|

KINH TIN KÍNH

NGÀI SỐNG
LẠI
|
Ngày thứ ba bởi trong kẻ
chết mà sống lại. Lên trời,
ngự bên hữu Đức Chúa
Cha phép tắc vô cùng. Ngày sau bởi trời lại
xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.
|
Ngày
thứ ba Người sống lại đúng như lời Thánh Kinh.
Người lên trời ngự bên hữu Chúa Cha.
Và
Người sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và
kẻ chết, triều đại Người sẽ vô cùng vô tận.
|
Với câu này,
Kinh Tin Kính đạt tới trọng tâm của đức tin vào Chúa Kitô: tất
cả những tín điều tuyên xưng về Đức Giêsu đều gắn chặt với chân
lý này. Nếu loại trừ biến cố phục sinh đi, thì không thể hiểu
được, cách hợp lý, sự kiện xuất hiện và đà triển phát của Kitô
giáo. Sinh thời dương thế, Đức Giêsu đã cho thấy Ngài coi bản
thân và sứ mạng mình như là một; vì thế, khi Ngài bị giết chết –
và chết trên thập giá! – chương trình của Ngài, nhóm môn đồ cũng
như mọi dự án liên quan đến Ngài đều xem như tan biến hết. Thế
mà ít năm sau những tai ương ấy, lịch sử cho thấy “phong trào
kitô” nhân danh Ngài lại bừng lên và triển phát rất thịnh vượng.
Sau ngày thứ
sáu ấy – ngày Đức Giêsu chịu tử nạn – nhóm môn đồ đã tản mát ẩn
trốn mất hút vì sợ người Do thái (x. Mc 14:50; 16:11; Ga 20:19).
Nếu họ đã đặt niềm tin vào Ngài, đã ước mong một điều gì, thì
thập giá cũng đã làm cho tiêu tán tất cả như mây khói, cũng đã
biến tất cả thành ảo tưởng: họ không còn hy vọng gì nữa cả (x.
Lc 24:21). Là những người ít học, không có địa vị trong xã hội,
đến từ một miền quê xa... thế nên, vắng Thầy là họ trở thành bơ
vơ, tán loạn, chẳng biết xoay xở như thế nào (x. Cv 4:13). Lịch
sử biết đến một số trường hợp tương tự như thế trong thời ấy:
lãnh tụ bị giết là những kẻ a tòng liền tan rã, phong trào cũng
biến mất (x. Cv 5:34tt).
Thế nhưng, các
môn đồ của Đức Giêsu vẫn còn. Một dữ liệu lịch sử chắc chắn là
chỉ ít năm sau khi Đức Giêsu chịu chết, Giêrusalem đã chứng kiến
sinh hoạt của nhóm tín hữu tin vào Ngài: họ rao giảng và kiên
vững làm chứng – trong tư thế là những chứng tá đã thấy tận mắt,
nghe tận tai – về Ngài, về sự việc Ngài đã sống lại và đang
sống, v.v... dù có phải chịu đòn vọt, tù đày và giết chết. Ngoài
ra, họ còn nói rõ về kinh nghiệm tác động của Thần Khí làm việc
ở trong họ, đổi mới họ... rồi nhân danh Đức Kitô, họ tụ họp
thành một cộng đoàn – Giáo hội – với nghi thức phụng tự riêng,
và cho đến nay, 20 thế kỷ sau, đức tin ấy vẫn tiếp tục tồn tại
nguyên vẹn. Có thể tóm lược như sau về sự việc “đổi mới” ấy:
nhóm môn đồ đã trở thành tông đồ, những người tin theo một vị
Thầy (Giêsu) đã trở thành nhân chứng của Đấng Thiên sai, vốn là
người Do thái (giáo), nhưng nay họ đã trở thành kitô hữu, nhóm
người Do thái, môn sinh của một Rabbi, nay đã trở thành
ekklesia, Giáo hội. Họ tin vững rằng chính kinh nghiệm về
Đức Kitô phục sinh đã làm cho nẩy sinh nên lòng tin cá nhân nơi
mỗi người trong họ, cũng như sứ điệp cộng đồng họ loan báo. Điều
gì đã xảy ra?
Không ai đã tận
mắt chứng kiến biến cố sống lại; dù có xưng là “nhân chứng” của
sự việc Đức Kitô sống lại (x. Cv 2:32; 3:15; 5:32; 10:39), thì
không bao giờ các tông đồ nói là các vị đã có mặt ở bên mồ lúc
biến cố xảy ra. Trái lại, chỉ các ngụy thư mới dám ‘cả gan’ miêu
tả – cho thỏa mãn tính tò mò bẩm sinh của con người – Đức Kitô
lúc Ngài sống lại, đi ra khỏi mồ.
