khẩn khoản mời
gọi, cũng như hưởng
ứng đà thúc đẩy của
Chúa Thánh Thần (TÐ 33). Công đồng
đã nhắc đi nhắc lại
lời kêu mời này trong nhiều văn
kiện; chẳng hạn,
Hiến
chế Mục vụ đã
lên tiếng phàn nàn rằng:
Tình
trạng
ly gián
giữa đức tin các kitô hữu
tuyên xưng và cuộc sống thường
nhật của nhiều người, là
một trong số những
sai lầm
trầm trọng nhất của thời
đại chúng ta,
và đồng
thời khẳng định như sau:
Giữ những phận vụ sinh động
cần được
thi hành trong
đời sống Giáo Hội toàn
thể, không những người
giáo
dân
có
sứ
mạng
đưa tinh thần kitô giáo thấm
đượm vào trong thế giới,
mà còn được kêu gọi để
làm chứng cho Ðức Kitô trong mọi
hoàn cảnh, ngay giữa lòng cộng
đoàn nhân loại (MV 43ad). Qua
những
lời lẽ như thế,
rõ ràng là
Giáo Hội muốn gióng lên lời
mời tha thiết kêu gọi giáo dân hăng
say, quảng đại cùng tận
lực dấn thân cho sứ mệnh
kitô, và hy vọng nhiều người
sẽ đáp ứng tích cực.
Ðức
Phaolô VI đã đổi mới hệ
thống thừa tác vụ không-bí tích
trong Giáo Hội (Ministeria Quaedam, 15.8.1972).
Chức Cắt tóc và chức Phụ
phó tế không còn; các chức Ðọc
sách và Giúp lễ thì đã trở
thành những Thừa tác vụ mở
rộng cho cả giáo dân. Bộ
Giáo luật mới liệt kê nhiều
nhiệm vụ giáo dân có thể
đảm
trách
và
thi
hành:
không
chỉ
các
tác
vụ
giúp
lễ
và
đọc
sách
trong
phụng vụ (đ
230),
mà còn
cả tác vụ giảng Lời Chúa
(trừ bài
giảng sau Phúc âm, đ 776; 762.1). Giáo
dân có thể dạy thần
học
với danh nghĩa
chính
thức
(đ 229.3),
và đến một
mức
nào
đó,
đảm
nhiệm cả những phận vụ
chưởng ấn
(đ
483.2),
lục
sự (đ
483.2)
và
biện
lý
trong
giáo
phận
(đ
494);
có
thể
làm
thẩm
phán
trong
một
tòa
án
tập
đoàn
(đ
1431.2),
cố
vấn
thẩm
phán
(đ
1424),
chưởng
lý
và
bảo
hệ
viên (đ
1435);
có
thể
làm kiểm
toán viên (đ 1428.2) cũng như
thụ ủy (đ 1483). Trong giáo
phận,
giáo dân có
thể làm thành viên của hội đồng
kinh tế (đ
492.3)
và hội
đồng mục vụ (đ
512.1);
còn trong
họ
đạo
thì
giáo
dân có
thể phối
trí
những
công tác
tông đồ
dưới
quyền chỉ đạo của cha
xứ,
và nếu
không có linh
mục,
giáo
dân
có thể
đảm
trách
việc
trông coi họ đạo (đ 517.2).
Giáo dân có thể làm
thừa sai
(đ
784),
làm thừa
tác viên ngoại thường
của
Phép Rửa
(đ 861.2), phân phát (đ 910.2) và đặt
Mình Thánh Chúa (đ 943); giáo dân cũng
có thể cử hành phụng vụ hôn
phối (đ 1112), phụng vụ an
táng và nhiều á bí tích khác (đ
1168). Khuôn mẫu pháp lý đã sẵn
có, chỉ cần có ứng viên có
đủ khả năng và điều
kiện vào các chức vụ ấy. Trong
những thập kỷ gần đây,
Tòa Thánh cũng đã đề
xuất một số văn kiện
về giáo dân. Trong Tông huấn về
việc dạy giáo lý
Catechesi
tradendae (16.10.1979), Ðức Gioan Phaolô
II đã nêu bật vai trò của các
giáo lý viên giáo dân (số 66). Ðặc
biệt, Tông huấn
Christifideles laici (30.12.1988), thành
quả
của
Thượng
hội đồng giám mục năm
1987, đã được coi là hiến
chương của giáo dân. Tình
trạng của giáo dân trong Giáo Hội
có thể được ví như
những người đứng
đường rỗi rãi vì không ai mướn,
trong khi có nhiều việc phải làm
cho vườn nho;
giờ
đây,
gia chủ
(Ðức Kitô và Giáo Hội) bảo
họ:
Cả các
anh nữa, hãy đi vào làm vườn
nho cho tôi! (Mt
20:3-7). Cả một thế hệ sau
Vaticanô II, các giám mục mới đấm
ngực thú tội
là
đã
không dùng
hoặc không dùng cho đúng mức tài
năng và
đặc
sủng
của giáo
dân.
