|

KINH TIN KÍNH

DƯỚI THỜI PHONGXIÔ
PHILATÔ
|
Chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô,
chịu đóng đinh trên cây Thánh Giá,
chết và táng xác, xuống ngục tổ tông.
|
Vì chúng tôi Người chịu đóng đinh vào thập giá dưới thời
Phongxiô Philatô, Người chịu khổ hình và mai táng.
|
Tín biểu các
tông đồ tóm tắt lịch sử Đức Kitô bằng hai chữ: sinh ra và chết
đi. Phần cuối đời được giải rộng bằng năm động từ: chịu nạn,
đóng đinh, chết, táng xác và xuống ngục. Tương tự như bốn cuốn
Phúc âm, đoạn kết cuộc đời là chết, được diễn tả rất tỉ mỉ, đến
nỗi nhiều học giả cho Phúc âm là chuyện viết cuộc thương khó với
phần mào đầu rất dài và đoạn kết ngắn cụt. Biến cố thập giá đã
được ghi sâu vào trí óc của Giáo hội sơ khai, bởi đó là vụ bất
công tày trời, gây khổ đau quá đáng thì làm sao mà quên cho
được, và bởi đó là con đường dẫn đến chiến thắng phục sinh. Quả
vậy, thập giá đã trở thành biểu tượng của Kitô giáo.
Phongxiô Philatô
Đọc Kinh Tin
Kính, nhiều tín hữu sẽ thắc mắc về tên Phongxiô Philatô... Trong
công thức ngắn này chỉ có ba tên: Đức Giêsu, Đức Maria và
Phongxiô Philatô! Ông Philatô là ai và tại sao lại có mặt ở đây?
Pontius Pilatus là giám quản (Praefectus) xứ
Giuđêa từ năm 26 đến năm 36, dưới triều hoàng đế Rôma là
Tiberius (năm 14-37). Trong phẩm trật Rôma, Philatô nằm ở bậc
thứ 5, có bề trên trực tiếp là thống đốc xứ Xyria; ông có nhiệm
vụ bảo đảm an ninh trong xứ sôi nổi này, gồm miền Giuđêa,
Samaria và Iđumêa. Nhiệm kỳ của giám quản là 3 năm, nhưng
Philatô tại chức được 10 năm; như thế có nghĩa là ông đã làm cho
chính phủ trung ương hài lòng. Hành dinh của ông ở Xêdarêa, và
chỉ có mặt ở Giêrusalem dịp các lễ lớn để nếu cần thì xử lý
những vụ rối loạn có thể xảy ra với số người đông đảo về dự lễ.
Quân đội của ông đếm được khoảng 4.500 lính, không phải là
legio Rôma (chính quy), song là những đơn vị quân đội địa
phương.
Lịch sử thường
nói xấu về Philatô, tố cáo cho ông là người ác độc và áp bức. Có
lẽ ông là nhà chính trị khéo, biết cách kết cấu với phái
Sađuxêô, nhất là với Caipha. Để xung đột xảy ra với dân Do thái
vì lý do cả xã hội lẫn tôn giáo, ông bị thống đốc Vitelius tước
chức và tống về Rôma đầu năm 37; ông đến thủ đô ba ngày sau khi
Tiberius băng hà, rồi Caligula lên kế vị; từ đó, lịch sử không
còn biết gì về Philatô nữa. Có nhiều ngụy thư viết về ông, nhưng
chẳng có giá trị gì về mặt khoa học. Lạ thay, Giáo hội Êthiốp
coi Philatô là vị tử đạo và mừng lễ ngày 25 tháng 7; còn Chính
thống giáo thì đã phong thánh cho vợ ông là Procula.
Vậy, ông
Philatô đóng vai trò gì trong Kinh Tin Kính? Một vai trò thật
quan trọng: làm chứng cho sự thật lịch sử về Đức Giêsu. Sự việc
cứu chuộc là biến cố đã xảy ra vào một ngày, một tháng và tại
một nơi chốn cụ thể mà bất cứ ai cũng có thể kiểm tra. Bóng ma
Philatô đánh đuổi mọi giả thuyết có tính ảo thân, ngộ giáo, hay
phi lịch sử. Vì thế, thánh Inhã Antiôkia († 107) đã viết như sau
cho các tín hữu Tralles: Phải tin là “Đức Giêsu-Kitô, thuộc dòng
dõi Đavít và con của bà Maria, đã thực sự sinh ra, ăn uống; thật
sự bị bách hại thời quan Phongxiô Philatô; thật sự bị đóng đinh
và chết trước mắt thiên hạ cả ở trên trời, dưới đất và trong địa
ngục; quả vậy, Ngài bị đóng đinh vào thập tự dưới thời quan
Philatô và tiểu vương Hêrôđê, và thành quả của cuộc thương khó
diễm phúc ấy là chúng ta.” Và thánh Âugutinô giải thích: nêu tên
quan thẩm phán là Kinh Tin Kính muốn cho mọi người biết được
chắc chắn về ngày tháng...
Philatô còn giữ
một vai trò khác nữa: làm nổi bật mẫu gương Đức Giêsu, mẫu gương
“chứng nhân trung thực” (Kh 1:5). Nhà chú giải tin lành O.
Cullmann thấy rằng: ở đây, “Phongxiô Philatô” là như “lời hô
hào” khuyến khích các kitô hữu bị đàn áp, bách hại hãy đứng vững
như Thầy mình. Thánh Phaolô đã từng viết cho Timôthê về “chứng
tá trung thực” ấy: “Trước mặt Thiên Chúa là Đấng ban sức sống
cho mọi loài, và trước mặt Đức Kitô Giêsu là Đấng đã làm chứng
trước tòa tổng trấn Phongxiô Philatô bằng một lời tuyên xưng cao
đẹp, tôi truyền cho anh: hãy tuân giữ điều răn của Chúa mà sống
cho tinh tuyền...” (1Tm 6:13). Philatô là đại diện của các nhà
cầm quyền chính trị thường hiếp đáp và giết chết sự thật (tôn
giáo cũng như nhân quyền) nhân danh lý do an ninh quốc gia...
Chịu
Đóng Đinh
Trên Cây
Thánh Giá
Trong cuộc đời
Đức Giêsu không có gì chắc chắn hơn sự kiện này. Ngài bị kết án
do hai tòa tôn giáo và dân sự rồi bị hành quyết theo thủ tục
Rôma.
Nguồn liệu
chính về biến cố ấy là bốn Phúc âm với bốn trình thuật về cuộc
tử nạn và sống lại của Đức Kitô. Các phần khác trong Tân Ước
không cho biết thêm gì mới, nhưng chỉ củng cố những điều Phúc âm
ghi lại. Ngoài Kitô giáo, có một ít tài liệu Do thái và lịch sử
Rôma ám chỉ đến cuộc Đức Giêsu chịu tử hình thập giá. Trong thời
ấy, án phạt tử hình như thế là điều hổ thẹn không chỉ cho tội
nhân mà còn cho bất cứ ai có liên hệ với tội nhân; dù vậy, không
bao giờ Kitô giáo phủ nhận sự kiện, vì thực sự, mọi việc đã xảy
ra như thế. Không chỉ có bằng chứng của bốn Phúc âm và toàn bộ
Tân Ước không thôi, mà còn có tài liệu làm bằng của sử gia Rôma
là Tacitus, còn có quyển Talmud của Do thái ám chỉ đến sự
kiện. Một điều chắc chắn thứ hai là Ngài đã bị kết án do hai tòa
Do thái và Rôma, dù là vì những lý do khác nhau. Tân Ước có
khuynh hướng cho rằng trong vụ xử án này, nặng nhất là trách
nhiệm của các lãnh tụ Do thái, và biện giải cho nhà cầm quyền
Rôma. Gioan ghi lời của Đức Giêsu nói với Philatô: “Kẻ nộp tôi
cho ngài thì mắc tội nặng hơn” (Ga 19:11; x. Lc 22:4-5; Cv 3:13;
Mc 15:10; Mt 27: 18). Hiện nay, có một số học giả muốn tha bổng
cho phía Do thái và đổ hết tội vạ lên đầu Philatô. Đã đành,
Phongxiô Philatô là người nhát hèn, không dám sống sự thật và để
cho người vô tội bị giết chết; tuy nhiên, tòa Công nghị Do thái
(Sanhedrin) không phải là không có trách nhiệm đối với vụ
án tử của Đức Giêsu. Còn về ngày tháng, lịch sử thường nhận là
ngày thứ sáu, mồng 7 tháng 4 năm 30; một số ít sử gia khác thì
cho là thứ sáu, mồng 3 tháng 4 năm 33. Theo Gioan, trong lịch Do
thái thời bấy giờ đó là “ngày áp lễ” Vượt qua, tức ngày 14 tháng
Nisân (x. Ga 19:31), nhưng theo Tin mừng Nhất lãm thì ngày đó là
ngày 15 Nisân, tức chính ngày lễ Vượt qua (x. Mc 14:12-17tt).
Hai ý kiến đều có thể đúng, lịch sử không biết chắc chắn.
Một dữ liệu thứ
ba cần nghiên cứu, đó là lý do tại sao Đức Giêsu bị kết án. Khi
suy luận về sự việc Đức Giêsu bị án chết, các học giả thường rút
kết luận tùy theo thành kiến hay quan điểm riêng của họ. Thời
xưa, có khuynh hướng đổ tội cho Do thái; còn ngày nay thì đổ tội
cho Rôma. Cả hai đều sai lầm nếu không chịu chấp nhận điều hiển
nhiên này: chính vì cuộc sống của Ngài mà Đức Giêsu đã bị giết
chết. Theo Phúc âm thì nhiều vụ xung đột đã xảy ra giữa Đức
Giêsu với các nhóm nắm quyền hành trong xã hội Do thái thời đó;
nhiều hoạt động của Đức Giêsu đã khiến giới cầm quyền đâm ra
nghi kỵ, thậm chí còn ghét Ngài; và cũng đã có những lần họ tố
cáo Ngài phạm thượng hoặc xúc phạm đến Đền thờ, v.v. Nếu có một
“phong trào Giêsu” coi như đã xuất hiện qua việc hàng loạt những
đám đông lớn hào hứng theo Ngài, thì cũng có thể có sự việc công
an của Hêrôđê và Philatô để tâm theo dõi. Thoạt đầu, có thể nghĩ
rằng những động cơ thúc đẩy quyền bính Do thái và Rôma thì khác
nhau; và cả hai đều có cớ để mà tống khứ Đức Giêsu. Theo Tin
mừng, Philatô kết án Đức Giêsu vì cho rằng Ngài có tội tự xưng
là vua dân Do thái; còn Công nghị Do thái thì kết tội vì cho là
Ngài nói phạm thượng. Trong cả hai trường hợp, án lệnh đưa ra
như thế không phải là do ngẫu nhiên hoặc do nhầm lẫn đáng tiếc:
đó là hậu quả coi như đương nhiên của những gì Đức Giêsu đã nói
và đã làm mà người ta không chịu mở lòng để hiểu.
