|
VI
“Thế
giới” được hiểu như là lãnh vực phàm tục
đối lại với lãnh vực “thánh,” tức Giáo
Hội. Người kitô là công dân của hai “nước”
hay là nói như thánh Âugutinô, của hai “thành
đô.” Vaticanô II nói rằng: “Công đồng khuyến
khích các kitô hữu, công dân của cả hai thành
đô, hãy nỗ lực và trung thành chu toàn những
bổn phận trần thế của họ dưới sự hướng
dẫn của tinh thần Phúc âm” (MV 43). Các kitô
hữu là như vậy; tuy nhiên các giáo sĩ thường
lo về việc của Giáo Hội nhiều hơn, còn các
giáo dân thì lo về những gì thuộc phạm vi trần
thế nhiều hơn. Nói chung là vậy, nhưng cũng có
trường hợp ngoại lệ, như lúc một giáo sĩ
làm chính trị hoặc giáo dân phụ trách một họ
đạo. Tất cả đều phải đem tinh thần Phúc âm
áp dụng vào trong hết mọi hoạt động. Tông
Huấn Christifideles
laici cảnh báo về hai cám dỗ: “một là cám
dỗ mê mệt làm các công tác nội vụ
Giáo
Hội đến độ bỏ
quên đi những bổn phận đảm trách trong lãnh
vực chuyên nghiệp, xã hội, văn hoá và chính
trị. Và ngược lại, là cám dỗ bảo chữa cho
việc tách
biệt vô lý giữa đức tin và
sinh hoạt trong xã
hội, cho rằng tin nhận Phúc âm là một chuyện,
còn thực thi Phúc âm trong những hoàn cảnh
khác nhau giữa cuộc đời lại là một chuyện
khác” (CL 2). Tắt một lời, cần phải làm sao
để cùng lúc: là kitô hữu hoàn toàn và là
công dân hoàn toàn; sống đức tin trọn vẹn và
sống trọn vẹn cuộc đời nghề nghiệp; hoàn
toàn ở trong Giáo Hội và hoàn toàn ở giữa
thế gian. Như ngày trước thần học năng nhấn
mạnh đến việc đức tin cần được sinh động
hoá bởi đức ái, thì ngày nay Giáo Hội
thường xuyên nhắc nhở là lòng tin phải đi
đôi với công bằng.
tác
vỤ đẶc thù cỦa giáo dân Thiên Chúa
dựng nên thế giới và giao phó cho con người
quản lý. Con người không phải là chủ, song là
quản lý của các tài nguyên trong thế giới.
Người kitô biết được như thế là nhờ mạc
khải. Vậy, về điểm này, bổn phận đầu tiên
của kitô hữu là chia sẻ chân lý ấy, vũ trụ
quan ấy với hết mọi người thiện chí, vì đó
là nguồn gốc phát sinh của những giá trị sẽ
chi phối sự mở mang và đà tiến phát trong các
lãnh vực khoa học,
kinh tế, chính trị,
v.v. Vì thế,
không thể bỏ qua
mà không tìm
hiểu cho
chín chắn “thần học về
những thực tại trần thế”
[1]
được
coi là ngành thần học đặc thù giáo dân.
Người trí thức công giáo lấy vũ trụ quan
kitô giáo làm đối tượng đặc tuyển cho việc
suy tư triết lý và khoa học, để một khi đã
làm chủ đề tài này, họ có thể đối thoại
với đồng nghiệp và soi sáng cho công luận. Trong
thời đại khủng hoảng văn minh như hiện nay, có
lẽ tác vụ này phải chiếm ưu tiên hàng đầu
giữa các việc tông đồ trí thức khác. Ðể
hoạt động trong lãnh vực này,
thì giáo dân có
lợi thế hơn so với giáo sĩ,
vì họ hiểu hoàn
cảnh dễ dàng hơn và được coi là vô tư hơn
trong tư thế giải thích; quả thế, nếu giáo sĩ
giải thích thì có thể bị nghi ngờ là có thành
kiến phe phái hoặc ý thức hệ (tôn giáo). Nền tảng thần học của thái độ dấn thân vào giữa thế giới là giáo lý về Nước Trời ở giữa trần gian. Giáo Hội biết rằng thế giới càng trở nên hoàn hảo thì Nước Trời càng đến gần. “Quả thế, qua hoàn cảnh sống của giáo dân giữa trần gian, Thiên Chúa tiết lộ kế hoạch cứu độ của Người và ban cho họ ơn gọi riêng, ơn gọi tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách dấn thân vào giữa thế sự và xếp đặt các sự việc ấy theo kế hoạch Thiên Chúa” (CL 15). Khi cầu xin “Nước Cha trị đến” tức để “ý Cha thể hiện dưới đất...” là chúng ta cam kết thể hiện ý Cha theo đúng kế hoạch của Người. Giáo dân là thợ xây Nước Trời ngay trong gia đình, ở nơi văn phòng, ở trong nghề nghiệp, ở trong mọi nơi sinh hoạt cuộc sống, và như thế góp phần vào sứ mệnh của Giáo Hội. Những viên đá xây nên Nước Trời là những giá trị của Phúc âm: cổ vũ công bình, thương yêu, tương trợ, hoà bình, tình huynh đệ, v.v. là mở rộng vương quyền của Thiên Chúa ở giữa xã hội.
“consecratio
mundi” thánh hiẾn thẾ
gian Trong
Sắc Lệnh về Giáo Dân, công đồng Vaticanô II đã
giải thích rõ: “Giáo Hội được khai sinh là
để làm cho nước Chúa Kitô rộng mở trên
khắp hoàn cầu, hầu làm vinh danh Thiên Chúa Cha:
tức là làm cho
mọi người
tham dự vào công
cuộc cứu chuộc và ơn cứu độ, để rồi
nhờ
họ, toàn thể thế giới thực sự được quy
hướng về với Chúa Kitô” (AA 2a). Ðó là ý nghĩa của nhan
đề (không chính thức)
“consecratio
mundi” (trước số 34) của
Lumen
Gentium, dùng để diễn tả phận vụ tư tế của
giáo dân. Ý là, vì họ “đã được thánh
hiến cho Chúa Kitô và được Thánh Thần xức
dầu,” mọi việc giáo dân làm đều là “hiến
lễ thiêng liêng.” Ðoạn văn kiện kết thúc: “Như
thế giáo dân thánh hiến thế giới này cho
Thiên Chúa nhờ biết phụng thờ Ngài bằng hành
động thánh thiện khắp nơi” (GH 34).