Bước
vào thiên kỷ thứ ba này, trong Giáo
Hội, không ai có thể ở rỗi
rãi mà không ra tay làm việc được
cả. Ðức Giáo hoàng đã nhắc
lại lời của Ðức Piô XII nói
rằng
giáo
dân không
chỉ thuộc về Giáo Hội,
mà chính là
Giáo Hội! Thế nên, họ tham
dự vào thừa tác vụ tính
(ministeriality)
của Nhiệm thể Ðức Kitô, nghĩa
là chia sẻ bản chất tư
tế, tiên tri và vương giả
của Ðầu là Ðức Kitô, trong
chiều kích làm men muối và ánh sáng
giữa trần thế, như Vaticanô II
đã dạy. Ðể chu toàn sứ
mệnh, trước hết giáo dân
phải thực sự
nên thánh theo ơn gọi và
thể cách riêng của mình, phải
biết sống hiệp thông với
Hội thánh toàn thể và áp dụng
những ân huệ
của
Thánh Thần
để
phục vụ mọi người.
Từ các ân huệ ấy xuất phát
các nhiệm vụ, các thừa tác
vụ và vai trò khác nhau trong Giáo
Hội, lãnh nhận qua các bí tích; do
đó, mọi người đều
được
mời
gọi đảm nhận phần trách
vụ trong sứ mệnh của Giáo
Hội, cả đến trách nhiệm
mục vụ trong giáo xứ
(Catechesi
trad. 25-26),
cùng tác vụ công bố Tin mừng cho
lương dân (x.
số 33,
35). Ðức
Gioan Phaolô II quả quyết:
đã đến
giờ phải tiến hành công cuộc
tân phúc âm hóa, và nếu đã thông
dự trọn vẹn vào trong sứ
mệnh tiên tri của Ðức Kitô,
tất giáo dân
cũng
có bổn
phận
thông
dự hoàn
toàn vào trong sứ vụ của Giáo
Hội (số 34). Chắc hẳn giáo
dân cần phải được đào
tạo chu đáo hơn cả về
mặt giáo lý đức tin lẫn
về mặt kỹ năng và đối
với công tác đào luyện này, giáo
sĩ có một bổn phận đặc
biệt Cuối cùng ngài kết thúc:
Tôi tha thiết kêu gọi hết
thảy mọi giáo hữu, mục
tử cũng như giáo dân, hãy mãi mãi
kiên trì giữ gìn cho sống động
cảm
thức về Giáo Hội, luôn luôn
ý thức
mình là
thành
phần
của
Hội
thánh Chúa
Giêsu Kitô,
được
thông dự
vào mầu nhiệm hiệp thông của
Giáo Hội, vào
sức
năng
động
của sứ mệnh tông đồ
Giáo Hội đảm nhận (số
64). Các
tài liệu
khác cũng đều đi theo cùng
một đường hướng và
đều gióng lên cùng một lời
mời gọi. Quả vậy, càng ý
thức về những nhu cầu
của Giáo Hội, thì Tòa thánh càng
mạnh mẽ kêu gọi giáo dân góp
phần vào sứ mệnh chung. Giáo HỘi Châu Á Ngay
từ đầu,
Giáo Hội Châu Á đã nhìn nhận vai
trò trọng yếu của giáo dân,
đặc biệt là ở một vài
Giáo Hội địa phương
như
Ðại Hàn và Việt Nam; ở nhưng
nơi này, các giáo lý viên đã
có một
phần đóng góp lớn lao và đặc
thù. Từ khi các giám mục Châu Á nhóm
họp lần đầu (1970) với
việc thành lập FABC (Liên hiệp
các Hội đồng Giám mục Châu
Á) hàng giáo phẩm đã ý thức
về việc giáo dân phải đóng
một vai trò đặc
thù
tại
lục địa nhà. Thế nên,
một cuộc hội thảo đã
được tổ
chức
tại Hongkong (1977)
với
chủ
đề
các thừa
tác vụ
trong Giáo Hội.