a) Về phương
diện chính trị, có bằng chứng gì chống lại Đức Giêsu
không? Quyền bính Rôma đã tỏ ra bối rối. Philatô đã truyền lệnh
ghi tội vạ như sau trên đỉnh thập tự: “Giêsu Nadarét vua dân Do
thái.” Chi tiết này là hoàn toàn chắc chắn về phương diện lịch
sử. Có kẻ cho rằng Đức Giêsu là một nhà cách mạng, đứng đầu một
nhóm du kích “nhiệt tâm” (zelót). Hẳn là không phải thế;
tuy nhiên, hoạt động của Ngài đã có thể xem ra như vậy dưới con
mắt đa nghi của công an Rôma. Họ quen quét sạch những nhóm như
vậy. Mặt khác, trong xã hội Do thái, tôn giáo và chính trị chỉ
là một; vì vậy, hành vi “tôn giáo” của Thầy Giêsu chắc hẳn bị
coi là một cuộc vận động “chính trị.” Không ai nghi ngờ về sự
việc Đức Giêsu là người ái quốc, hằng để tâm lo lắng cho số phận
của đồng bào mình. Muốn đổi mới tình trạng xã hội của dân tộc,
tất phải phê bình những ai có trách nhiệm; và đồng thời phải đề
xuất những biện pháp cải thiện (biện pháp có thể là chính trị
hay tôn giáo, nhưng đối với người Do thái thì cả hai chỉ là một;
không thể nào họ phân biệt được giữa hai phạm vi). Theo Phúc âm,
trước tòa Rôma – vì lý do hiển nhiên – các lãnh tụ Do thái chỉ
tố cáo Đức Giêsu về những tội chính trị. Mc 15:2 thuật là Ngài
bị tố cáo về “nhiều tội,” nhưng trọng nhất là tội “tự xưng là
vua dân Do thái.” Theo Ga 19:12-16 lời buộc tội này khiến
Philatô phải nhượng bộ. Lc 23:2 còn ghi thêm một vài tội chống
đế quốc: “sách động dân chúng và ngăn cản nộp thuế.” Đức Giêsu
đã từng bị liên lụy vào một chuyện thuế má (x. Mc 12:13-17tt);
nhưng Ngài đã chẳng làm gì có thể gọi là phạm pháp. Sự kiện Đức
Giêsu bị treo giữa “hai tên cướp” (x. Mc 15:27) – cách gọi những
quân du kích – cũng ám chỉ đến lý do “an ninh quốc gia” của vụ
án. So sánh Thầy Giêsu với tên Barabba, kẻ phiến loạn đã từng
gây nhiều vụ nổi dậy (x. Mc 15:6tt), là Philatô đặt cả hai tội
phạm trên cùng một bình diện. Dù sao, trong cuộc đấu tranh giành
quyền lực giữa Philatô và các thượng tế, Đức Giêsu đã bị lợi
dụng để làm cái cớ, với kết quả là Ngài trở thành nạn nhân của
hai phía đối địch thù ghét nhau.
b) Trách nhiệm
của Công nghị Do thái cũng thật là lớn. Có kẻ tưởng rằng tòa
này là tòa án tôn giáo, tương tự như tòa án của Giáo hội; nghĩ
thế là lầm lớn. Đế quốc Rôma chủ trương để cho các giới cầm
quyền địa phương (của các dân tộc) có được tối đa quyền tự trị;
ở Giêrusalem, Công nghị Do thái có quyền rất rộng về mặt tôn
giáo/tư pháp. Tân Ước gán tội trước hết cho tòa này, và nhấn
mạnh nhiều tới điểm này, có lẽ là vì các tác giả đã biên soạn
trong thời quyền bính Do thái đang gây nhiều khó dễ cho Giáo hội
(x. 1Tx 1:14-16). Sau này, suốt bao thế kỷ nhiều kitô hữu đã tố
cáo dân Do thái nói chung vì tội “sát thần,” với kết quả là đã
dấy lên thái độ bài Do thái gây nhiều khổ đau cho dân tộc này
(x. NA 4). Sau thế chiến thứ hai, vì tội ác của chế độ xã hội
chủ nghĩa quốc gia chống người Do thái, nhiều học giả Tây phương
đã làm như bị dày vò bởi một thứ mặc cảm tội lỗi và muốn bào
chữa cho quyền lợi của Do thái. Tuy nhiên, bằng chứng Tân Ước
nêu ra thật quá rõ, cho thấy là Đức Giêsu cũng đã bị kết án vì
cả lý do tôn giáo nữa.
Thái độ của Đức
Giêsu đối với Luật, đối với ngày Sabát, đối với “các tội nhân,”
v.v. đã khơi dậy nhiều cuộc tranh luận với giới biệt phái và
thông luật. Những lần trừ quỷ được họ giải thích như là ma thuật
hoặc tệ hơn nữa, như là những hành động của tay sai quỷ vương
Bêendêbun (x. Mc 3:22tt). Khi Đức Giêsu tha tội (x. Mc 2: 7tt)
hoặc cố giãi bày quan hệ của mình với Thiên Chúa (x. Ga 10: 36),
Ngài bị tố cáo là phạm thượng. Mà hình phạt dành cho tội phạm
thượng là tử hình. Ngoài ra, tòa Công nghị Do thái cũng phụ
trách cả vấn đề an ninh dân sự; thế thì chẳng có gì là lạ: một
khi đã chứng kiến thái độ, lời dạy và hành động của Thầy Giêsu,
thì làm sao họ lại không cho là Ngài nuôi ý đồ chính trị, và vì
thế, đối với họ, Ngài quả là một mối nguy cho toàn dân. Nhận xét
Caipha long trọng đưa ra (x. Ga 11:47tt) đã được coi là chí lý,
và lập tức trở thành lý do tinh vi biện minh cho án quyết giết
Đức Giêsu: chỉ vì “đại sự” quốc gia...
Hiện giờ, có
người đặt vấn đề về phiên tòa nói trên của Công nghị Do thái.
Bốn Phúc âm đều trình thuật về sự việc Đức Giêsu bị điệu ra
trước tòa án của Thượng hội đồng Do thái (x. Mc 14:53tt; Ga
18:13tt). Quyết định giết Đức Giêsu là do thượng tế Caipha thuộc
phái Xađuxê, đưa ra (x. Ga 11:50). Đội lính đến bắt Đức Giêsu ở
Ghếtsêmani là thuộc quyền chỉ huy Do thái (x. Mc 14:43tt). Tại
tòa, Đức Giêsu bị kết án phạm thượng và vì thế đáng phải chết
(x. Mc 14:64tt). Tại sao lại phạm thượng? Vì dù chỉ là người
phàm mà Đức Giêsu lại tự đặt mình ngang với thần thiêng: “Các
ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng”; đó là điều
loài người không được phép. Đã kết án rồi, họ có thể giết Ngài
không? Họ cho là không (x. Ga 18:31; vì các chứng gian không ăn
khớp với nhau?), nhưng sau này chính họ lại kết án rồi xử tử
Stêphanô (x. Cv 7:58) và Giacôbê (x. Cv 12:2). Trong trường hợp
Đức Giêsu, có lẽ họ muốn đóng đinh Ngài trên thập giá để tận
diệt trọn bộ phong trào từ trong trứng nước; nhưng quyền đóng
đinh lại nằm trong tay một mình Philatô; vì thế, họ nộp Ngài cho
tòa dân ngoại. Các tông đồ sẽ nhắc lại cho dân Do thái rõ là họ
đã nộp Đấng Công chính cho quan Philatô (x. Cv 2:23; 3:13;
13:28). Rốt cuộc, trong việc này, vai trò của Thượng hội đồng là
vai trò quyết định chủ yếu.
Vì
Chúng Tôi
Tín biểu Nixê
nhắc lại “vì chúng tôi” để cho thấy tất cả những gì Đức Giêsu đã
làm trong suốt đời đều là “vì chúng tôi”, đặc biệt là cuộc tử
nạn. Ngài đã tự do chấp nhận khổ nạn và chết chóc vì tình yêu
đối với Cha Ngài và đối với nhân loại mà Cha Ngài muốn cứu vớt:
“Không ai lấy được mạng sống của Thầy, nhưng Thầy tự ý thí mạng
sống mình” (Ga 10:18).
Các môn đồ sửng
sốt, không hiểu được tại sao Thầy mình lại bị giết trên thập
giá. Đến hai thế hệ sau, các môn đồ vẫn còn vật lộn với cớ vấp
phạm ấy (x. 1Cr 1:23). Phúc âm Máccô làm như quan niệm cuộc khổ
nạn và tử nạn của Đức Giêsu là thí dụ điển hình và bi thảm nhất
của sự việc Thiên Chúa im hơi lặng tiếng; không một ai thấy ra
được ý nghĩa gì.
Truyền thống Do
thái tuyệt nhiên không nói gì đến một Đấng Thiên sai
(Messiah) bị dân từ chối, kết án và giết đi. Sau Phục sinh,
cộng đoàn môn đồ mới ý thức ra là thập giá phải có một ý nghĩa;
nhưng ý nghĩa đó là gì? Trước hết, họ coi thập giá như một cuộc
thử thách Đấng Thiên sai phải trải qua, và việc sống lại như
bằng chứng Ngài đã thắng cuộc. Đào sâu và tiến xa hơn, họ lồng
biến cố ấy vào trong “mầu nhiệm cứu độ,” tức muốn nói rằng: “Đức
Giêsu đã bị nộp, theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước”
(Cv 2:23; 4:28). Thành ra cuộc tử nạn không phải là vô lý, không
phải là dấu chứng của bất lực, trái lại, đó là “sức mạnh và khôn
ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1:24). Nói khác đi: là một phương
thức cứu độ. Dựa vào các tiền đề như thế, Luca kết luận rằng:
“Đức Kitô phải chịu khổ hình như thế rồi mới vào trong
vinh quang” (Lc 24: 26). Để đạt đến được lòng tin kiên vững này,
ắt họ đã phải cần đến ánh sáng đức tin và ơn trợ giúp của Thần
Khí: kết luận như thấy trên đây là bởi trên xuống, chứ không thể
là kết quả của nỗ lực suy tư tự nhiên. Các bản văn tường thuật
cuộc tử nạn đều có chứa đựng một dạng thần học giải thích về
biến cố. Máccô đặt nền tảng cho một học thuyết thần học về kế
hoạch cứu độ: Đức Giêsu biết trước số phận khổ đau ấy (x. Mc
14:8.18-21.27-31). Với thái độ chấp nhận hoàn toàn tự do (x. Mc
8:31; 14:42), Ngài đã chịu khổ như người công chính vô tội (x.
Mc l4:55). Thêm vào đó, các tác giả Máccô và Matthêu phát hiện
một tầm trọng yếu vũ trụ quan tiềm ẩn ở trong biến cố (x. Mc
15:33; Mt 26:52t); quả thế, đó là trận chiến giữa Thiên Chúa và
Satan (x. Mt 16:23; Lc 22:3.31.52; Ga 14:30). Chung cục, cuộc tử
nạn là giờ phút quyết định của lịch sử cứu độ, lúc mà các lời
tiên tri được ứng nghiệm (x. Tv 22; 41; 69; 87; Is 53; Dcr 13).
Bấy giờ mới
hiểu tại sao điên rồ của thập giá chính là khôn ngoan khôn ví
của Thiên Chúa (x. 1Cr 1:23tt); bởi lẽ sự kiện lịch sử ấy chính
là yếu tố cấu tạo nên mầu nhiệm Đức Kitô và kế hoạch cứu độ (x.
Pl 2:8). Hơn nữa, Con Thiên Chúa bị giết chết trên thập tự là
trường hợp điển hình và tiêu biểu nhất trong các “đường lối”
khôn lường của Thiên Chúa, của khôn ngoan sâu thẳm không ai dò
cho thấu (x. Rm 11:33). Kinh Thánh cho thấy phong cách hoạt động
của Thiên Chúa đối với loài người theo dạng nghịch lý, như
Phaolô đã cắt nghĩa cho tín hữu Côrinthô (1Cr 1:26tt). Thập giá
cho thấy Thiên Chúa dùng một vật ô uế nhất là xác chết (x. Lv
21:11), làm nguyên nhân thanh luyện loài người. Vật bị nguyền
rủa đối với Luật (“Khi một người có tội đáng phải án chết đã bị
xử tử và anh em đã treo nó lên cây thì xác nó không được để qua
đêm trên cây, nhưng phải chôn ngay hôm ấy, vì người bị treo là
đồ bị Thiên Chúa nguyền rủa...”: Đnl 21:22-23), thì Thiên Chúa
đã dùng để mà cứu lấy con người cho khỏi bị nguyền rủa (x. Gl
3:13). Lòng ghen tương thù hận đã giết chết Đức Kitô, thì Thiên
Chúa đã dùng để phá hủy sự thù ghét (x. Ep 2:14.16) và để mạc
khải tình thương vô biên của Người đối với thế gian (x. Ga
3:16), v.v.