[2]
Các nghị phụ
đã nhấn mạnh đến sự việc thế giới vẫn là
phàm tục, nhưng tính phàm tục ấy chính là khí
cụ phục vụ cho vinh quang Thiên Chúa, và thế
giới ấy chính là môi
trường
để cho giáo dân
nên thánh: không cần phải lánh bỏ thế gian để
sống thánh. Về
mặt
ngoài,
nhiệm
vụ số một của
giáo dân là giải phóng thế gian. Thánh Gioan
viết: “tất cả thế gian đều nằm dưới ách
thống trị của Ác thần” (1Ga 5:19), và ngài gọi
Satan là “thủ lãnh thế gian” (Ga 12:31; 14:30;
16;11); Satan thống trị nhờ tội lỗi loài người.
Vì thế các kitô hữu phải lấy sự thánh thiện
mà biến đổi tình trạng; phải “trừ tà” thế
gian và đuổi những giá trị giả trá đang lừa
phỉnh loài người, ra khỏi mọi phạm vi sinh hoạt
xã hội. Không “bỏ,” không “trốn” khỏi
thế gian, giáo dân ở lại ngay giữa lòng thế
gian để thánh hóa thế gian. Giữa xã hội ngày
nay, thấy đầy dẫy những “cơ cấu tội lỗi”:
những chế độ độc tài, những tổ chức bóc
lột, những hệ thống thương mại bất công, buôn
bán con người, mại dâm, ép trẻ con làm việc,
v.v. và v.v. giáo dân có sứ mệnh phải làm sao
để thay thế các cơ cấu ấy bằng những cơ cấu
hợp với công bình và nhân đạo. Và bởi
chính họ cũng là thành tố trong các cơ cấu ấy,
nên khi cải thiện con người mình, là họ cải
thiện các cơ cấu; rồi nhờ gây được ảnh
hưởng trên các
tổ chức trần
thế qua việc
đổi mới luật
lệ,
mục
đích, phương pháp,
phương tiện, v.v. họ góp phần cho việc kiến tạo
một xã hội tốt đẹp hơn. Thánh Phaolô cho biết:
“Muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo... tuy
nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày
cũng sẽ được giải thoát, không còn lệ thuộc
vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái
Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm
8:20-21). Mối liên đới của “con cái Thiên Chúa”
với vũ trụ được đặc biệt thể hiện qua
đời sống và sinh hoạt của giáo dân. Sứ mệnh
giải phóng này chỉ hoàn tất trọn vẹn trong ngày
cánh chung; nhưng phải được khởi sự với
những bước đầu và phải tiếp tục diễn tiến
trong dòng lịch sử ngay từ bây giờ. Phải giải
phóng muôn loài khỏi xiềng
xích của
những bạo chúa
tối tăm là tiền của,
quyền lực, chủ
nghĩa chuyên chế, tật tham nhũng, v.v. Ðó là tác
vụ tiêu cực cần thiết để tiếp tay với tác
vụ tích cực là thánh hóa mọi sự. Khi loài
người hưởng được tự do đích thực thì
muôn loài cũng được tự do: khi mà không ai
bóc lột ai, áp bức ai, loài trừ
ai,
thì muôn vật không
còn “chịu
oan cảnh hư nát” và công
cuộc consecratio mundi
đạt
đến mức thành tựu.
nhỮng
lãnh vỰc hoẠt đỘng Muốn đạt
tới tiêu đích ấy, tiêu đích mà Ðức Gioan
Phaolô II gọi là “văn minh tình thương,”
[3]
giáo dân phải
tích cực dấn thân vào những lãnh vực khác
nhau dệt nên xã hội tân thời. “Do ân sủng
và tiếng gọi của bí tích Rửa Tội và Thêm
sức, tất cả các giáo dân đều là thừa sai;
và môi trường hoạt động tông đồ của họ
là những lãnh vực mênh mông và phức tạp,
từ chính trị, kinh tế, kỹ nghệ, giáo dục,
truyền thông, khoa học, cho đến kỹ thuật và thể
thao” (Eccesia in Asia
45). Xin thử nhìn vào một vài lãnh vực như sau:
Chính
Trị Lãnh vực
chính trị mang hai bộ mặt; vì thế, nhiều người
kitô do dự không dám dấn thân vào. Tuy thế,
Giáo Hội hiện đang cần đến những nhà chính
trị thực sự đạo đức; còn thần học thì đang
nói về “thánh thiện chính trị.” Từ “chính
trị” có hai nghĩa: một là nghĩa tổng quát, chỉ
về mọi khía cạnh của đời sống xã hội liên
quan tới “công ích”; hai là theo nghĩa hẹp, chỉ
hoạt động của những chính đảng.
[4]
“Chính trị”
theo nghĩa rộng là bổn phận của hết thảy các
tín hữu; “chính trị” theo nghĩa hẹp thì dành
riêng cho giáo dân (Giáo luật, đ. 287 §2, cấm
giáo sĩ làm chính trị). Các tài liệu của các
Giáo Hội Châu Á (FABC) bao giờ cũng liên
tưởng đến tình hình chính trị tại các nước
trong vùng. FABC 4 (Tokyo, 16-25 tháng 9, 1986) đã đặc
biệt khai triển điểm này: “Trước hết, chính
trị phải trở thành một hoạt động nhằm tới
ích chung. Toàn thể Dân
Chúa được mời
gọi dấn thân vào lãnh vực “chính trị” ấy,
vì Phúc âm đòi hỏi kitô hữu đưa Phúc âm
và những giá trị Nước Trời là tình thương
và công bình, thâm nhập vào trong các lãnh vực
chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của Châu
Á” (3.1.2). Bằng cách nào? Ðầu tiên là bằng
cách làm tròn bổn
phận nghề nghiệp
của mình như là chứng tá của Ðức Kitô. “Dấn
thân vào hoạt động chính trị là giáo dân củng
cố gốc rễ của mình nẩy sinh từ Ðức Kitô;
Ngài đã mời gọi cộng đồng các môn đồ
trở thành men giữa lòng thế giới, và điều
đó có nghĩa là làm việc cho công ích. Kitô
hữu là thành viên của Dân Chúa và của xã
hội, với bổn phận cổ vũ, bảo vệ và phục
vụ công ích. Ai tuyệt đối khước từ những
đòi hỏi của sự thay đổi chính trị ở Châu
Á, ắt là, một cách nào đó, cũng phủ nhận
căn tính kitô của mình” (3.1.3). Vì là phần tử
của thiểu số, người kitô e ngại ra mặt cạnh
tranh trong lãnh vực hiểm nguy này, nhường chỗ
cho người khác, rồi làm như Philatô, rửa tay
và “trao lại nó theo ý họ muốn” (x. Lc 23:25).