[9] Ðể
chuẩn bị Ðại hội thứ ba
(1982), hai tài liệu về cương
vị của giáo dân đã được
gửi đến trước cho các
thành phần tham dự.
[10] Trong
số các ủy ban đặc nhiệm
của FABC thì có BILA chuyên trách về
công tác tông đồ giáo dân (BishopsInstitute
for Lay Apostolate); ủy ban này đã
nhóm họp lần đầu hồi năm
1985 với chủ đề:
Trusting,
Entrusting the Laity (Tin tưởng và
ủy nhiệm cho giáo dân). Năm sau,
Ðại hội
thứ tư
của
FABC
(Tokyo
16-25
tháng
9,
1986)
đã bàn
riêng về
vai trò
của giáo dân trong Giáo Hội.
Các giám
mục xác nhận
là giáo dân
đã
và đang
góp phần
to
lớn cho
đời sống đức tin của
Dân Chúa (x. số 2.4), cũng như nêu
lên những lãnh vực
trong đó
họ phải đóng giữ một vai
đặc biệt,
như: gia
đình, giáo dục,
phương
tiện
truyền thông đại chúng, lao
động, nghề nghiệp, y tế,
nữ giới, v.v. Các giám mục
quyết định đổi mới
các cơ cấu của Giáo Hội
để cổ võ niềm hiệp
thông theo tinh thần tập thể và
đồng trách nhiệm (4.5). Các ngài
đã kết luận rằng: muốn
cho Giáo Hội Châu Á cường
thịnh hơn, thì phải có một
giới giáo dân năng động hơn,
và điều này đòi hỏi cần
phải đào tạo cho tốt hơn
cả giáo dân lẫn giáo sĩ để
mọi phía biết chung sức tương
tác. Và như vậy, chúng tôi hy vong
kết quả sẽ là việc phối
hợp sâu xa hơn giữa thừa tác
vụ của linh mục và tác vụ
phục vụ của giáo dân, ngõ
hầu công tác phụng sự Giáo
Hội và các dân tộc Châu Á tiến
hành tốt đẹp hơn (4.8.11). Trong tất cả các văn
kiện đại hội, các giám
mục đều lưu tâm
đến vai trò của giáo dân.
FABC
5 (Bandung, 17-27 tháng 7, 1990) nói rõ
rằng: Giáo dân phải đảm
trách đặc nhiệm canh tân xã
hội Châu Á, làm cho ăn khớp
với những giá trị của Phúc
Âm. Họ là thừa sai số một
trong lãnh vực văn hóa và
trong toàn bộ cơ cấu đời
sống xã hội
(5.1). Ðại hội FABC năm 2000
tại Thái lan, đã nhắc lại
một tư tưởng thường
xuất hiện trong các văn kiện
thần học Châu Á: Chúng ta phải
phát huy những cơ cấu tham gia (participative)
trong Giáo Hội,
ngõ hầu các tài năng và chuyên
môn của giáo dân nam nữ có cơ
hội được xử dụng
đến. Ðược Thánh Thần ban
sức năng
và nhờ các bí tích cũng
cố, giáo dân phải quyết tâm
dấn thân
vào trong cuộc sống
và sứ mệnh của Giáo
Hội, đem Tin mừng của
Ðức Giêsu áp dụng vào các lãnh
vực nghề nghiệp: chính
trị,
giáo
dục,
y tế,
phương tiện truyền thông
và lao động. Muốn được
như vậy, thì cần phải
sống linh đạo làm môn đồ,
để nhờ đó, cả giáo sĩ
lẫn giáo dân biết chung sức làm
việc với nhau, giữ những vai
trò đặc thù của mình, trong
sứ mệnh chung của Giáo Hội. Văn
kiện này đề xuất một
sáng kiến đáng chú ý: để
đạt mục tiêu ấy Trong
việc huấn luyện các linh mục
và tu sĩ tương lai, cũng như
trong chương trình huấn luyện
liên tục, cần phải làm sao để
việc hợp tác của những giáo
dân có khả năng vào trong kế
hoạch huấn
luyện được bảo
đảm, ngõ hầu công cuộc đào
tạo thực sự hướng
tới việc hình thành một Giáo
Hội tham gia. Riêng
tại Việt Nam, ngày từ
buổi đầu đón nhận đức
tin, giáo dân đã đóng giữ
một vai rất đáng ghi nhớ: các
thầy giáo và thường dân đã
viết lên những trang vẻ vang trong
lịch sử
Hội thánh. Thư chung của các
Giám mục viết năm 1953 ghi
nhận rằng: Việc tông đồ
giáo dân là việc khẩn cấp
cần thiết và ở đây chúng
tôi vẫn có ý khuyếch trương
việc đó dưới mọi hình
thức hợp với hoàn cảnh
Việt Nam.