Vậy, trong dạng
Kitô học cao của ngài, Gioan đã có thể kể cuộc tử nạn như là
hành trình vinh quang: từ lúc khởi sự (“Tôi là”: Ga 18:5) cho
đến giờ kết thúc (“Ngài trao Thần Khí”: Ga 19:30), Đức Kitô đã
bước lên nơi “nâng cao” (Ga 3:14.15; 8:26; 12:32). Trong khi
Máccô diễn tả kinh nghiệm của con người Giêsu, thì Gioan lý giải
về ý nghĩa và kết quả mang lại cho chúng ta. Thực vậy, đối với
Gioan, cuộc tử nạn là giờ trở về với Chúa Cha (x. Ga 13:1).
Trong Phúc âm thứ tư, ý niệm “giờ” giúp cho hiểu tấn bi kịch
thập giá. Văn chương khải huyền Do thái đã quan niệm “giờ” như
là lúc quyết định của lịch sử, khi Thiên Chúa can thiệp để diệt
trừ sự dữ trong lịch sử (x. Đn 11:35.40.45). Giờ ấy là giờ của
Đức Giêsu; và vì “giờ” là thành tố trong kế hoạch Thiên Chúa,
nên không gì và không ai có thể thay đổi “định mệnh” ấy được, dù
là Mẹ Maria cũng không (x. Ga 2:4), các kẻ thù cũng không (x. Ga
7:30; 8:20). Đó là giờ Con Người phải bị nộp trong tay kẻ tội
lỗi (x. Mt 26:45), và vì thế, là giờ ghê sợ đến nỗi Đức Giêsu đã
cảm thấy hãi hùng xao xuyến (x. Mc 14:33) và quay về với
Abba, Cha Ngài, xin cho được miễn, nhưng tùy ý Cha. Ngài
vâng lời và chấp nhận ý ấy (x. Mc 14:36; Ga 12:27; Pl 2:8) vì,
dù bên ngoài xem ra “là giờ của quyền lực tối tăm” (x. Lc
22:53), nhưng thật sự là giờ phát sinh nguồn suối ơn cứu độ, tựa
như khi sắp sinh con thì người đàn bà lo buồn vì đến giờ của
mình, nhưng sau khi sinh thì vui mừng bởi có được một sự sống
mới (x. Ga 16:21). Chết đi là điều kiện để hạt giống sự sống nẩy
sinh (x. Ga 12:24).
Dẫu không thể
quên phần đóng góp lớn lao của một số nhà tư tưởng (như Gioan và
Phaolô) cho nỗ lực suy tư nói trên; tuy nhiên, phải nói cho rõ
rằng môi trường đã làm nẩy sinh những ý niệm mới ấy là chính
“cộng đoàn Tạ ơn” sống trong hoàn cảnh bị đàn áp. Thật là điều
lạ lùng: có rất nhiều bài tụng ca về cuộc tử nạn của Đức Giêsu
đã được ghi lại trong các bức thư của Tân Ước, đặc biệt là Pl
2:6-11; 1Tm 3:16; 1Pr 1:19-21; 2:21-14; 3:18-22. Giáo hội cử
hành Thánh Lễ để “loan truyền Chúa đã chịu chết, cho tới ngày
Ngài lại đến” (1Cr 11:26). Như Phaolô đã cắt nghĩa, ai tham dự
vào bữa ăn Tạ ơn và ăn thịt cùng uống máu Chúa, là tham dự vào
cái chết của Ngài. Phụng vụ Tạ ơn là một cách diễn trình trở lại
vụ kiện qua đó thế gian phán xét Đức Kitô, và ngược lại, cũng
diễn trình vụ kiện qua đó Đức Kitô phán xét thế gian. Ai sống
như Đức Kitô thì kết án thế gian, ai sống theo thế gian thì kết
án Đức Kitô; ấy là kinh nghiệm kitô sơ khai (x. 1Cr 11:28-32; Dt
6:6).
Hơn nữa, trong
Phụng vụ Tạ ơn, Kinh Thánh được đọc lên và giải thích, như là
nguồn sự thật và ánh sáng mang lại ý nghĩa cho lịch sử. Theo
kiểu mẫu cử hành của nghi thức Do thái, hình như trong ngày áp
lễ vượt qua, cộng đồng kitô cũng đọc ký thuật về cuộc khổ nạn
của Đức Giêsu. Trong bối cảnh ấy – và nhất là khi họ đang sống
giữa cơn bách hại (x. Cv 4:3tt; 5:18; 6:12tt v.v.; 1Tx 2: 14tt;
1Pr 3:13-17, v.v.) – kỷ niệm được gợi lên sống động, làm cho họ
nghiệm thấy được sâu xa và thấm thía, thân phận của Đức Giêsu
cũng như ý nghĩa thâm thúy của biến cố ấy.
a) “Theo Kinh Thánh”
Công thức tuyên
tín cổ xưa nhất được ghi lại trong 1Cr 15:3-5, khẳng định rằng
các biến cố chết và sống lại của Đức Kitô đã xảy ra “đúng như
lời Kinh Thánh.” Như thế là muốn nói Đức Giêsu đã chết theo kế
hoạch Thiên Chúa, bởi vì ý định cứu độ của Thiên Chúa đã được
ghi chép trong Sách Thánh. Lúc đầu, chỉ nói chung là “Kinh
Thánh,” mà không trích dẫn xuất xứ (x. Lc 24:27). Để tìm cho
thấy được những lời cụ thể, các môn đồ đã phải vượt quá “văn tự”
để đạt tới “tinh thần” của văn bản. Và như thế, họ nhận ra là
các bạn hữu của Thiên Chúa, đặc biệt là các ngôn sứ, đều đã phải
chịu số phận bi đát (x. 1V 19:10; Nhm 9:26). Đức Giêsu đã nhận
chịu số phận đó. Ngài ý thức điểm này rất sớm (x. Mt 5:12) và
không tìm cách để tránh né (Mt 23:37tt). Lúc đầu, các môn đồ đã
không hiểu, họ sợ hãi (x Mc 10:32); nhưng hiện giờ, trong cơn
bách hại và đàn áp, họ đã ý thức được rằng sống cảnh ngộ ấy là
chia sẻ số phận của Thầy mình (x. Mt 10:25). Số phận của người
công chính thì đầy cay đắng, khó nhọc (x. Kn 2:10-12), mà có ai
công chính cho bằng Đức Giêsu: Ngài chẳng có tội (x. 2Cr 5:21).
Do ý định nhiệm mầu, chính Thiên Chúa “trao nộp” người công
chính cho kẻ ác (x. G 16:11; Ed 23:28). Có lẽ đó là ý nghĩa của
Mc 9:31 (parađíđotai, “bị trao nộp,” biểu đạt theo dạng
bị động, cho hiểu ngầm chủ từ chính là Thiên Chúa): bởi yêu
thương, Chúa Cha “đã chẳng tha Con Một, nhưng đã trao nộp vì
chúng ta” (Rm 8:32). Bao nhiêu điều ăn khớp với nhau như thế đã
làm cho Giáo hội sơ khai suy nghĩ. Đức Giêsu đã được công nhận
là Đấng công chính, “Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Mc 1:24), và
sau Phục sinh các tông đồ đã nhắc lại dữ kiện này cho dân chúng
(x. Cv 3:14). Mà Đấng công chính ấy lại sống trong một xã hội mà
Tt 3:3 miêu tả như là “ngu xuẩn, không vâng lời, lầm lạc, làm nô
lệ cho đủ thứ đam mê và khoái lạc, sống trong gian ác và ganh
tị, đáng ghét và ghen ghét lẫn nhau,” thì làm sao lại không bị
trở thành nạn nhân của thế giới ấy, vì sự hiện diện của Ngài là
một lời kết án đập mạnh vào lương tri (x. Kn 2:10-20). Lĩnh hội
rõ sự kiện này, Gioan đã ví Đức Giêsu như là bia của lòng căm
ghét (x. Ga 7,7; 15:18.24-5), như ánh sáng bị kẻ gian ác không
ưa thích (x. Ga 3:20). Kinh Thánh đã ghi lại nhiều tỷ dụ, như
Abel là nạn nhân của Cain ghen ghét (x. St 4:1-8), như Giuse bị
các anh khử trừ (x. St 44), như Ítraen bị Ai cập thù ghét (x. Tv
105:25), như các tiên tri (x. 1V 22:8) bị bách hại, làm như bị
Thiên Chúa bỏ rơi; chính Giêrêmia cũng đã cảm nghiệm như thế (x.
Gr 17:15tt). Mệnh phận của Đức Giêsu ăn khớp trọn vẹn với khuôn
mẫu ấy.
Vốn gồm toàn là
người Do thái, cộng đoàn kitô đầu tiên đã phải dựa vào Kinh
Thánh (Cựu Ước) để củng cố đức tin và biện giải sự kiện Đức
Giêsu cho đồng bào mình; vì thế, họ cố tìm cho ra những đoạn
Kinh Thánh có sức dẫn chứng. Trong phần ký thuật về cuộc tử nạn,
Máccô đã ám chỉ đến Kinh Thánh cách chung (x. Mc 14: 21.49) và
minh nhiên trích dẫn Dcr 13:7 (x. Mc 14:27), nhưng cũng đã mặc
nhiên ám chỉ đến nhiều câu, nhiều đoạn trong Kinh Thánh (x.
Mc14:18. 24.34.62; 15:34). Sau đó, Matthêu và Luca đã trích dẫn
Cựu Ước nhiều hơn.
Như vậy, Kinh
Thánh đã đưa dẫn Giáo hội sơ khai đến chỗ khám phá ý nghĩa của
biến cố xem ra vô lý ấy. Thoạt đầu, biến cố được đón nhận qua
lòng tin thuần túy, như là ý định của Thiên Chúa; rồi sau đó mới
nhận ra rõ là toàn bộ Kinh Thánh (hoặc “tinh thần” của Kinh
Thánh) đã tiên báo và làm chứng về biến cố thập giá (x. Mc
9:12tt; Lc 24:26); và cuối cùng, chính những lời Kinh Thánh, đặc
biệt là Is 53 và Tv 22, đã trở thành một thứ đường nét dẫn đạo
trong việc tường thuật về cuộc tử nạn và các biến cố liên hệ (x.
Mt 27:46; Ga 12:38; Lc 18:31; Cv 8:32; 1Pr 2:22-23; v.v.). Nếu
theo kế hoạch Thiên Chúa, Đấng Thiên sai phải chịu khổ
nhục như thế, thì thập giá chính là khí cụ cứu độ; thế nên,
chẳng những không làm cho hổ thẹn (x. 1Cr 1:20-25), thập giá còn
mang lại cả một niềm hãnh diện lớn lao (x. Gl 6:14), và đó là
con đường chúng ta phải hiên ngang dấn bước vào (x. Dt 13:13).
Kinh Thánh
không chỉ chứa đựng những lời có sức chứng dẫn, mà còn nêu ra
nhiều mẫu tiên trưng để chỉ về Đức Kitô. Gọi là “tiên trưng”
(type, typology) một biến cố, một nhân vật hoặc một điều nào
đó được coi như đầy ý nghĩa để mà giải thích một biến cố, một
nhân vật hoặc một điều khác sẽ đến trong tương lai lịch sử cứu
độ. Tỷ dụ: toàn bộ trình thuật về cuộc xuất hành giúp cho hiểu
sâu xa hơn ý nghĩa của Thánh tẩy bàn đến trong 1Cr 10:1-11. Xh
12:5 nói đến “con chiên không tỳ ố” chịu sát tế để cứu dân Thiên
Chúa; cũng vậy, Đức Giêsu đã trở thành “chiên lễ Vượt qua của
chúng ta” (1Cr 5:7). Sách Khải huyền giới trình Đức Kitô qua
hình dạng “Con Chiên đã bị giết” (Kh 5:12, v.v.). Gioan giới
thiệu Đức Giêsu như là “Con Chiên Thiên Chúa xóa tội trần gian”
(Ga 1:29). Trên núi sọ, Ngài chết im lìm như con chiên (x. Cv
8:32). Nhưng kế hoạch Thiên Chúa phát xuất từ nguồn vĩnh cửu (x.