Kết quả
là
“họ” thống
trị và quản lý
“nó” tức việc
công theo những nguyên tắc của họ... Sau đó,
nếu có đưa ra lời phê bình, tố cáo hoăïc
làm gì khác thì thường cũng chỉ là công toi.
Vì thế, Giáo Hội khẩn thiết kêu gọi giáo dân
dấn thân vào lãnh vực chính trị chuyên nghiệp:
“Việc thiết bách giờ đây tại Châu Á là
giáo dân có khả năng và đức hạnh, can đảm
dấn thân vào lãnh vực chính trị đảng phái
để, từ bên trong, ra sức ảnh hưởng đến tư
tưởng, chương trình và hoạt động của các
chính đảng và các chính trị gia, hầu góp phần
mưu ích chung dưới ánh sáng Phúc âm” (3.1.6.). Nói thì dễ, làm thì khó. Muốn đạt cho được tiêu đích ấy, Giáo Hội phải gia công huấn luyện giáo dân, không chỉ qua việc dạy giáo lý, mà còn bằng cách giúp họ tiến xa trong việc học hỏi và nghiên cứu về khoa chính trị học. Ðiều đặc biệt quan trọng là các chính trị gia kitô nắm vững giáo lý xã hội của Giáo Hội và có được một căn bản vững chắc về đạo đức học. Dư luận công giáo, nhất là giữa giới trí thức, phải biết trình bày một cách tích cực về hoạt động chính trị chuyên nghiệp, và thúc giục cùng nâng đỡ những ai có năng khiếu để họ can đảm bước vào con đường ấy. Còn thần học thì phải suy tư về “con đường nên thánh của chính giới” như là cách thức đặc thù thực thi ơn gọi kitô ở giữa thế gian. Nên thánh là làm ý Cha ở trên Trời, hoặc ở trong đan viện hoặc ở giữa chợ búa, hoặc ở trong phụng vụ hoặc ở nơi nghị viện, hoặc khi hoà giải tội nhân với Chúa hoặc khi hoà giải hai kẻ thù với nhau để tránh chiến tranh, v.v. Một chính trị gia có thể coi chính nghiệp của mình như là ơn gọi riêng, và sống kinh nghiệm thần bí ngay nơi chính trường. Uy thế chính trị ảnh hưởng rất lớn đến những sự việc quan trọng trong thế giới, như trào lưu toàn cầu hóa, nền hòa bình, việc xây dựng công bằng xã hội, hiện tượng di dân, nạn kỳ thị chủng tộc, việc lập quy ước về thương mại quốc tế, v.v. [5]
Kinh Tế Các giám
mục Châu Á đã lên tiếng thúc dục: “Các
giáo dân phải dấn thân vào sinh hoạt và sứ
mệnh của Giáo Hội, bằng
cách đưa Tin Mừng
Ðức Giêsu ảnh hưởng sâu đậm đến các lãnh
vực kinh doanh
và chính trị,
giáo dục và y tế,
phương tiện truyền thông và thế giới lao động.
Muốn vậy, thì cần phải có một nền linh đạo
môn đệ.”
[6]
Về điểm này,
truyền thống Giáo Hội có thể ở trong thế
nước đôi, vì thời xưa, khi nói đến
việc giúp người
nghèo là thông thường muốn nói đến
việc bố thí; khoa học về cơ chế xã hội
và kinh tế là điều mới có. Kitô giáo không
có một bí quyết linh thiêng nào để làm tiền!
Phúc âm không phải là uyên nguyên kinh tế.
[7]
Tuy vậy, Giáo
Hội đã khai triển một giáo lý phong phú và
hợp lý về xã hội. Trong số 2419-2449,
Sách Giáo Lý Hội thánh Công Giáo
trình bày
tóm lược học
thuyết xã hội với các nguyên tắc về hoạt
động kinh tế và công bằng xã hội. Có rất
nhiều sách báo viết về điểm này.
[8]
Một điểm cần
được nêu bật, đó là trong lãnh vực này,
giáo dân có ưu thế và khả năng cao hơn so với
các thành phần khác trong Giáo Hội.
Thành ngữ
“thừa tác vụ kinh tế” có vẻ hơi lạ; tuy
nhiên, Giáo Hội ước mong có được những
giáo dân chuyên nghiệp trong vấn đề “tạo lợi
nhuận,” trong lãnh vực phát triển nền kinh tế
của nước nhà, biết coi nhiệm vụ của mình như
là ơn gọi đặc biệt. Chắc hẳn, ra sức làm cho
bớt đói giảm nghèo là đang làm cho Nước Cha
trị đến. Cả trong nội bộ Giáo Hội, nhiều giáo
dân cũng có thể giữ vai trò quản lý của hội
đồng giám mục, địa phận hay giáo xứ. Giữa
xã hội trần thế, một chủ ngân hàng, một nhà
kinh tế học biết sống thánh thì làm chứng cho
Phúc âm hùng hồn hơn nhiều người giữ chức
cao quyền trọng ở trong Giáo Hội, hữu hiệu hơn
trăm ngàn bài thuyết giảng đạo đức.
Là bổn phận của giới có trách nhiệm hàng đầu trong Hội thánh (hiện là giáo phẩm) việc công nhận vai trò của những giới vừa nói và giúp họ chu toàn nhiệm vụ kitô giáo của họ. Tiêu đích chủ yếu một tuyên úy sinh viên nhằm tới là chuẩn bị tương lai kitô cho những tay nghề công giáo bằng cách cung cấp cho họ một vốn liếng giáo lý thần học vững chắc, một ý thức rõ ràng về sứ mệnh của mình ở trong thế giới, và động viên họ gia nhập một hội tông đồ. Những tổ chức sẵn có như Pax Rômana [9] hoặc những tổ chức có thể thành lâïp tại địa phương, đều là những khí cụ hữu hiệu trong việc đào tạo những tay nghề công giáo và củng cố ý hướng tông đồ của họ.