Dù bối cảnh đã thay
đổi nhiều,
thì năm 2001, các Giám mục
Việt nam cũng nói rõ: Chúng tôi ghi
nhận sự hợp tác của anh
chị em giáo dân. Nhờ được
củng cố và đào sâu đức
tin qua việc học hỏi và sống
Lời Chúa cũng như nỗ lực
canh tân đời sống, anh chị em
đã quảng đại chia sẻ
vật chất và tinh thần cho các
điểm truyền giáo cũng như
có mặt trong mọi lĩnh vực mà
xã hội cho phép. Bây
giờ không
ai có thể làm ngơ đối
với việc tông đồ giáo dân
và vai trò của họ trong Giáo Hội.
Ðành là phải thay đổi một
số cơ cấu, như hồng y
Ratzinger đã nhận định:
Những thể chế và tổ
chức pháp luật của Giáo Hội
đã trở thành lỗi thời. Nguy
hiểm là ở chỗ coi chúng như
là bản chất của Giáo Hội,
đến nỗi chúng ta không còn
nhận ra được đâu là
điều thật sự chính yếu.
Vì thế, cần phải tháo bỏ
chúng đi, tựa như giàn giáo không
còn cần đến nữa. Bao giờ
việc cải cách cũng giả
thiết hành động
ablatio,
cắt bỏ, ngõ hầu
nobilis
forma, dạng thể thanh cao, của
Hiền Thê xuất hiện, và đồng
thời quý tướng của Tân Lang,
của chính Chúa, tỏ lộ.
[11] Một
số Giáo Hội đã bắt
đầu tiến bước trên con
đường này; còn phần đông
thì tuy có bàn đến, nhưng trong
thực tế cũng vẫn như cũ. [1] Về tác giả xin xem Lời Nói Ðầu, Hợp Tuyển Thần Học, các số 18&19 (1997), 18-22 (1997-1998) và 31 (2001). [2] Thông điệp Vehementer, 11.2.1906. [3] Về lời phát biểu của một giám mục Úc, xin xem John Heaps, A Love That Dares to Question, A Bishop Challenges His Church, Grand Rapids: Eerdmans 2002. [4] AAS 43 (1951) 513. Xin xem Jean-Loup Ducasse, et al, Chrétiens dans le monde rural. LAC-MFR-CMR, 1939-1989: 50 ans d'histoire, Éditions ouvrières, 1989. [5] AAS, 1959, tr. 849.
[6]
Về lịch sử Vaticanô
II nói chung, xin xem Giuseppe
Alberigo, Joseph A. Komonchak (Eds.), History of Vatican II, Vol 1-4, Orbis Books 1996-1999;
Collectif,
Histoire
du concile Vatican II, 3
vols., Cerf 1997.
[7] Vatican II: The Faithful Revolution, Thomas More Publishing, 1998. [8] Wilbert R. Shenk, Mission, Renewal, and the Future of the Church, International Bulletin of Missionary Research 21 (1997): 154-159. [9] Asian Colloquium on Ministries, FABC Paper n. 3. [10] Is the Laity the marginalized majority in the Church? (FABC paper 33f) và Laity in the Church of Asia (Paper 33k). [11] Joseph Ratzinger, Called to Communion. Understanding the Church Today, San Francisco: Ignatius Press 1996, tr. 142.
|