Ep 1:3tt), vì thế con chiên này được hiểu như là “con chiên vẹn
toàn, vô tì tích, Thiên Chúa đã chọn từ trước khi vũ trụ chưa
được dựng nên” (1Pr 1:19); và hơn nữa, đã “bị giết” từ thuở tạo
thiên lập địa (x. Kh 13:8). Khi chiêm niệm những tỷ dụ ấy trong
Cựu Ước, Giáo hội hiểu rõ thêm về mầu nhiệm Đức Kitô. Theo cung
cách ấy, Phúc âm đã lấy nhân vật Giôna ở trong bụng cá để tượng
trưng cho Đức Kitô nằm trong mồ (x. Mt 12:41). Gioan so sánh rắn
đồng cứu dân bị rắn độc cắn trong sa mạc (x. Ds 21:8) với Đức
Kitô bị treo lên thập giá (x. Ga 3:14). Còn nhiều nhân vật khác
cũng được dùng làm tiên trưng để giúp nhận ra và hiểu về công
tác cứu độ của Đức Kitô, như Ađam, Idaác, Giuse, v.v.
b) Tự hiến dâng chính mình
Liên
quan với tiến trình nhận thức trên đây là việc coi biến cố Canvê
như là một cuộc dâng lễ vật: Đức Giêsu tự hiến dâng chính mình
lên Thiên Chúa làm lễ đền tội. Nguồn xuất xứ của ý niệm này là
phụng vụ: “Đây là mình Thầy hiến tế vì anh em” (1Cr 11:24; Lc
22:19), “Đây là máu Thầy đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt
26:28). Người Con đã tự phó mình vào tay Chúa Cha, bởi Người
“chẳng tha, lại trao nộp Ngài vì hết thảy chúng ta” (Rm 8: 32).
Những công thức dưới dạng bị động như đọc thấy trong Mc 9:31tt;
10:33tt; 14:21tt; Lc 24:7, đều ám chỉ cho thấy Thiên Chúa là chủ
từ của động tự “nộp,” và vì thế cuộc tử nạn mang một ý nghĩa
nhiệm mầu, chỉ hiểu ra được trong ánh sáng của Thiên Chúa. Các
nhân vật loài người hay quỷ thần đều không hiểu mình làm gì (x.
1Cr 2:8); tất cả chỉ hành động trên bình diện nông cạn; mặt thực
sâu thẳm của biến cố diễn tiến ở trong Thiên Chúa. Ý niệm kia
mang lại một cách nhìn mới về Thiên Chúa: Chúa Cha giết Con ư?
Chúa Con chết đi ư? Thiên Chúa là như thế nào?
Theo
đà suy tư ấy, thư Do thái giải thích sự chết của Đức Giêsu như
là lễ hy sinh Thượng tế dâng lên Thiên Chúa một lần cho tất cả,
để loài người được dứt khoát cứu chuộc (x. Dt 9:12). Tột đỉnh
của cứu độ học là đấy.
c) “Vì tội lỗi
chúng ta”
Nói
cách khác, Đức Kitô đã chết “vì tội lỗi chúng ta,” như đã được
ghi lại ở trong công thức tuyên tín xưa nhất (x. 1Cr 15:3). Đức
Giêsu chết để đền tội và cứu chuộc loài người: đó là thâm tín
điển hình của Kitô giáo, thâm tín đã được thánh Phaolô đặc biệt
đào sâu, khai triển và giới thiệu, cũng như đã được ngụ ý trong
hình bóng “con chiên Thiên Chúa xóa tội trần gian” (Ga 1:29), và
có mặt trong toàn bộ Tân Ước, bắt đầu từ trình thuật về hài nhi
Giêsu (x. Mt 1:21; Lc 1:77).
Công
thức Tân Ước dùng để trình bày tư tưởng này là “cho chúng ta”
hoặc tương tự: hyper hemôn, hoặc hyper pollon với
ý nghĩa là “thay cho” hoặc “vì” chúng ta, “cho” hoặc “vì” tất
cả; cũng có chỗ dùng giới từ antì tức “thay vì.” Những
công thức này xuất hiện trong truyền thống từ những thời rất
xưa, như thấy được trong 1Cr 15:3-5 và trong trình thuật về bữa
tiệc ly (x. 1Cr 11:24; Lc 22: 19): “Đây là máu Thầy, máu Giáo
ước, đổ ra vì muôn người” (Mc 14:24). Ý nghĩa này bắt nguồn từ
chính Đức Giêsu, như thấy được qua lời Ngài nói: “Con Người đến
không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và
hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10:24tt). Hẳn đó là
lối diễn đạt quen thuộc đối với độc giả Tân Ước, vì trong văn
hóa Hy lạp và Rôma, “chết vì tổ quốc” hay “vì người bạn” được
coi như là chuyện thông thường; cả đến việc “thí mạng sống” vì
ai (nhất là vì tổ quốc) cũng có thể mang một ý nghĩa tôn giáo:
được coi như một lễ tế xá tội để làm nguôi lòng các thần linh.
Để
giải thích sự việc này, truyền thống thần học đã dùng đến thuật
ngữ đền tội thế chân. Truyền thống Do thái đã biết đến ý
niệm ấy, đặc biệt là từ thời bắt đạo dữ dội hồi thế kỷ 2 trước
CN. Những người công chính chết vì đạo tất có ảnh hưởng rất lớn
trên toàn dân. Trình
thuật về các anh em Macabê nêu bật điểm này (x. 2Mcb 7:37tt;
sách 4Mcb, ngụy thư của thời ấy, trình bày về điểm này rõ hơn
nữa). Giáo hội đã tìm thấy hạt giống của tư tưởng thần học này ở
trong phần đệ nhị Isaia (x. Is 42:1-4; 49:1-6; 50:4-9; nhất là
52:13−53:12): “Ngài đã bị đâm thâu vì chúng ta phạm tội, bị
nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; Ngài đã chịu sửa trị để chúng ta
được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa
lành” (Is 53:5).
Như đã thấy,
rất sớm, truyền thống kitô đồng nhất hóa Đức Giêsu với Người Tôi
trung trong Isaia (x. Cv 3:13.26; 4:27.30; 8:32-33). Có thể đó
là cách hiểu của chính Đức Giêsu hoặc là của Phêrô (x. 1Pr
2:22-24; 3:18). Phúc âm nhất lãm đã tiếp nhận ý niệm này (x. Mc
10:45tt), lộ hiện rõ ở trong truyền thống riêng của Mt 8:17;
12:18-21, và ở trong Lc 22:37. Gioan cũng dùng nguồn liệu ấy,
đặc biệt ở trong chương 10. Phaolô cũng vậy: xin xem Rm 4:25;
15:21. Đó là tỷ dụ điển hình về một nét của “giáo lý chung”
trong Giáo hội.
Nói Đức Kitô
chết vì tội lỗi là muốn nói Ngài đã “vác lấy” gánh nặng của tội
lỗi, và vì thế đã phải lãnh trách nhiệm và chịu tội, bởi
theo quan niệm Do thái, tội lỗi và hình phạt thì đi đôi, không
thể tách rời khỏi nhau được. Ngài vô tội, nên tội lỗi ấy là tội
con người phạm, nhưng bởi vì Ngài là thành phần của gia đình
nhân loại tội lỗi, nên Ngài ở trong thế liên đới với các tội
nhân và phải gánh vác tội lỗi. Hơn nữa, vì Ngài là Ađam mới, tức
là Đầu của gia đình, nên Ngài nhận lấy trách nhiệm của tất cả,
và “trở thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta” (2Cr 5,21), trở
thành “đồ bị nguyền rủa” theo Luật (Gl 3:13); thế nên, Ngài đã
nhận chịu chết (x. Ga 19:7; Lc 24:26).
Dùng phép ẩn dụ
theo phụng vụ ở Đền thờ, Tân Ước hiểu sự chết của Đức Kitô như
là hành động xá tội (expiation, Hylạp: hilasterion),
“nơi xá tội” (Rm 3:25), tức muốn nói Đức Kitô trở thành lễ vật
dâng lên Thiên Chúa trên bàn thờ thập giá, ngõ hầu đền tội cho
chúng ta, làm cho Thiên Chúa “nguôi giận,” thương xót và thứ tha
cho chúng ta. Đó là chủ đề của Thư Do thái: “Ngài trở thành một
vị Thượng tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên
Chúa, hầu đền tội cho dân” (Dt 2:17; x. 9:26.28; 10:22; v.v.).
Tư tưởng này cũng xuất hiện ở trong 1Ga 2:2.4.10.
Phép ẩn dụ phổ
quát nhất là chuộc tội, hoặc mua lại (redemption),
gặp thấy ở nhiều nơi trong Tân Ước (chẳng hạn Rm 3:24; Cl 1:14;
Ep 1:7) với hai ý nghĩa: loài người trở nên tự do và trở thành
tôi tớ (sở hữu) của Chúa. “Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc
lấy anh em” (1Cr 6:20; x. 7:23; Gl 3:13; 4:5); “giá” ấy là máu
của Đức Kitô (x. 1Pr 1:18; 2:9; Tt 2:14). Thần học phương tây đã
lấy ý niệm này làm nền tảng cho Cứu độ học.
d) Giao ước mới
Nhìn mầu nhiệm
trong một nhãn giới khác, Tân Ước cũng đã hiểu sự chết của Đức
Giêsu trên thập giá như là hy lễ thiết lập giao ước mới với
Thiên Chúa. Trong Lễ Tạ ơn, lời của Đức Giêsu được nhắc lại:
“máu của giao ước” (Mt 26:28; Mc 14:24), “của giao ước mới” (Lc
22:10; 1Cr 11:25). Như Cựu Ước (x. 2Cr 2:14) đã được ký
kết bằng máu của lễ vật (x. Xh 24:8), thì Tân Ước cũng
vậy. Thư Do thái khai triển rộng chủ đề này: trích dẫn Gr
31:31-34, tác giả giới trình Đức Kitô trong tư thế là Thượng tế
vĩnh viễn, dâng hiến chính mình lên Thiên Chúa để thiết lập một
giao ước mới (x. Dt 8:8–10:31) bằng máu Ngài (x. Dt
9:12.14;12:24), là “máu giao ước” (Dt 10:29), “máu giao ước vĩnh
cửu” (Dt 13:20). Trong tế lễ này, tư tế và hy lễ chỉ là một; vả
lại, là tư tế theo một cách thức mới, Đức Kitô dâng tiến hy lễ
chỉ một lần là đủ, và vì thế, ký kết một giao ước tốt hơn, bởi
là giao ước vĩnh viễn và phổ quát. Hy lễ thập giá của Đức Kitô
đã làm cho những lời hứa của Kinh Thánh ứng nghiệm, đã thiết lập
một quan hệ đặc biệt giữa Thiên Chúa và loài người, tức là mối
kết nghĩa giao hảo như giữa Cha với con cái.
Đức Kitô chết
đem lại cho chúng ta lợi ích gì? Nói chung là ơn tha thứ, ơn hòa
giải với Thiên Chúa và với nhau: xưa kia là người ở xa, bây giờ
chúng ta được ở gần với Chúa và với nhau (x. Ep 2:12-14). Tích
cực hơn, người kitô được trở thành con cái Thiên Chúa, và nhờ
thế, được kế thừa các lời hứa (x. Rm 8:17; Gl 3:29; Dt 6:12;
v.v.). Xưa kia không phải là một dân, bây giờ là dân riêng của
Thiên Chúa (x. 1Pr 2:9-10), được Người chọn làm nơi cư ngụ như
là Đền thờ (x. 2Cr 6:16).