Truyền Thông “Truyền
thông”
bao
gồm các
hoạt
động liên quan đến
việc đưa tin, trao đổi ý kiến, tạo dư luận,
tuyên truyền, v.v... Tác viên
trong lãnh
vực này là các nhà
báo,
các nhà văn, các nghệ
sĩ đặc biệt là ở trong truyền hình, phim ảnh,
chuyên viên tin học, quảng cáo,
v.v. Tín hữu hoạt động trong lãnh vực này cần
ý thức rõ mình có sứ mệnh đối với nhân
loại, trong công cuộc xây dựng một xã hội
đặt trên nền tảng chân lý. Phục vụ chân lý
là tác vụ phát sinh từ chức năng tiên tri và
được đặc biệt yểm trợ bởi Thần Khí Chân
lý (x. Ga 14:17). Kinh
Thánh là trường hợp điển hình: Thần Khí dùng
văn chương làm khí
cụ mạc khải để “truyền thông” chân lý và
tin mừng cho chúng ta. Tự bản tính, Giáo Hội là
truyền thông. Từ những thời đầu,
trong Giáo Hội đã
có những giáo dân nổi danh về truyền thông,
như thánh Giuxtinô tử đạo, hoặc Qua-dratus,
Aristiđes, Minucius Felix và nhất là Ôrigênê và
Téctullianô
(trước khi chịu
chức linh mục). Và lịch sử Giáo Hội cho thấy
là văn nghệ sĩ công giáo đã không ngừng góp
phần vào việc phát biểu và truyền thông tư
tưởng kitô giáo. Hồi thượng bán thế kỷ 20,
khi Marconi phát minh kỹ thuật truyền thanh
vô tuyến, Vaticanô
đã xây ngay một đài phát thanh; và quyền giáo
huấn thì đã công bố nhiều văn kiện, đáng kể
hơn hết
là
thông điệp
Miranda prorsus của
Ðức Piô XII (n.
1957), sắc lệnh Inter
mirifica (n. 1963) của Vaticanô II; rồi gần đây
nhất, Tòa Thánh đã đưa ra hai văn kiện:
Những
Nguyên tắc Ðạo đức
trong việc Thông tin,
(19 tháng 3, 2000) và
Giáo Hội với Internet,
(28.2.2002). Năm 1948 Tòa Thánh đã thành lập Uỷ
ban Giáo hoàng về Phim ảnh, chuyên trách việc
lượng định giá trị về mặt tôn giáo và luân
lý của các phim ảnh. Vaticanô II chưa kết thúc,
thì Tòa thánh đã lo thành lập Uỷ ban Thông tin
Xã hội (2.4.1964). Ủy ban này đã xuất bản nhiều
tài liệu; đáng chú ý đặc biệt là cuốn “Chỉ
nam dùng cho việc đào tạo các linh mục tương lai”
(19.3.1986). Ðiều này chứng tỏ
cho thấy Giáo Hội
ý thức rõ về tầm trọng yếu to lớn hoạt
động truyền thông có đối với sứ mệnh của
mình.
[10]
Ðối
với
vấn đề đang bàn
ở đây, điểm quan trọng đáng chú ý là lãnh
vực này là lãnh vực đặc thù của giáo dân,
không chỉ vì đó là một khía cạnh nổi bật của
xã hội hiện đại, mà còn vì, nói chung, họ có
khả năng hơn giáo sĩ. Vì vậy, đặc biệt qua FABC
4, các giám mục Châu Á đã nhấn mạnh đến nhu
cầu của Giáo Hội
trong phạm vi này; các giám mục thấy rằng “trong
lãnh vực này, ảnh hưởng của Giáo hội thật
quá nhỏ bé, không đáng kể”; thế nên, các
ngài lưu ý: “Giờ đây, giáo dân Châu Á
được mời gọi phúc âm hóa môi trường của
mình qua những khí cụ hết sức mạnh mẽ là các
phương tiện truyền thông đại chúng, do kỹ thuật
hiện đại sáng chế. Ðức Phaolô VI đã
nêu bật
‘vai trò ngày càng
rộng lớn hơn của các phương tiện truyền thông
và tác dụng của chúng trong việc thay đổi não
trạng của xã hội’ (Octogesima
adveniens, 20)” (FABC 4, 3.6.1). Dư luận thường cho
rằng các “phương tiện” ấy
có ảnh hưởng
lớn, ảnh hưởng tiêu cực và bị “các lực
lượng u tối” chi phối; vì thế, tôn giáo và
triết lý đã cố đề ra một mẫu
đạo
đức học cho các
chuyên viên ngành nghề này.
[11]
Tuy nhiên, cũng
có những khía cạnh tích cực mà Giáo Hội muốn
dùng vào trong việc thực thi sứ mệnh của mình.
“Sứ mệnh phúc
âm
hóa của Giáo
Hội bị chi
phối
bởi ảnh hưởng
sâu rộng của các phương tiện truyền thông cũng
như của các kỹ thuật tin học ngày càng mới
mẻ. Tuy nhiên, các phương tiện ấy cũng có thể
trợ giúp nhiều trong việc rao giảng Tin Mừng
đến mọi nơi tại lục địa này, như đã từng
thấy qua việc FABC mở Ðài Phát thanh Chân lý
(Radio Veritas). Nhưng, nếu chỉ
dùng các phương tiện truyền thông để truyền
giáo và phổ biến giáo thuyết đích thực của
Giáo Hội mà thôi thì chưa đủ; còn cần phải
hòa nhập sứ điệp Tin Mừng vào trong nền ‘văn
hóa mới’ do kỹ thuật thông tin tối tân sáng
tạo nên”
(FABC 7, số 3). Trong nền văn hóa mới này, “kinh
nghiệm ngày nay của con người là một thứ kinh
nghiệm qua media, qua phương tiện truyền thông đại chúng,” đến
độ cả các cá nhân lẫn
các nền văn hóa
đều phải chịu “uốn nắn” bởi ảnh huởng
của các phương tiện này.