Để làm sáng tỏ
vấn đề, thì thử hỏi: Các môn đồ của Đức Giêsu đã hiểu và đã tin
những gì lúc Thầy mình còn sống cuộc đời dương thế?
Mt 16:16 ghi
lại lời tuyên xưng của Phêrô: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa
hằng sống”; nhưng các văn bản song song Mc 8:29 và Lc 9:20 thì
không ghi vế: “Con Thiên Chúa,” vì thế, các nhà chú giải nghĩ
rằng Matthêu đã lấy lại một công thức đức tin của thời hậu Phục
sinh. Chính Matthêu cũng đã ghi lại trong câu 14:33, một lời
tuyên xưng của các môn đồ: “Quả thật Thầy là Con Thiên Chúa,”
nhưng tiếp theo đó, không thấy Đức Giêsu lên tiếng khen các ông
như Ngài đã khen Phêrô (x. Mt 16:17); và nếu lời tuyên xưng qua
câu Mt 14:33 đã được nói lên trước, thì câu trả lời của Phêrô
trong Mt 16:16 sẽ không còn phải là lời tuyên xưng đầu tiên, và
không đáng được Phúc Âm cẩn trọng nêu bật đến như thế. Xin ghi
ra đây một vài thí dụ giúp cho hiểu về phương pháp hành văn của
các tác giả Phúc Âm: khi trình thuật những biến cố trước Phục
sinh, các vị thường ghi kèm thêm những ý nghĩa mà các vị chỉ ý
thức ra được một khi Đức Kitô đã sống lại, nhờ ánh sáng Phục
sinh và ơn của Thần Khí sau ngày Lễ Hiện xuống. Phương pháp này
còn lộ hiện rõ hơn trong Phúc Âm thánh Gioan, đã được ngài biên
soạn theo dạng thức biện chứng “đức tin – vô tín.” Vì thế, ngay
từ đầu, Phúc Âm thứ tư đã ghi lại nhiều lời tuyên xưng thật là
rõ ràng; thí dụ Ga 1:49; 6:69; 16:30; v.v...
Khi sinh hoạt
với Đức Giêsu, các môn đệ không đặt vấn đề theo cách kiểu trí
thức: họ không tự hỏi Thầy mình có phải là “Thiên Chúa” hay
không, bởi họ không thể nào ngờ được Thầy mình là Thiên Chúa!
Lòng tin của họ đã không có được một nội dung rõ ràng, bởi đó
chỉ là một thái độ hiện sinh, tức là chỉ biết đặt hết tin tưởng
vào Thầy mình một cách vô điều kiện. Họ đã biết Ngài và tin vào
Ngài, bỏ mọi sự vì Ngài và để theo Ngài: đó là hạt giống đức tin
sẽ triển nở và mọc lên sau biến cố Phục sinh. Nếu họ nhìn nhận
Đức Giêsu chỉ đơn thuần là Đấng Thiên sai, thì chắc hẳn họ đã
hiểu lầm; tuy nhiên, không phải là chuyện lạ, vì tâm trí họ còn
quá mù tối, thế tục.
Tuy nhiên, hạt
giống đức tin ấy cần phải có nội dung khách quan. Lời nói và
việc làm của Đức Giêsu chính là nội dung ấy: những lời nói và
việc làm mà các môn đồ ghi nhớ nằm lòng, và đã trở thành mầm
giống của đức tin sau Phục sinh. Xin được kể ra đây một số:
1). Thái độ của
Đức Giêsu đối với Lề Luật Thiên Chúa: chỉ có thể hiểu được nếu
Ngài biết rõ ý Thiên Chúa một cách chắc chắn và trực tiếp. Đặc
biệt là thái độ đối với ngày Sabát: “Ngày Sabát được làm ra vì
con người, chứ không phải con người vì ngày Sabát. Bởi đó, Con
Người làm chủ luôn cả ngày Sabát” (Mc 2:27-28). Về Đền thờ, Đức
Giêsu cũng đã đưa ra một lời xác định đầy ý nghĩa: “Ở đây còn
lớn hơn Đền thờ nữa” (Mt 12:6).
2). Đức Giêsu
hiểu về sứ mệnh của Ngài một cách khác hẳn với “dư luận” Do
thái, khác cả với truyền thống của Ítraen nữa. Ngài không theo
đường lối của một “phái đảng” nào (Biệt phái, Sađóc, Nhiệt
tình); như thế nghĩa là Ngài có một sứ mệnh hoàn toàn cá biệt và
đặc thù. Ngài biết rõ cung cách Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử
(x. Mc 13:1tt; Lc 17:20-21; Ga 9:2-3; v.v...), tựa như Ngài có
tương quan trực tiếp với chính Thiên Chúa.