Kinh
Nghiệm Của Đức Giêsu
Trong Sự
Chết
Mầu nhiệm thập
giá là mầu nhiệm Đức Giêsu bị hãm hại. Những khía cạnh thâm vi
nhất của mầu nhiệm này tiềm ẩn ở tận trong cõi lòng sâu thẳm của
Đức Giêsu, trong ý thức và trong chính bản thể Ngài. Đức Giêsu
là thế nào thì Ngài cũng chết thể ấy: chết như con người, chết
như Đấng Thiên sai, chết như Ngôi Lời nhập thể.
a. Con
người Giêsu chết
Trong vườn
Ghếtsêmani, Đức Giêsu kinh hãi trước biến cố sắp xảy ra; là con
người, Ngài không thể không run sợ khi nhớ lại những cảnh tượng
khổ hình mà có lẽ Ngài đã từng mục kích nhiều lần. Năm 9 cn –
tức là lúc Đức Giêsu trạc độ 15 tuổi – Giuđa, người Galilê, nổi
loạn trong thời kiểm tra dân số (x. Cv 5:37); nhiều người đã bị
đóng đinh. Suốt thời ấy, những nhóm hoặc du kích hoặc cướp đường
hoặc cả hai, không ngừng hoạt động; hễ bị bắt là bị treo chết dã
man trên thập tự. Dù – không chỉ vì bản năng bảo tồn như bất cứ
sinh vật nào, mà còn vì sống lòng tin – Đức Giêsu thâm tín rằng
“Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng
tiêu vong” (Kh 1:13), nhưng là con người, Đức Giêsu cũng kinh
hãi khi phải chịu khổ nhục. Kinh khủng hơn nữa, theo truyền
thống Do thái, chết là hết hy vọng, là xa cách nguồn sống, xa
cách Thiên Chúa (x. Tv 6:6; 88:11-13; Is 38:18, v.v.). Người Do
thái nào mà lại không than thở: “Tử thần hỡi, nhớ đến ngươi thật
là cay đắng” (Hc 41:1). Sự chết là kẻ thù (x. 1Cr 15:26). Rồi,
không những phải chết, Ngài còn bị giết chết nhục nhã, giữa tuổi
thanh xuân, lúc còn ủ ấp biết bao dự tính về một tương lai huy
hoàng, biết bao ước mơ còn chưa thành sự. Là “con người hoàn
hảo” (GS 45), mà lại thấy mình sẽ phải trở thành một người tàn
phế, “chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong... bị đời khinh khi
ruồng rẫy... ai thấy cũng che mặt lại, không nhìn” (Is 53:2-3),
bị đồng bào thù ghét, bị tôn giáo kết án, bị bạn hữu chối bỏ: có
gì buồn thảm hơn cho một cuộc đời tuổi trẻ đầy hy vọng! Lạ gì
nếu theo bản tính tự nhiên, Đức Giêsu sợ hãi.
Sự chết nói lên
tư chất thụ tạo và tính cách hữu hạn. Con người Giêsu mang trong
bản chất mình một mối liên đới, mối liên đới với hết mọi thụ tạo
khắp trong hoàn vũ, mối liên đới có tác dụng mạnh, một cách
nhiệm mầu, trên ý thức Ngài. Và bởi Ngài là “trưởng tử của mọi
loài thọ tạo, và tất cả đều tồn tại trong Ngài” (Cl 1:15-17),
cho nên, theo cách nhiệm mầu ấy, cái chết của Ngài mang một
chiều kích vũ trụ, tựa như muôn vật cùng chết với Ngài. Có lẽ đó
là ý nghĩa của những điềm lạ xảy ra trong trời đất, vào chiều
thứ sáu tuần thánh đầu tiên, khi Đức Giêsu tắt thở, như các Phúc
âm đã ghi chép lại (x. Mc 15:33; Mt 27:45. 51-52; Lc 23:44-45).
Mặt khác, chết còn là dấu chứng về thực trạng con người dính líu
với tội lỗi và về tội trạng của loài người (x. Rm 5:12; 8:3):
thấu cảm thảm trạng ấy, làm sao Đức Giêsu lại không thấy đau
buồn và ghê rợn đến tận xương tủy, vì hơn ai hết Ngài hiểu tội
lỗi là gì, là phi lý đến độ nào, và đặc biệt là vì Ngài không có
tội (x. 2Cr 5:21).
Chia xé và làm
như hủy hoại mất đi cái tôi nơi con người, thế nên trong tâm trí
loài người, sự chết mang hình tượng của một tấn thảm kịch, của
một cuộc tàn phá bất công, của một hành động xâm lược bạo ngược.
Trên thập giá, Đức Giêsu cảm thấy đau đớn, thống khổ hầu như
tuyệt vọng, vì Ngài phải chết trong tăm tối, để uống cạn chén
đắng đầy ắp tính chất vô lý của sự việc. Ngài hấp hối giữa khổ
đau cực độ trong tinh thần và trên thể xác, khổ đau thực sự, chứ
không phải “chỉ một phần nào” như là người đang sống trong niềm
cực lạc của tình trạng hưởng kiến! Nếu chủ trương rằng Đức Kitô
đã được hưởng kiến Thiên Chúa ngay khi còn sống nơi trần gian,
thì khó mà giải thích cho được sự việc Ngài đã chịu khổ đau thật
sự. Có giả thuyết cho rằng tâm lý Đức Giêsu có hai lớp tầng:
tầng trên để hưởng cực lạc, tầng dưới để chịu khổ. Có giả thuyết
khác lại nghĩ rằng tình trạng hưởng kiến “tạm tắt đi” trong thời
gian chịu tử nạn. Còn khuynh hướng thiên về nhất tính luận và
một số Giáo phụ thì nghĩ là để có thể chịu khổ, thì Đức Kitô đã
phải làm phép lạ. Hoặc vì quá khâm phục lý tưởng apatheia
(vô cảm, lạnh lùng) hoặc ataraxia (thanh tịnh) của phái
khắc kỷ Stoa, các vị cho rằng Đức Giêsu kiên cường chịu
mọi sự mà không thấy đau. Có kẻ lại coi Đức Giêsu như một thầy
tu khổ hạnh Ấn độ (fakia), lấy chí khí mà khử tình cảm để
không còn cảm thấy đau khổ; có tác giả viết: “Sri Ramakrishna
thường nói rằng khi Đức Giêsu bị đóng đinh, Ngài tách rút tâm
trí ra khỏi thể xác. Ngài ở trong một tâm trạng hoàn toàn khác,
tâm trạng samadhi, tức siêu ý thức. Các đinh xuyên thủng
thể xác, nhưng tâm trí không bị ảnh hưởng.” Những giả thuyết này
là hậu quả của lối quan niệm nhập thể theo ảo thân thuyết. Nhưng
không phải thế; Đức Giêsu có tâm lý và thân xác như mọi người,
chịu khổ và chịu chết như một con người đích thực.
b. Đấng Thiên sai chết
Đức Giêsu ý
thức rõ mình được sai đi, là “phái viên,” là Mêsia, là hiện thân
của những gì Giavê đã hứa với Ítraen, tức là của sự việc các lời
hứa ấy được ứng nghiệm. Thế mà Ngài lại bị hãm hại. Trên bình
diện tâm lý, Ngài là người công chính bất lực ở trong tay kẻ ác
có quyền thế. Trên bình diện tôn giáo, sứ mệnh của Ngài xem ra
thất bại. Ngài đã tin tưởng ở Thiên Chúa, mà Thiên Chúa có vẻ
như bỏ Ngài rơi vào tay phường ác nhân (x. Kh 2:10-20). Thiên
Chúa đang ở đâu?
Giá như Ngài
chết như một vị tử đạo, như một anh hùng liệt sĩ, thì đã có được
chút an ủi; nhưng đằng này, Ngài phải chịu cực hình như một kẻ
nổi loạn, gây rối vì lý do chính trị, điều mà Ngài đã cố tránh
cho khỏi. Họ tước vinh dự làm người Do thái của Ngài; là đại
diện của Dân Thiên Chúa, Đức Giêsu bị dân ngoại hành quyết. Tệ
hơn nữa, Ngài cẩn trọng trọn giữ Lề Luật (x. Mt 5:17), mà lại bị
Luật kết án và nguyền rủa, buộc tội đã làm ô uế đất Thiên Chúa
ban cho Ítraen làm gia nghiệp (x. Đnl 21:22-23). Trên thập giá,
Đức Kitô để lộ cho thấy tính chất nước đôi của mọi cách thức
thực hành đạo đức ở giữa loài người: Luật Thiên Chúa đặt vào
trong tay loài người đã trở thành khí cụ giết chết Con Thiên
Chúa! Điều đáng chú ý là công thức tuyên tín xưa nhất của đức
tin kitô giáo cũng nêu lên sự việc: “Đấng Mêsia đã chết” (1Cr
15:3). Như thế, Đấng Thánh của Thiên Chúa (x. Mc 1:24) đã phải
chết như một tội nhân. Đó chính là điểm gây trở ngại làm cho
Ítraen không thể chấp nhận Ngài là Đấng Thiên sai. Hồi giữa thế
kỷ 2, Triphô, người Do thái, đã tranh luận với thánh Giustinô,
và đã dùng điểm này làm lý chứng để phủ nhận Đức Giêsu là Đấng
Mêsia. Dẫu thế, trong Đức Kitô bị đóng đinh giữa hai tên giặc
cướp, Kitô giáo đã ngay từ đầu, dứt khoát nhận ra biểu tượng của
án quyết chống lại tội lỗi; Ngài thay mặt cho hết mọi nạn nhân
của luật pháp, tôn giáo, quốc gia, v.v.
Đức Kitô chết
trong cảnh cô đơn. Ngài đã thu hút nhiều môn đồ theo Ngài; nhưng
họ đã bỏ trốn đi hết. “Đi tới đâu, là Ngài thi ân giáng phúc tới
đó” (Cv 10:38); thế mà lúc ấy, hình như không một ai còn nhớ
đến. Ngài biết mình là Mêsia của Ítraen, dân mình; thế mà Ítraen
lại chối từ Ngài để, thay vào đó, đi chọn một hoàng đế ngoại
quốc. Thiên Chúa sai Ngài đến để cứu độ dân Người; nhưng giờ
đây, tự cứu giúp mình Ngài cũng không thể làm được; rồi tệ hại
hơn nữa, Ngài bị coi là cớ gây ra cho Ítraen tai họa kinh hồn
nhất trong lịch sử dân nước (x. Ga 15:22; Mt 23:37t). Ngài là
hiện thân của các lời Giavê hứa với Ítraen: bao nhiêu hy vọng
đẹp đẽ đó đều tan biến hết tựa sương mai. Ngài đã ấp ủ và dấn
thân cho cái lý tưởng cao cả và hấp dẫn nhất trên đời này là xây
dựng “Vương quốc của Thiên Chúa.” Lý tưởng ấy bây giờ ở đâu?
Nuôi mộng lớn nhất trong lịch sử loài người, giờ đây Đức Giêsu
phải chịu thảm bại một cách đáng thương nhất! Làm như Ngài thử
hỏi: mình đã hành động sai lệch đi ở chỗ nào? Tại sao kế hoạch
lại hỏng đi như thế? Ai chịu trách nhiệm? Mình có làm gì nên tội
hay không? Từng ấy và còn bao nhiêu câu hỏi khác không có giải
đáp... Ngài bị thử thách trong lòng tin: Thiên Chúa ở đâu? Thế
nào là đường lối của Thiên Chúa? Hẳn Đức Giêsu tin rằng Thiên
Chúa chăm lo cho chim trời và hoa huệ ngoài đồng (x. Mt 6:26tt),
Người ban của tốt lành cho những kẻ kêu xin (x. Mt 7:11); mình
đã nài xin Chúa Cha rủ lòng thương cứu sống... hay là mình xin
con cá mà Thiên Chúa lại cho con rắn? (x. Mt 7:10).