[12]
Tiêu đích
cao rộng, cần có nhiều người dấn thân thực
thi công tác, một công tác vừa chuyên môn
với những kỹ thuật mới, vừa được thấm
nhuần bởi tinh thần Phúc âm. Chỉ giáo dân mới
có thể dễ dàng đạt tới tiêu đích ấy, tất
nhiên là với sự động viên và trợ giúp
bằng nhiều cách của giáo sĩ, chẳng hạn như tổ
chức những khóa giáo lý và đạo đức học
chuyên đề. Mặt khác, Giáo Hội cũng cần phải
suy nghĩ và thiết kế một
dự án dài hạn nhằm đào tạo nhà văn, nhà
báo, nghệ sĩ, chuyên viên các
ngành truyền hình, vi tính, phim ảnh, quảng cáo,
v.v., và cung ứng cho họ một linh đạo thích ứng,
[13]
đồng thời
phải biết đánh giá cao “sứ mệnh” khó khăn
của các tín hữu hoạt động trong các lãnh vực
này, cũng như biết nghe và thông cảm với cảnh
ngộ của họ, v.v. Riêng về
Internet, Giáo Hội hy vọng các kitô hữu – đặc
biệt là giáo dân – sẽ góp phần tích cực
để làm cho phương tiện
“phổ
quát”
này trở thành khí
cụ của sứ mệnh cứu độ. Văn kiện
Giáo Hội và Internet đề nghị “các đại học, trung
học và tất cả các chương trình giáo dục công
giáo tổ chức những lớp học [về
Internet]
cho các nhóm khác nhau (chủng sinh, tu sĩ, lãnh
đạo giáo dân, giáo viên, cha mẹ và học sinh)
cũng như những
khóa chuyên môn hơn về kỹ thuật thông tin, quản lý học, đạo đức học, chính sách, v.v., có
quan hệ với lãnh vực này, nhất là cho những
người chuyên môn trong nghề thông tin
hoặc
có vai trò
trong
giới chi phối,
và cho cả những
chuyên viên của Giáo Hội” (số 11). Ðoạn viết
này cho thấy rõ mối quan tâm của Giáo Hội đối
với Internet;
nhưng khi không có trường để học thì sao? Thì
phải lấy óc sáng tạo mà đạt cho
được tiểu đích bằng những phương tiện
khác. Trong vấn đề này, điều Giáo Hội nhắm
tới là làm sao để các giáo hữu biết dùng
mạng với óc phê bình. Ở Việt Nam, không thiếu
gì những giáo hữu có tài,
thạo việc, đầy
thiện chí... chỉ cần được động viên để tổ
chức thành nhóm với mục đích tung gieo, phổ
biến những giá trị Phúc âm trong cánh đồng
mênh mông của mạng. Giáo sĩ góp phần nội dung,
giáo dân góp phần kỹ thuật trong nỗ lực chu
toàn sứ mệnh chung. Ðặc biệt
từ Vatican II trở đi, Giáo Hội đã mạnh mẽ cổ
võ các phong trào vận động cho tự do tín
ngưỡng, bởi xác tín rằng lương tâm có quyền
không thể vi phạm để tìm kiếm sự thật và
sống theo sự thật ấy. Phương tiện truyền thông
đại chúng là khí cụ có thể giúp cho biết sự
thật để rồi giúp người khác cũng đạt
được mục đích ấy. Nhưng tiếc thay đó cũng
là khí cụ sắc bén để lừa gạt người khác;
vì vậy, cần phải huấn luyện khán thính giả –
các tín hữu – để họ biết giữ thái độ
chủ động
và
dùng
óc
phê
bình mà phân định
đúng/sai, hay/dở, tốt/xấu trong lãnh vực này.
Y Tế Giáo
Hội thường coi
việc y tế là công tác xã hội điển hình trong
nỗ lực phục vụ người nghèo, đặc biệt là
tại các nước đang trên đường phát triển.
Nói chung, thừa tác vụ này làm chứng cho giá
trị tuyệt đối là sự sống, và nêu bật ý
nghĩa cứu độ của đau khổ.
[14]
Các
thừa sai đã xây hàng ngàn bệnh viện, trại
phòng bệnh, trạm xá khắp nơi trong thế giới.
Giáo
Hội tại Châu Á ghi rằng: “Noi gương Chúa
Giêsu Kitô đã thương xót
tất cả và chữa
hết mọi bệnh hoạn tật nguyền (x.
Mt 9:35), Giáo Hội
Châu Á cam kết dấn thân hơn nữa trong việc săn
sóc bệnh nhân, bởi ý thức đó là khía cạnh
then chót trong sứ mệnh của mình, sứ mệnh mang
ơn của Ðức Kitô đến để cứu chữa con
người toàn diện” (số 36). Nói về các thừa
tác viên của sứ mệnh này,
Christifideles
laici công nhận: “Hiện giờ, số giáo dân cả nam
lẫn nữ, trong các bệnh viện và cơ chế y tế
công giáo đều đang tăng lên. Ðôi khi toàn bộ
các nhân viên làm việc trong các cơ chế này
đều gồm toàn giáo dân. Tất cả các người
ấy – bác sĩ, y tá, các công nhân ý tế khác,
những người tình nguyện – đều được mời
gọi để trở thành hình ảnh sống động của
Ðức Kitô và Giáo Hội, đang nói lên lòng
thương đối với
những người đau ốm, bệnh tật chịu cảnh khổ
đau” (CL 53). Ngày nay,
thừa tác vụ y tế như vừa bàn, đã trở
thành phức tạp hơn trước nhiều,
bởi không
chỉ
đòi hỏi phải tỏ
lòng thương kitô đối với những người khốn
khổ, mà còn phải làm chứng cho những giá trị
Phúc âm trước mọi người. Xã hội hiện đang
chạy theo khoái lạc ích kỷ, còn ngành y học
với những khả năng mới lạ, đang đặt ra
những vấn nạn khó giải cho lương tâm kitô,
như: phá thai, an tử, ưu sinh học, thụ tinh trong
ống nghiệm, ghép cơ quan, hạn chế sinh đẻ, sinh
sản vô tính, v.v. và v.v. Hơn nữa, đa số những
nhân viên y tế công giáo làm việc trong các cơ
chế không công giáo, điều hành bởi những
nguyên tắc
không kitô;
trong rất nhiều
trường hợp,
hành động theo
lương tâm có nghĩa là mất chức, mất việc
làm! FABC 4 đã lưu tâm đến trạng huống này: “Càng
ngày chúng ta càng phải đối phó với những
vấn đề càng khó khăn do khoa học kỹ thuật y
tế tân tiến đặt ra, như: giá y tế quá cao, tập
trung quá độ những hệ thống y tế y cụ ở trong
các thành thị, y tế phòng bệnh quá kém. Tệ hơn
nữa, hiện nay đang thấy lộ rõ nhiều vấn đề
sinh đạo đức học hệ trọng vừa vì rộng lớn
vừa vì ngày càng phức tạp hơn. Ðó là bao
nhiêu thách đố đặt ra cho toàn thể Giáo Hội,
nhưng đặc biệt là cho các giáo dân làm việc
trong ngành y tế” (3.9.1). Dù sao Giáo
Hội (giáo dân và giáo sĩ) cũng vẫn tiếp tục
những công tác phục vụ cổ truyền để giúp
bệnh nhân, người phong cùi, khuyết tật, v.v., vì
sứ mệnh Ðức Kitô đòi hỏi như vậy: “Tôi
đến để cho họ sống và sống dồi dào” (Ga
10:10). Nhưng đồng thời cũng phải ý thức là
tình trạng mới đòi hỏi sáng kiến mới. Toàn
thể Giáo Hội ngưỡng mộ các kitô hữu đáng
khâm phục đang xả thân hy sinh trong lãnh vực y
tế; họ được và các bạn đồng nghiệm chia sẻ
và giúp đỡ.