Chẳng có gì
biểu đạt nỗi kinh hoàng Đức Giêsu đã sống qua rõ cho bằng lời
thốt lên: “Lạy Thiên Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi, sao Người bỏ
rơi tôi?” (Mc 15:34tt). Tận trong đáy lòng, Ngài cảm thấy như bị
áp lực của Tội lỗi bóp ngạt. Bị Tội lỗi – là “cái khác hẳn” với
Ngài – bức áp đến độ Ngài không còn cảm nhận ra nổi Thiên Chúa
là Cha của mình, và đồng thời không còn thấy rõ mình là ai. Đó
là mức tột đáy của nỗi cô đơn trên thập giá: xem ra cả đến Thiên
Chúa cũng đứng ở phía bên kia.
Thần học do dự
trong cách giải thích khi bàn đến vấn đề này: Quả Thiên Chúa đã
bỏ rơi Đức Kitô? Dĩ nhiên là không. Nhưng vấn đề ở đây là khác:
Đức Giêsu đã cảm thấy như bị Thiên Chúa bỏ rơi; kinh nghiệm này
là cực hình khủng khiếp nhất trong cuộc khổ nạn. Phúc âm cho
thấy là chỉ có lần này Đức Giêsu mới gọi Thiên Chúa bằng danh
xưng “Thiên Chúa” thay vì bằng “Cha,” vì Ngài đang trải qua kinh
nghiệm độc nhất và thương đau ấy về Thiên Chúa. Từ xưa, Kitô
giáo đã tỏ ra hơi lúng túng trong chuyện này: nếu nói Thiên Chúa
đã bỏ rơi Đức Giêsu thì nghe quá chướng tai; thế nên, thần học
đã tìm cách giải thích sao cho thỏa đáng, và nhất là thích đáng
hơn với niềm tin kitô. Vì những lời của Đức Giêsu nói trên thập
giá là câu đầu tiên của Thánh vịnh 22, nên nhiều người cho rằng
Ngài đã đọc trọn cả Tv 22, với những câu cuối tràn đầy an ủi,
phấn khởi. Rốt cuộc: chẳng có gì lạ! Có những người khác lại cho
Đức Giêsu nói nhân danh các tội nhân (như Ôrigênê, Xyrillô
Alêxanđria, Âugutinô). Cũng có người nghĩ rằng lúc ấy con người
Giêsu – tức là nhân tính sắp bị bỏ rơi trong mồ – đối
thoại với thần tính của Ngài (như Êpiphaniô, Eusêbiô). Rồi cũng
có những tác giả suy luận rằng trong tâm lý, Ngài cảm thấy như
bị bỏ rơi, nhưng từ trong đáy lòng Ngài biết là Chúa Cha ở với
Ngài (Téctullianô, Ambrôsiô, Tôma Aquinô). Có thể nào Thiên Chúa
lại bỏ rơi Con Một của Người!
Đã đành đây là
mầu nhiệm, vì thế không ai biết được điều gì đã xảy ra
trong lòng Đức Giêsu. Tuy nhiên, có điều lạ đã xảy ra, đó là:
Con Thiên Chúa bị hãm hại mà Trời vẫn im hơi lặng tiếng. Tâm trí
Đức Giêsu cảm nhận ra sự kiện này, nhưng không hiểu nổi, và phần
con người của Ngài đã kêu lên. Dựa theo Phaolô, thần học có thể
giải thích tình cảnh “bỏ rơi” kia như thế này: Nếu Đức Kitô đã
trở thành “đồ bị nguyền rủa” (Gl 3:13), nếu Ngài trở thành “
hiện thân của tội lỗi” (2Cr 5:21), ắt Thiên Chúa chí thánh phải
“xa lánh.” Một khi đã đảm nhận sứ mệnh sống liên đới với nhân
loại tội lỗi, tất Ngài đã ý thức về hậu quả đắng cay ấy; Ngài đã
có thể thấy trước được toàn bộ sứ mệnh, trong đó có sự chết (cả
chết trên thập giá nữa) làm thành phần cấu tạo; tuy nhiên, không
phải vì thế mà bây giờ Ngài có thể giữ được lòng mình dửng dưng,
không bị xao xuyến đau xót. Sâu xa hơn các nhà thần nghiệm muôn
phần, Đức Giêsu đã phải nếm “đêm tối” của lòng tin, và phải nắm
vững niềm tin tối tăm ấy mà đánh thắng cám dỗ thất vọng đang
giày vò.
Quả thế, Ngài
đang trải qua cơn cám dỗ cuối cùng. Kẻ thù hống hách xỉ vả,
thách thức Ngài: “Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập
giá xem nào!... Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu
hắn đi” (x. Mt 27:39-44tt). Dù phải liều hết mọi sự, thì Ngài
cũng không nhường: đó là vụ đánh cuộc lý do tồn tại của chính
con người Ngài. Như trong hết mọi cám dỗ, vấn đề là cách quan
niệm về Thiên Chúa. Giả dụ Đức Giêsu nhảy xuống khỏi thập giá,
tức là đi lạc con đường của Chúa Cha, thì đám thù địch rồi cũng
chẳng tin vào Ngài. Nếu Thiên Chúa là quyền uy, oai hùng, công
bằng... thì biến cố thập tự ấy quả thật vô lý. Tuy nhiên, Thiên
Chúa thì “khác hẳn” với những gì óc logíc hạn hẹp của con người
hình dung ra. Chính vì toàn năng, nên Người có thể hiện diện
ngay cả trong cảnh vắng mặt, có thể dùng quyền bính (tạo dựng)
qua cả sự bất lực, và làm cho sống qua cả sự chết.
Phúc thay cho
loài người chúng ta vì Đức Kitô đã thắng vượt cám dỗ và sự chết
như người Con trung hiếu, hằng phó thác toàn thân vào trong tay
Cha (x. Lc 23:46). Trái với người công chính trong Cựu Ước
(“Người công chính sẽ vui mừng thấy Chúa trả oán, họ sẽ rửa chân
trong máu ác nhân”: Tv 58:11), Đức Giêsu xin Cha tha cho những
kẻ giết mình, thậm chí còn bào chữa cho họ, “vì họ không biết
việc họ làm” (Lc 23:34). Lý do là vì dù có đang ở tột đáy khổ ải
ấy, thì Ngài cũng vẫn là Đấng Cứu chuộc họ. Lúc mọi sự đều xem
như thất bại, hư hỏng, thì tử tính vẫn đứng vững, thắng cuộc;
Đức Giêsu vẫn giữ bản sắc làm Con, chỉnh túc hơn cả Abraham:
“mặc dầu không còn gì để trông cậy, Ngài vẫn trông cậy và vững
tin” (x. Rm 4:18). Và cuối cùng, Đức Giêsu trao phó Thần Khí của
mình, hơi thở cuối cùng gói trọn toàn bộ cuộc đời của mình, vào
tay Cha, lòng đầy hy vọng: hy vọng với xác tín là mọi sự
đều có ý nghĩa trong Cha Ngài.
Cũng như suốt
cuộc đời, trong khi phải đối diện với sự chết, thái độ của Ngài
là vâng phục ý Chúa Cha. Bàn về sự chết, thần học không quên lưu
ý đến giả thuyết khoa học nói rằng lúc lâm tử, tức là trong giây
phút cuối cùng của cuộc đời, làm như sống qua một khoảnh khắc
tỉnh táo chớp nhoáng, người sắp chết thấy lại toàn bộ đời mình
trong tự do với khả năng chấp nhận hay từ chối Hữu thể Tuyệt
đối. Quyết định cuối cùng này thường có giá trị luân lý đối với
toàn bộ quá khứ cuộc đời. Như thế, dù không hiểu hết mọi chi
tiết, Đức Giêsu đã gói trọn cuộc đời và sứ mệnh của mình vào
trong một quyết định duy nhất là vâng phục, để tin tưởng dâng
lên Chúa Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha,”
rồi tắt thở (Lc 23:46). Vâng lời vì yêu thương, chứ không phải
là cực hình khổ nạn, đã cứu chuộc chúng ta (x. Dt 5:7-10; Pl
2:8-9; Rm 5:19).
Sự chết của
Đấng Cứu Thế phải là mẫu mực của đường lối Thiên Chúa. Đức Giêsu
chết đi như một người thất bại: Chúa Quan phòng có vẻ như đã bỏ
rơi Ngài. Ngài cũng có vẻ như lỡ chân dấn bước vào trong vương
quốc Thiên Chúa. Phận mệnh của Ngài có vẻ như đi nghịch lại với
những lời Thiên Chúa hứa trong Kinh Thánh. Dù vậy, nơi Đức Kitô,
Thiên Chúa đã cứu vớt hết những gì tiêu cực: không đánh vỡ sự ác
từ bên ngoài, song là thấm nhập vào bên trong để biến đổi nó.
Máccô đã giải thích cho thấy là cuộc chịu chết này có giá trị
cứu độ phổ quát: chính vào lúc ác thần có vẻ thắng cuộc, thì lạ
thay, bức màn trướng trong Đền thờ xé ra làm đôi từ trên xuống
dưới, và một sĩ quan ngoại quốc lớn tiếng tuyên xưng Đức Giêsu
là Con Thiên Chúa (x. Mc 15:38-39). Đức tin mọc lên từ tăm tối;
“bí mật về Đấng Thiên sai” được bày tỏ công khai. Bấy giờ, Giuse
Arimathêa rụt rè đã trở thành mạnh dạn (x. Mc15:43). Đức Giêsu
được táng liệm trong ngôi mộ mới, và cả đến Philatô cũng sẵn
sàng hợp tác...
c. Thiên Chúa chết
Thượng Đế mà
chết được ư? Nếu Người có thể sống cuộc đời loài người thì cũng
có thể chết với cái chết loài người. Chết là hành động của chủ
thể: tôi chết, chứ không phải chỉ một mình xác tôi
chết. Thế nên, nếu Đức Giêsu là Ngôi Lời nhập thể
và Ngài đã chết, tất có thể nói là Ngôi Lời đã chết. Đây
là khía cạnh u uẩn nhất trong mầu nhiệm cuộc tử nạn.
Trong cuộc
tranh luận về thần tính của Đức Kitô, các Giáo phụ đã dùng đến
cách nói: “Một Vị trong Tam Vị đã bị đóng đinh,” tức muốn nói là
một Ngôi Vị trong Thiên Chúa Ba Ngôi đã chết trên thập giá. Qua
sự kiện này, toàn năng tính và toàn ái tính của Thiên Chúa tỏ lộ
rõ: Người có thể chết đi, và đã chịu chết vì những tạo vật bất
nhẫn vô ơn. Thánh Inhã Antiôkia viết: “Trong thời Phongxiô
Philatô và Hêrôđê tiểu vương cầm quyền, Con Thiên Chúa đã thật
sự bị đóng đinh trong xác thể vì chúng ta.” Và thánh Êphrem nhận
định rằng: “Hiện nay, có kẻ nói chỉ một mình thể xác đã bị treo
trên thập giá. Không; tôi tin vững là Đấng thần-nhân đã bị đóng
đinh, Ngài đã kêu lên lớn tiếng và tắt thở. Chính Ngài là Thiên
Chúa ẩn mình.” Căn cứ vào giáo huấn các Giáo phụ, thần học ngày
nay lý giải mầu nhiệm này theo cung cách sau đây: Thiên Chúa vốn
bất tử vì bản tính tự hữu của mình, nhưng Người đã trở thành
‘khả tử’ nơi một bản tính khác; nói cách khác: Ngôi Lời bất tử
trong thiên tính, nhưng trong nhân tính thì có thể chết được.
“Vì Thiên Chúa là tình yêu toàn năng, nên có thể nói là Người
nhượng bộ cho ‘sự yếu đuối của tình yêu’. Người có thể chịu khổ
chịu chết mà vẫn không bị hủy diệt. Chỉ như vậy Người mới có thể
lấy cái chết của mình mà cứu chuộc cái chết của chúng ta. Thánh
Âugutinô nhận xét rất đúng khi ngài nói: ‘Khi bị thần chết giết,
Ngài giết chết thần chết.’ Vậy, trên thập giá, Thiên Chúa xuất
hiện trong tư thế là Đấng hoàn toàn tự do trong tình yêu, hay
hơn nữa, như là sự tự do trong tình yêu.” Chân lý này hết sức
quan trọng đối với Cứu độ học. Các Giáo phụ thường nhấn mạnh đến
điều này là nếu chỉ một con người thường chết vì chúng ta thì
chúng ta sẽ không được cứu độ; chỉ Ngôi Lời mới có thể cứu độ
chúng ta qua sự chết của Ngài. Cái chết ấy mạc khải cho thấy
trong Đức Kitô, Thiên-Chúa-cho-con-người và
con-người-cho-Thiên-Chúa chỉ là một trong tình yêu hỗ tương.
Tình yêu cốt ở việc trao hiến chính mình cho người yêu; tình yêu
tuyệt đối là trao hiến chính mình một cách hoàn toàn, tức là thí
mạng sống mình một cách trọn vẹn vì người yêu. Là tình yêu (x.
1Ga 4:8), Thiên Chúa đã thí mạng sống vì con người Người yêu
thương. Và đáp lại, trong Đức Giêsu, con người đã có thể yêu mến
Thiên Chúa cách tuyệt đối, và hiến mạng sống vì vinh quang của
Người (x. Ga 10:17; 14:31).
Điều nghịch lý
nhất của thập giá là sự kiện này: Thiên Chúa đã chết vì ta. Các
tôn giáo hữu thần tin vào một Đấng Thượng đế bất tử; chỉ có các
môn đồ Đức Kitô là đi tôn thờ một Đấng Thiên Chúa đã chịu chết.
Thánh Âugutinô viết: Trong Kitô giáo có nhiều điều khó tin nơi
các lời hứa về tương lai, nhưng “khó tin hơn nữa là điều đã xảy
ra rồi, đó là việc Thiên Chúa đã chết vì loài người.” Nếu Thiên
Chúa đã quyết định trở thành mục tử dân Người (x. Ed 34: 11),
thì Người phải là mục tử nhân lành, và “mục tử nhân lành
thì hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10:11). Đức Giêsu
đã chết như vậy vì Ngài là Thiên Chúa.
Mai
Táng
Kinh Tin Kính
ghi lại cuộc chôn cất Đức Giêsu để nêu bật sự kiện Ngài đã chết
thật. Công thức đức tin xưa nhất cũng nói đến: “Rồi Ngài đã được
mai táng” (1Cr 15:4). Cả bốn Phúc âm đều kể lại sự việc; Máccô
viết:
“Chiều đến, vì
hôm ấy là ngày áp lễ, tức là hôm trước ngày sabát, nên ông Giuse
tới. Ông là người thành Arimathêa, thành viên có thế giá của hội
đồng, và cũng là người vẫn mong đợi Triều Đại của Thiên Chúa.
Ông đã mạnh dạn đến gặp tổng trấn Philatô để xin thi hài Đức
Giêsu. Nghe nói Ngài đã chết, ông Philatô lấy làm ngạc nhiên, và
cho đòi viên đại đội trưởng đến, hỏi xem Ngài đã chết lâu chưa.
Sau khi nghe viên sĩ quan cho biết sự việc, tổng trấn đã cho ông
Giuse lãnh lấy thi hài. Ông này mua một tấm vải gai, hạ xác Đức
Giêsu xuống, lấy tấm vải ấy liệm Ngài lại, đem đặt vào ngôi mộ
đã đục sẵn trong núi đá, rồi lăn tảng đá lấp cửa mộ” (Mc
15:42-46).
Các phúc âm gia
khác có ghi thêm một ít chi tiết: Matthêu nói “vải gai sạch”
và “mộ mới” “dành cho ông”; Luca cho biết ông Giuse là
người “lương thiện và công chính” và trong mộ “chưa chôn cất ai
bao giờ”; còn Gioan thì nói Giuse là môn đồ ngầm kín của Đức
Giêsu. Ông Giuse không chôn cất một mình, bởi Luca nói các phụ
nữ Galilêa cũng có ở đó; một điểm đáng lưu ý là không thấy các
tông đồ có mặt lúc táng xác; Gioan còn cho biết thêm là nghi sĩ
Nicôđêmô cũng mang đến chừng 32,5 kg mộc dược trộn với trầm
hương.
Mt 27:62-66 còn
kể một chi tiết khác: các giới chức Do thái đến xin Philatô
truyền lệnh canh mộ, và ông này đã làm theo ý họ, sai lính canh
phòng cẩn mật và kỹ lưỡng “niêm phong tảng đá”. Vài thế hệ sau,
dư luận còn nhớ đến chi tiết này, chi tiết hữu ích bởi nó giúp
củng cố sự kiện sống lại.
Mồ chôn Đức
Giêsu tượng trưng cho sự im lặng của Thiên Chúa. Mặt khác, cũng
cho thấy Ngài đã đi qua sự chết – vốn là mệnh phận của con người
– để liên đới với anh em mình; liên đới với người sống cũng như
kẻ chết, Đấng Cứu Thế là niềm hy vọng cho tất cả. Ngài có thể
nói: “Ta đã chết và này Ta sống đến muôn đời” (Kh 1:18). Nơi xác
thể Ngài, sự chết và sự sống bắt gặp nhau, vì là xác thể của
Ngôi Lời; thánh Gioan Đamátcô viết:
“Do sự kiện
linh hồn bị chia ly khỏi thân xác khi Chúa Kitô chết, bản ngã
độc nhất của Ngài không vì thế mà bị chia làm hai bản vị: vì
thân xác và linh hồn của Chúa Kitô đã hiện hữu với tư cách đó
ngay từ lúc đầu trong ngôi vị của Ngôi Lời; cho nên, trong sự
chết, dù bị chia lìa nhau, xác và hồn đó vẫn thuộc về ngôi vị
độc nhất của Ngôi Lời” (Sách Giáo Lý, số 626).
Do vậy, thời
gian nằm trong mồ, thân xác Đức Giêsu không phải là một tử thi
như các xác chết khác, “vì thần lực của Chúa đã giữ cho thân xác
Ðức Kitô khỏi bị hư nát” (thánh Tôma Aquinô); thân xác ấy vẫn là
mầm giống hy vọng. “Nhờ phép Thánh tẩy được mai táng với Ðức
Kitô” (Rm 6:4) – điều này hiện rõ qua biểu tượng dìm dưới nước
khi chịu Phép Rửa – kitô hữu được sống lại trong sự sống mới nhờ
và với Chúa Phục sinh.
Cuối cùng, cũng
nên lưu ý đến một vài chi tiết khác: Đức Giêsu chết rồi thì hết
nhục nhã; bây giờ thi hài còn được đối đãi tử tế, trân trọng
nữa. Hoa quả cứu độ cũng xuất hiện: viên sĩ quan Rôma lớn tiếng
tuyên xưng: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15:39).
Cũng ngày hôm ấy, Hêrôđê và Philatô “bắt đầu thân thiện với
nhau, chứ trước kia hai bên vẫn hiềm thù” (Lc 23:12). Và dù nhóm
tông đồ lẩn trốn vì sợ, thì các phụ nữ vẫn trung thành, và hai
môn đồ ngầm kín – Nicôđêmô và Giuse Arimathêa – ngang nhiên ra
mặt phục vụ Thầy mình. Như xác Chúa ở trong lòng đất, những hạt
giống đức tin ở trong lòng các môn đồ này sẽ đâm chồi nảy lộc
xinh tốt những ngày sau đó.
Đức Giêsu Xuống
Ngục Tổ Tông
Dù Kinh Tin
Kính các Tông đồ nêu rõ, tín điều này cũng thường bị lãng quên.
Tín biểu Nixê không ghi công thức này, nhưng lại đọc thấy bên
Đông phương. Xuất xứ từ Kinh Thánh, như đọc thấy ở trong Thư thứ
nhất của thánh Phêrô (x. Pr 3:18tt), chân lý Đức Kitô “xuống
ngục” đã từng được Giáo hội xác nhận và ghi vào trong giáo lý
chính thức của đức tin (x. DS 801, 852, 1077), dù có xem ra như
là chuyện thần thoại và bị một số tác giả coi như là một
mythologem lỗi thời. Ý nghĩa kitô học là Đức Giêsu đã chết
thật sự; ý nghĩa cứu độ học là Ngài đã chết cho mọi ngưòi. Có
thể đó không phải là một biến cố tách riêng, nhưng là thành phần
nằm trong mầu nhiệm Phục sinh, một khía cạnh của biến cố chết đi
và sống lại của Đức Kitô. Qua sự chết và sự sống lại, Đức Kitô
đã sống qua kinh nghiệm liên đới với những thế hệ quá vãng; đồng
thời, lập nên dây liên đới giữa mọi người thuộc mọi thời đại; tử
thần đã thua. Từ nay, tác động cứu độ của Đức Kitô trải rộng ảnh
hưởng đến với hết mọi người; từ nay, đức công chính của Thiên
Chúa chung quyết thắng cuộc.
Bản văn chủ yếu
nêu lên chân lý là 1Pr 3:19-20. Đành rằng hình thức diễn tả chân
lý làm cho liên tưởng đến thế giới huyền thoại, dựa theo vũ trụ
quan thời xưa để quan niệm trời ở trên, địa ngục ở dưới; nhưng
qua đó, mạc khải muốn cho hiểu rằng Đức Giêsu đã chết thật sự,
đã đi ngang qua tình trạng “tiêu cực tột cùng” hoàn toàn bất
lực, với con người bị xé đôi hồn xác chia tách riêng rời. Theo
quan niệm của Cựu Ước (quan niệm của Đức Giêsu!), Sheol
là “nhà hội ngộ của hết mọi nhân sinh” (G 30:23), nơi tất thảy
chư sinh đều phải xuống (x. Ed 31:14) để mà cảm nếm cảnh bất lực
thất vọng, vì “Thiên Chúa lãng quên” những kẻ ở địa ngục (x. Tv
6:6; 38:6; 88:6-9 v.v.). Các nền văn hóa vùng Địa Trung Hải ngày
xưa cũng tin như vậy. Lúc đầu, người ta quan niệm cho rằng ở
Sheol hết thảy đều chịu số phận như nhau: “Mọi người đều như
nhau, cùng chung một số phận, người công chính cũng như đứa gian
tà, người tốt cũng như kẻ xấu”(Gv 9:2tt). Rồi dần dần, dân Do
thái đã tin là phận mệnh của người công chính thì khác (x. Lc
16: 19tt: dụ ngôn về Ladarô cùng khốn). Trái với các ngụy thư Do
thái thời ấy (x. 1-2Henoc, 2Esdra, 2-3Baruch, v.v.), thư 1Pr rất
chừng mực, không mô tả nơi chốn mà chỉ nói về các người quá cố
và về Đức Kitô Đấng giải phóng họ: “Đức Kitô đã đến rao giảng
cho các vong linh bị giam cầm, tức là các người xưa kia đã không
vâng phục Thiên Chúa... thời ông Nôê” (1Pr 3:19-20). Chúa xuống
ngục để mang cho họ Tin mừng mà Ngài đã rao giảng ở trên đời
này; nói cách khác, để ban tặng cho họ ơn cứu rỗi do công đức
của sự chết trên thập giá. “Giảng Tin mừng” là loan báo ơn cứu
độ. Những kẻ ngày xưa – trong thời ông Nôê – đã không vâng phục,
tượng trưng cho thế hệ tội lỗi bị hư mất vô phương cứu chữa,
theo cách hiểu của truyền thống Do thái. Thế mà 1Pr cho biết
rằng cả họ nữa cũng có thể được cứu độ; nói cách khác: vì Đức
Kitô đã chết cho mọi người, nên mọi người đều có thể được cứu độ
bằng những cách thế không ai có thể tưởng tượng được. Mặt khác,
vì Đức Kitô là Đấng “phán xét kẻ sống và kẻ chết,” mà tiêu chuẩn
của cuộc phán xét ấy là Tin mừng, nên trước đó, “kẻ chết” cũng
cần phải được nghe công bố Tin mừng (x. 1Pr 4:5-6).