[15]
Nhu cầu bây
giờ không chỉ là làm chứng cho Ðức Kitô
bằng việc cứu chữa, nâng đỡ trực tiếp, mà
còn bằng việc nghiên cứu mài miệt và kiên
trì trong các lãnh vực y tế, dược lý, sinh lý,
di truyền học, sinh thái học và cả đến nhân
chủng học để tìm cho
ra những phương
dược phòng ngừa
và cứu chữa;
và làm như thế
chính là phục vụ nhân loại.
Lịch sử ghi ơn
nhiều giáo dân công giáo đã góp phần to lớn
trong lãnh vực này, như một Louis Pasteur chẳng
hạn. Nhân viên y tế công giáo như bác sĩ, y tá, không chỉ chữa trị bệnh tật, mà còn, và nhất là, săn sóc bệnh nhân, tỏ lòng kính trọng nhân phẩm của họ bởi nhìn thấy Ðức Kitô ở trong họ. Như thế có nghĩa đối tượng lưu tâm không chỉ là thể xác, mà còn hơn nữa, là linh hồn với hết mọi chiều kích thể chất và thiêng liêng, tự nhiên, sinh lý, tâm lý và siêu nhiên, cá nhân và xã hội. [16]
Giáo
Dục Bởi chủ
đề đã được bàn đến trong chương trên, nên
ở đây chỉ xin nêu bật một vài điểm.
[17]
Khắp nơi trong
thế giới, Giáo Hội đã và đang “đầu tư”
nhiều vào công tác phục vụ này. Trong giáo
triều có Bộ Giáo dục Công giáo; sự kiện này
cho thấy là Giáo Hội ý thức rõ về tầm trọng
yếu của thừa tác vụ giáo dục. Chỉ duy trong
thế kỷ 20, đã có 574 đại học công giáo
được thành lập, và như thế trong năm 1990, có
1040 cơ chế giáo dục công giáo bậc đại học
hoặc cao đẳng (369 tại Châu Á), không kể số
trường học các cấp khác.
[18]
Ða số giáo
viên là
giáo
dân. Thường xuyên
động viên giáo hữu làm các “công tác từ
thiện” – được nêu rõ, trong số đó có
việc “Mở dạy kẻ mê muội” – Giáo Hội coi
việc giáo dục là ơn gọi và là sứ mệnh đích
thực kitô. Các giáo viên và các nhà nghiên
cứu chuẩn bị một tương lai, một xã hội tốt
đẹp hơn cho các thế hệ đàn em; tất cả đều
phục vụ nhân loại theo khả năng của mình. Nếu
nhìn tác vụ giáo dục trong ánh sáng ba chức
năng trong sứ mệnh của Ðức Kitô (Tư tế, Tiên
tri vàVương giả), thì giáo viên công giáo sẽ
thấy rõ là mình đang thi hành nhiệm vụ của
Ðức Kitô đối với thế gian; đó là ý nghĩa
cao cả của cuộc đời giáo nghiệp kitô.
linh
đẠo giáo dân: vỪa kitô giáo vỪa thẾ trẦn Linh đạo là
linh hồn của cuộc đời, là nguồn trào dâng ý nghĩa
và sức lực cho hoạt động. Linh đạo kitô giáo (cho
mọi kitô hữu, giáo dân cũng như giáo sĩ) cốt tại
ở tinh thần làm môn đệ Ðức Giêsu trong Giáo Hội.
[19]
Tại Châu Á, nên
đặc biệt chú ý đến hoạt động của Thần
Khí ở trong lịch sử, nhất là giữa cộng đồng
kitô. Linh đạo này được nuôi dưỡng nơi Bàn
Bánh (các bí tích, nhất là Thánh Lễ) và Bàn
Lời (Kinh Thánh), bởi truyền thống của Giáo
Hội và cả kinh nghiệm thường ngày. Linh đạo
kitô giáo là bước khởi đầu và là nền
tảng của hết mọi thể dạng linh đạo trong Giáo
Hội. Nghề nghiệp là yếu tố chính trong linh đạo
kitô giáo. “Nói về
‘linh đạo đặc thù giáo dân’ là nói về
sự việc giáo dân được mời gọi sống ơn
gọi làm môn đệ Ðức Kitô và chia sẻ sứ
mệnh của Ngài theo tư thế là giáo dân trong
Giáo Hội. Ở đây, cần phải nêu bật tính chất
trần thế trong ơn gọi và sứ mệnh của giáo
dân.” (FABC 4, 4.8.8.). “Trần thế tính” là gì?
Là sống
thân phận làm người
như bao nhiêu người khác trong thiên hạ, không
tách rời ra khỏi thế gian; và như thế là khác
với “tu hành tính.”
Christifideles laici giải thích rằng: “Giáo dân được
kêu gọi nên thánh, tức là sống đời sống
theo Thần Khí, một đời sống được hiện thực
hóa cách đặc thù qua việc dấn thân vào giữa
thế sự và tham dự vào trong sinh hoạt thế tục”
(số 17).
Thông thường, hễ
nói đến
chuyện giáo dân
cần phải có đường hướng sống đạo tích
cực là người ta nghĩ ngay đến việc đề nghị
với giáo dân mẫu linh đạo của các tu sĩ hay
đan sĩ.
Không,
sinh
hoạt
trong
những môi trường
và hoàn cảnh khác hẳn, giáo dân có cách
thức sống đạo đặc thù của mình, tức là có
một dạng linh đạo riêng.
[20]
Linh đạo giáo
dân coi sự việc sống thân phận trần thế là
ân huệ của Chúa, là điều tốt lành dùø còn
cần phải làm cho nên tốt hơn. Vì thế, người
kitô coi trọng các giá trị trần thế, ý thức
đó là một khía cạnh của tình yêu đối với
thế gian: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi
đã ban Con Một...” (Ga 3:16). Thế gian này là thế
gian đã được cứu chuộc. Ðó là cách nhìn
thế sự thực sự tích cực, thực sự trọn
vẹn, thực sự kitô. Linh đạo
vừa nói có hai chiều kích: chiêm niệm và hoạt
động; tu sĩ (nhất là đan sĩ) thường nhấn mạnh
việc chiêm niệm; về phần giáo dân thì nên
dành ưu tiên cho hoạt động; cả hai
phối hợp với nhau
để đưa cuộc sống đến chỗ “chiêm niệm trong
hoạt động.” Khi đã quen nhìn mọi sự với con
mắt đức tin thì người kitô sẽ biết tìm thấy
Thiên Chúa trong mọi sự; và như thế, làm việc
trở thành cầu nguyện. Giáo dân để Ðức Kitô
mượn bàn tay và trí tuệ của mình mà thực thi
sứ mệnh của Ngài ở giữa thế gian. Thật ra,
linh đạo là không gì khác ngoài việc làm cho
triển nở trọn vẹn ơn nhận được từ phép
Thánh Tẩy: nếu nhờ bí tích, người kitô đã
trở nên chi thể của Ðức Giêsu, thì chi thể
phải để Ðầu hướng dẫn trong
việc thực thi sứ mệnh của
‘thân mình toàn
vẹn’ ở giữa dòng lịch sử. Bấy giờ, cuộc
sống thường nhật với công ăn việc làm giữa
đời là phương tiện để thực thi ơn gọi nên
thánh. Thánh thiện cốt tại ở chỗ làm những
điều thông thường với tình yêu Chúa phi
thường. Không phải
duy chỉ gia đình mới là “Giáo Hội tại gia” –
theo thành ngữ Vaticanô II dùng – mà cả văn
phòng, nơi làm việc, xưởng máy, công trường,
nhà trường v.v., đều là “đền thờ” nơi Thiên
Chúa gặp gỡ với con người và con người
dâng lễ tế lên Thiên Chúa: cả cuộc đời là
lễ tế như thánh Phaolô lưu ý:
“Tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình
làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp
lòng Chúa; đó là cách thức xứng hợp để
anh em thờ phượng Người”
(Rm 12:1). Ðối với
Kitô giáo, nói cho cùng, chẳng có nơi nào thánh
hơn nơi nào – không phải Giêrusalem hay Rôma,
hoặc là một thánh đường hay một đan viện nào
đó – bởi ở đâu cũng phải “thờ phượng
Chúa Cha trong Thần Khí và sự thật” (Ga 4:23), vì
“chính ở nơi Người mà chúng ta sống, cử
động và hiện hữu” (Cv
17:28). Ðó là một
trong những nhân tố chủ yếu trong linh đạo giáo
dân.
[21]
Nếu có
một công tác phục vụ nào lớn lao nhất người
kitô có thể thực hiện cho thế giới thì đó
chính là sống thánh. Xã hội đang cần đến
những mẫu gương thánh thiện mới, nhất là từ
các kitô hữu sống giữa trần thế; giáo dân
đặc biệt có bổn phận và khả năng để ứng
đáp.
[22]
Vaticanô II đã
kêu gọi mọi người nên thánh (x. GH chương V),
nghĩa là sống trọn lòng tin cậy mến theo gương
Ðức Giêsu. “Trong và nhờ những trạng huống,
chức vụ hay hoàn cảnh của cuộc sống, tất cả
các kitô hữu sẽ nên ngày càng thánh thiện
hơn, nếu họ biết tin tưởng đón nhận mọi sự
từ tay Cha trên Trời, và biết côïng tác với
thánh ý Thiên Chúa bằng cách tỏ rõ cho mọi
người thấy tình yêu Thiên Chúa đối với thế
gian qua chính việc họ phục vụ trần thế” (GH
41cuối). Tất cả những gì người kitô làm trong
Chúa, đều có khả năng thánh hóa cả môi
trường lẫn chính bản thân mình. Thánh thiện
cốt tại ở chỗ say mê và
theo
gương Ðức Kitô mà chu toàn nhiệm vụ đối
với Thiên Chúa, tha nhân, và thế giới; nếu
thế thì giáo dân có kém gì giáo sĩ đâu.
Làm môn
đệ Ðức Giêsu không cần thiết phải bỏ nhà
mà đi theo Ngài trên bước đường ‘rảo quanh’
như Simon Phêrô... Ngài cũng có những ‘môn
đồ tại gia’ như Ladarô, Máctha và Maria,
Nicôđêmô và Giuse Arimathia, v.v. Các môn đệ
này vẫn tiếp tục sống đời nghề nghiệp như
trước khi biết Ngài. Nhưng họ cảm mến Ngài, tin
vào Ngài, nghe lời Ngài, và sẵn sàng góp phần
để cùng thi hành sứ mệnh với Ngài. Môn đệ
thì theo thầy: nghe
lời Thầy để lại
trong Kinh Thánh là yếu tố quan trọng trong linh
đạo kitô; sinh hoạt trong cộng đồng môn đệ
(Giáo Hội) làm cho mình thấm nhuần tinh thần của
Thầy; gặp Thầy ‘diện đối diện’ (cầu nguyện)
đưa đến chỗ Thầy trò hiểu nhau; như vậy, môn
đệ có được nhân sinh quan và vũ trụ quan của
Thầy làm chỉ nam cho đời mình. Gia đình là
môi trường sống thông thường nhất của giáo
dân và, vì
thế, linh đạo giáo dân phải mang đậm tính chất
gia đình.
[23]
Sống
Phúc Âm trong gia đình và với gia đình là cách
thể lý tưởng cho việc sống đạo của giáo dân
và, vì gia đình là tế bào căn
bản của xã hội, giáo
dân có đủ tư cách để góp phần quyết định
cho việc xây dựng một nền văn minh tình thương.