Đức Kitô không
chỉ chết như một con người thường (“vì mọi phàm nhân đều như cỏ
và tất cả vinh quang của họ đều như hoa cỏ; cỏ thì khô héo, hoa
thì tàn rụng”: 1Pr 1:24), mà còn như một tội nhân (x. 2Cr 5:31;
1Pr 2:24). Con Thiên Chúa nhập thể đã trở thành một vong linh,
kém thua một con người, lại còn bị ràng buộc với vật chất. Đức
Kitô đã trút bỏ hết toàn thân mình (x. Pl 2:6), đã đạt tới tột
đáy của tạo vật. Jean Calvin cho rằng khi chết, Đức Kitô đã phải
nếm “những cực hình ghê gớm của đọa nhân [trong hỏa ngục] và
chịu thống khổ tựa như người mất linh hồn.” Không, Đức Kitô
không xuống “hỏa ngục” như kẻ bị đọa hình, song là xuống với “tổ
tiên,” những người đã sống trước thời Ngài, và trong tư cách là
Đấng Cứu tinh của họ.
Các Giáo phụ
thường lý giải ba khía cạnh của mầu nhiệm này như sau:
— Đức Kitô rao
giảng Tin mừng cho kẻ chết có nghĩa là Ngài hoàn tất sứ mệnh cứu
độ đối với mọi người.
— Đó là biểu
tượng của phép Thánh tẩy, là khí cụ cứu rỗi dành cho kẻ “chết,”
và có lẽ cũng ám chỉ đến nghi thức lạ thường gặp thấy thời các
thế hệ kitô đầu tiên – ít là ở Côrintô – là chịu phép rửa thay
cho kẻ chết (x. 1Cr 15:29).
— Ngài đánh
thắng tử thần và quyền lực tối tăm; bởi đã thực sự là Chúa tể
càn khôn (x. Ep 4:8-10); từ đây, Đức Kitô nắm “giữ chìa khóa của
Tử thần và Âm phủ” (Kh 1:18).
Như vậy, qua
biến cố chết đi, Đức Kitô thông hiệp với trung tâm của tạo vật,
dù là tội lỗi: Ngài không còn bị giam hãm trong giới hạn của thể
xác; cả vũ trụ làm như đã trở thành thân mình Ngài; và như thế,
Đấng Cứu độ có thể giải phóng hết mọi tạo vật. Xuống âm phủ là
Đức Kitô giải phóng toàn bộ lịch sử loài người, tước đoạt lợi
phẩm của thần Tội và thần Chết (x. 1Cr 15:54-56); thế là công
cuộc cứu chuộc trọn vẹn thành tựu (x. Ep 4:9-10). Đức Kitô cứu
rỗi loài người qua đường lối liên đới: mặc lấy thân phận người
phàm để cứu người phàm; mặc lấy thân phận kẻ chết để cứu các kẻ
chết. Qua hình ảnh xuống ngục và lên trời, đức tin
tỏ ra Đức Kitô đã phá hoại sự chia rẽ: trời-đất-ngục; Ngài giải
phóng tất cả, hòa giải tất cả, liên kết tất cả nơi Ngài.
Rốt cuộc, dù
được biểu đạt bằng ngôn ngữ có vẻ thần thoại và tối nghĩa, thì
tín điều này cũng hùng hồn nêu bật phổ quát tính của công trình
cứu độ, và việc Đức Kitô hằng cống hiến cho mọi người cơ hội đón
nhận ơn thánh (x. 1Pr 4:6). 1Pr 3:19 ghi rằng Đức Kitô “giảng
cho các pneumata bị giam cầm”; mà pneumata thì có
thể hiểu là các vong linh hay là các quỷ thần. Nếu hiểu là “quỷ
thần” thì Đức Giêsu đã loan báo cho chúng biết Đấng Cứu tinh đã
tước hết quyền của chúng, chúng không còn có hy vọng gì nữa (x.
2Pr 2:4; Gđ 6). Cuối cùng, bản văn Kinh Thánh này cũng được dùng
để củng cố giáo thuyết apokatástasis, “phục nguyên vạn
vật.”
1Pr nói về các
tội nhân; nhưng, khi trình tả các hiện tượng xảy ra lúc
Đức Giêsu chết và việc những người sống lại, Mt 27:52tt ghi là:
“các vị thánh đã an nghỉ được chỗi dậy.” Ý nói là các
thánh thuở xưa chỉ được hưởng ơn cứu độ nhờ Đức Kitô và sau khi
được cứu chuộc, nghĩa là cùng lúc với các kitô hữu (x. Dt
11:39-40; 12:23).
* * *
Trước biến cố
thập giá, dù suy đi nghĩ lại, bao nhiêu câu hỏi tại sao?
vẫn còn đứng thách đố trí khôn và lòng tin. Lúc đầu các tông đồ
cũng chỉ biết nói: “Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết
trước, Đức Giêsu ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ
đóng đinh Ngài vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm
cho Ngài sống lại, giải thoát Ngài khỏi những đau khổ của cái
chết” (Cv 2:23-4). Thập giá được cấu tạo bởi hai cây gỗ: cây dọc
là lòng thương xót của Thiên Chúa, và cây ngang là tội lỗi chúng
ta. Kết quả là Con Người bị ám sát và con người được cứu rỗi.
Kitô hữu phải
cố gắng đồng nhất hóa với Ðức Kitô, phần nào có thể; thập giá là
biểu tượng chung cấu tạo căn tính của chúng ta: làm giấu Thánh
Giá khi bắt đầu và kết thúc mọi sự, khi ăn cơm hoặc đi ngủ, khi
ban phép lành hoặc lúc cầu nguyện, v.v. Nhà thờ, phòng hội,
v.v., đều có thánh giá là giấu hiệu Kitô giáo. Ước chi chúng ta
bắt chước thánh Phaolô, mà “không muốn biết gì khác ngoài Đức
Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá” (1 Cor 2:2).
Suy
Tư Thần
Học
Đức Giêsu chết,
và nhất là chết trên thập giá, tiết lộ việc Ngôi Con Thiên Chúa
tự hạ mình xuống trở thành con người phàm, hơn nữa mặc lấy thân
phận của một nô lệ phải chết, và phải chết nhục nhã trên thập
tự. Thánh Phaolô trình bày mầu nhiệm “hư không hóa” trong thư Pl
2. Sự việc Ngôi Lời tự hư không hóa đã đặt thần học trước yêu
cầu phải thay đổi cách quan niệm về Thiên Chúa. Đã đành, bất cứ
cách quan niệm nào về Thiên Chúa thì cũng đều bất toàn và cần
được bổ túc bởi những hiểu biết về các khía cạnh khác. Mầu nhiệm
nhập thể làm cho thấy ý niệm “bất biến” về Thiên Chúa cần phải
được bổ túc bằng ý niệm “trở thành.” Thêm nữa, nếu chỉ có thể
biết Thiên Chúa cách chính xác qua Đức Kitô, thì Thiên Chúa
đối với chúng ta xuất hiện như là một Đấng Thiên Chúa có
những đổi thay.
Mầu nhiệm
kénosis (tự hủy) cũng dạy cho biết về những thuộc tính sâu
thẳm nhất của Thiên Chúa là tự do và tình yêu. Tự do của Thiên
Chúa nhập thể đã diễn tiến ra trong lịch sử qua sứ mệnh
hoặc tác vụ để Ngài thành tựu chính mình. Vì vậy, dù vốn dĩ là
Thiên Chúa, Đức Kitô cũng đã phải đi qua sự sống lại để “trở
thành” Chúa (x. Cv 2:36); dù vốn là hoàn hảo, Ngài cũng đã phải
đi qua cuộc tử nạn để trở nên hoàn hảo (x. Dt 5:8-9). Dung mạo
qua đó Thiên Chúa lộ hiện với chúng ta là như vậy.
Tình yêu làm
cho Thiên Chúa tự giới hạn chính mình. Tạo dựng con người tự do
là một phần nào đó Đấng Tạo hóa đặt tự do của mình vào trong
tình trạng bị giới hạn bởi tự do thọ tạo. Và như thế, tạo vật tự
do có thể chối bỏ Người, ám sát Người, xua đuổi Người ra khỏi
các hệ thống chính trị, văn hóa, đạo đức học, tôn giáo, v.v.
Nhưng vì quá yêu thương con người, Thiên Chúa đã không phản ứng,
không tự vệ, không cứu Con mình cho khỏi thập giá.
Giáo hội cũng
cần phải áp dụng quy luật hư không hóa cho chính mình. Trong Tân
Ước, các bản văn nói về mầu nhiệm này đều đọc thấy ở trong văn
cảnh khuyên nhủ và khích lệ: Đức Kitô được giới thiệu như là mẫu
gương để bắt chước. Thư Do thái khuyên: “Ta hãy ra khỏi trại mà
đến với Ngài, cam lòng gánh vác nỗi khổ nhục Ngài đã chịu” (Dt
13,13). Nếu là “bộ mặt” của Đức Kitô ở giữa thế gian (x. LG 1;
15; GS 43), ắt Giáo hội phải tự giới thiệu bằng cách sống hệt
như Thầy mình đã làm ở trong xã hội của Ngài. Hơn nữa, Giáo hội
được xây dựng qua Thánh thể, là hy lễ qua đó, Đức Kitô tự hư
không hóa đến tột độ: Ngài trút bỏ hết mọi sự, cả đến thân phận
tôi đòi; Ngài đã trở nên “một sự vật” để phục vụ mọi người, và
giữ im lặng tuyệt đối. Do vậy, là thân của Đầu, Giáo hội càng có
bổn phận phải đồng nhất hóa chính mình với nghĩa cử tự hư không
hóa của Đức Kitô.
Con đường tự
hủy này cũng là con đường mỗi môn đồ, mỗi kitô hữu phải dấn bước
vào. Thánh Phaolô khuyên các tín hữu “hãy bắt chước tôi như tôi
bắt chước Đức Kitô” (1Cr 11:1; x. 4:16; Ep 5:1; Pl 3:17), và coi
mình như người bị đóng đinh (x. Gl 2:19; 6:14, v.v.). Quả thế,
kitô hữu là người đã “chết” cho thế gian (x. Cl 2:20; 3:3; Rm
6:8, v.v.) và đã cùng chết với Đức Kitô trên thập giá (x. Rm
6:6; Gl 5:24). Thời xưa cũng như thời nay, trong cũng như ở
ngoài Giáo hội, ít có ai chịu đón nhận “Tin mừng” nghe ra chướng
tai như thế, bởi nó buộc phải khiêm hạ để trút bỏ đi ảo tưởng về
một Giáo hội vinh quang, về một vương quốc Thiên Chúa thành tựu
ngay ở dưới đất này. Con đường tự hủy ấy cũng là con đường của
lề lối hoạt động tông đồ (x. 1Cr 1:17tt; Ph 3:10, v.v.). Các
chuyên viên soạn thảo phương án mục vụ ít khi thấy hứng thú để
áp dụng lề lối ấy. Duy chỉ các thánh mới tin và áp dụng lề lối
của Đức Kitô. Thế mà, chính con đường tự hủy ấy là con đường
ngắn nhất đưa mọi người đến gặp gỡ với Đức Kitô, bởi nơi nào có
khổ đau, bần hàn, thì ở đó có Ngài.
Cuối cùng, con
đường hư không hóa này tuyệt đối không phải là một dạng của thói
khoái chịu khổ bệnh hoạn, hay là một cách biểu hiện thái độ
ngưỡng mộ mù quáng trước ‘cái’ vô lý; trái lại, đó chính là năng
động lực của thực tế: duy chỉ những ai chịu chết (với người cũ)
thì mới có thể sống lại (thành người mới). Lề lối hư vô hóa là
một con đường chứ không phải là một mục đích, là
phương pháp để cứu vớt nhân loại khốn cùng, vì chỉ có tình yêu
mới dám sẵn sàng quên mình, bỏ mình, mới có thể cứu độ xã hội
loài người.

Trở về
"Mục Lục"
|
|