Truyền thống của quê hương xứ sở sống động
trong gia
đình phối hòa với
tinh thần kitô để nắn đúc nên những chứng
tá kiên cường về mọi mặt, và thế là kitô
hữu lớn lên thành con người trọn vẹn, vừa
cá vị vừa tập thể, vừa là người bản xứ
(Việt Nam chẳng hạn)
vừa
là người Công Giáo. Ngày nay, linh đạo cần
phải biết đối thoại với các nền văn hóa,
với các tôn giáo, với mọi người thiện chí;
tinh thần đối thoại mọc lên từ trong gia đình,
khi các thế hệ biết đối thoại với nhau: ông
bà, cha mẹ, con cái, anh chị em... Ðể
giáo dân sống
linh đạo riêng của
mình,
Giáo Hội muốn
giáo sĩ giúp đào tạo họ, hoặc trong những trung
tâm đặc biệt hoặc trong các phong trào tông
đồ, cho đến khi họ có thể tự túc. Trong lãnh
vực này, giáo dân và giáo sĩ cần tương trợ
lẫn nhau và bổ túc cho nhau.
[1]
G. Thils,Théologie
des réalités terrestres, Paris 1946.
[2]
Xin xem M.-D.
Chenu, “I laici e la consecratio mundi” in G. Barauna
(ed.), La Chiesa del Vaticano II, tr. 992; M.-D. Chenu,
Pour une théologie du travail, Paris 1955; A.
Fernández, “Misión específica de los laicos.
Consecratio o sanctificatio mundi?,” in
Theologica 10 (1975) tt. 402-403; Reinholdo Aloysio Ullmann (Ed.), Consecratio
mundi (Tạp văn kỷ niệm Urbano Zilles), Porto
Alegre 1998, 572 trang.
[3]
Xin xem Рatrick
de Laubier, Pour une
civilisation de l'amour.
Le
message social chrétien.
Paris, Fayard,1990.
[4]
FABC Paper 46h, “The
Laity in Politics and Public Service” (1986).
[5]
Xin xem David
Aberbach, Charisma in Politics, Religion and the Media: Private Trauma, Public
Ideals, New York University Press 1996.
[6]
FABC
7 A: (Samphran,
Thailand, 3-12 tháng Giêng 2000).
[7]
Dù vẫn có
thể được gợi hứng do Kinh Thánh; xin xem
chẳng hạn Stephen
C. Perks, The Political
Economy of a Christian Society, Kuyper Foundation,
Taunton, England (2001); FABC Paper 46l, “The laity in the
World of Business” (1986).
[8]
Xin xem
Marie-Dominique Chenu, O.P., La “doctrine sociale” de
l'église comme idéologie,
Paris: Cef 1979; Amalorpavadass,
D. Simon, ed., Indian Church in the Struggle for a New
Society. Bangalore, India: National Biblical, Catechetical
and Liturgical Centre, 1981; Carrier, Hervé, S.J. The
Social Doctrine of the Church Revisited, Vatican City:
Pontifical Council for Justice and Peace, 1990; Coleman, John
A. and Gregory Baum, eds., Rerum Novarum: One Hundred Years
of Catholic Social Teaching, Philadelphia: Trinity, 1991.
[9]
Pax Romana
MIIC/ICMICA, C.P. 315,
15 Rue du Grand-Bureau. Geneva 24, CH-1211, Switzerland. Tel.:
(41-22) 823-0707. Fax: (41-22)-823-0708. Website: www.paxRomana.org.
Email: miicmica@paxRomana.int.ch.
[10]
Có thể tìm
hiểu về các vấn đề này qua tạp chí
Journal
of Mass Media Ethics (ISSN 0890-0523) published quarterly by Lawrence Erlbaum
Associates, Inc., 10 Industrial Avenue, Mahwah, NJ 07430-2262.
[11]
Xin xem chẳng
hạn các tạp chí trên đây, và Claude-Jean
Bertrand,
Media
Ethics & Accountability Systems, Transaction
Publishers 1999; Matthew Kieran,
Media
Ethics: A Philosophical Approach,
Greenwood Publishing Group, 1997.
[12]
Aetatis
Novae, n. 2, do Ủy
ban Giáo hoàng về Truyền Thông Xã hội,
17-3-1992.
[13]
Về một số
sáng kiến liên quan đến vấn đề (theo kinh
nghiệm ở Mỹ), xin xem Tom
Beaudoin, Harvey
Cox,
Virtual
Faith, The Irreverent Spiritual Quest of Generation X, Wiley,
John & Sons, 1998; Peter Malone, MSC, with Rose Pacatte,
FSP, Lights, Camera, Faith! A Movie Lover's Guide to Scripture, Pauline
Books & Media 2001.
[14]
Xin xem tông thư
Salvifici doloris
của Ðức Gioan Phaolô II, 11-2-1984, và thông
điệp Evangelium
vitae, 25-3.1995.
[15]
Chẳng hạn Phong
trào Quốc tế các Bác sĩ và Y tá Công giáo
(CICIAMS), cf. http://www.ciciams.org
[16]
FABC Paper 46f, “The
Asian laity in the World of Health Services” (1986).
[17]
Về lập
trường của Tòa thánh, xin xem văn kiện của
Bộ Giáo dục Công giáo, The Catholic School on the Threshold
of the Third Millennium,
28th
December 1997.
[18]
The Sacred Congregation For Catholic Education,
Lay Catholics in Schools: Witnesses to Faith,
15.10.1982.
[19]
Về vấn đề
này, tác phẩm cơ bản vẫn là Francis de Sales,
(Preface by Edward Cardinal Egan),
Introduction to the Devout Life, Vintage Books, 2002;
xin cũng xem José De Mesa, Lay spirituality,
Manila: Wellspring Books, 1987; Virginia Sullivan Finn, Pilgrims
in this world: a lay spirituality, New York: Paulist
Press, 1990; Douglas J. Morin,
No Less Zeal: A Spiritual Guide for Catholic Lay People, Alba House
1993.
[20]
Xin xem chẳng
hạn William J. Byron, Vincent T. O'Keefe,
Jesuit
Saturdays: Sharing the Ignatian Spirit With Lay Colleagues and
Friends, Loyola Press 2000; Wayne Teasdale,
A
Monk in the World: Finding the Sacred in Daily Life, New
World Library 2002.
[21]
FABC Papers 46b,
“Lay Spirituality” (1986).
[22]
Ann W. Astell
(ed.), Lay Sanctity, Medieval and Modern, A Search for Models, University
of Notre Dame, 2000.
[23]
Amalorpavadass,
D.S., Theology and spirituality of the family, Madras, 1983; Wendry M
Wright, Sacred dwelling:
a spirituality of family life, New York: Crossroad, 1989.
|