3). Hết sức
quan trọng là sự việc Đức Giêsu gọi Thiên Chúa bằng danh hiệu
abba, “ba” (x. Mc 14:36); các môn đồ không thể không ngạc
nhiên khi nghe xưng hô như thế, và quả thật họ đã không quên
điều mạc khải trọng đại đó (x. Rm 8:15; Gl 4:6).
4). Đức Giêsu ý
thức mình được sai đến để hòa giải những tội nhân và tha thứ mọi
tội lỗi (x. Mt 11:4t; Mc 2:5-12,13-17; Lc 15; v.v...), ngoài sức
tưởng tượng của dân chúng và các luật sĩ.
5). Đức Giêsu
biết mình là “Đấng phải đến” (Mt 11:3t; Lc 4:18t; 10:23-24), là
“Con vua Đavít,” Đấng “Thiên sai,” dù chưa chắc Ngài hiểu rõ ý
nghĩa của các tước hiệu ấy (x. Mt 21:1tt; 22:41tt).
6). Sứ điệp của
Đức Giêsu không nói về “thế giới tương lai” như các thầy Rabbi
khác trong thời ấy, mà là về “vương quyền của Thiên Chúa.” Hơn
nữa, Ngài đóng giữ vai trò quyết định ở trong “Nước Thiên Chúa,”
đến độ vương quyền ấy quả đã thực sự hiện diện ở nơi Ngài rồi
(x. Mt 12:28; Mc 4:11; Lc 17:21).
7). Bữa tiệc ly
đã ghi lại trong tâm khảm các môn đệ một kinh nghiệm sâu đậm,
khi họ nghe Thầy mình nói về “giao ước mới,” về cuộc tử nạn Ngài
sắp trải qua cũng như về ý nghĩa của biến cố ấy. Chắc hẳn, thay
vì xóa mờ đi, thì ngược lại những thử thách của cuộc thương khó
càng bền chắc ghi khắc những kỷ niệm đó vào sâu trong tâm khảm
của các mộn đệ.
8). Cuối cùng,
hẳn nhiều chi tiết trong đời sống Đức Giêsu đã không thể không
khiến các môn đồ phải suy nghĩ. Trước hết là các phép lạ, việc
trừ quỷ, cách nói năng giảng dạy có “uy thế.” Vậy, Ngài là ai?
Một ngôn sứ? — Hẳn là hơn. Đấng Thiên sai ư? — Có lẽ còn hơn thế
nữa. Bởi còn hơn cả Salômon (x. Mt 12:42), hơn cả Đavít (x. Mt
22:45), hơn Đền Thờ (x. Mt 12:6), và hơn cả Luật về ngày Sabát
(x. Mt 12:8). Những bậc “hơn” đó là như những bậc thang đưa dẫn
các môn đồ bước dần lên tới căn tính đích thực của Thầy mình.
Cái gì đã làm
cho họ hiểu? Thưa: Biến cố Phục sinh. Biến cố ấy là như ánh sáng
soi dẫn cho họ nhận ra những điều họ hằng nhìn mà không thấy.
Bấy giờ mọi sự đều có ý nghĩa, vì họ nhìn với “con mắt đức tin,”
chứ chẳng phải họ đã bịa đặt ra những biến cố ấy. Các học giả đã
giải thích như sau:
Đối với các
tông đồ, Tin Mừng mà thiếu đi biến cố Phục sinh thì chẳng những
là một Phúc Âm cắt cụt, mà thực ra không phải là Tin Mừng gì cả.
Kerygma – sứ điệp của Thiên Chúa – có đứng vững hay không
là tùy ở tâm điểm của nó, tức là tùy ở sứ điệp Phục sinh. Sự
việc Đức Kitô sống lại là điều kiện tiên quyết để Giáo hội có
thể xuất hiện, là căn nguyên của niềm tin đặc thù kitô giáo vào
Thiên Chúa, cũng như của mối quan tâm Kitô giáo có đối với đời
sống con người ở thế giới này. Nếu có một khâu trong chuỗi dài
các sự kiện để chịu toàn bộ sức nặng của cả dây xích đang treo,
thì, theo Tân Ước, khâu ấy chính là biến cố Sống Lại. Hiện nay,
đại đa số các nhà chú giải đều đồng ý là Kitô học của Tân Ước đã
khởi phát và hình thành từ niềm tin của các môn đệ, hằng kiên
quyết tuyên xưng rằng Đức Giêsu, người đã bị đóng đinh, nay đã
được Thiên Chúa cho sống lại từ cõi chết.
Tắt một lời, có
thể coi biến cố Sống Lại như là dấu cộng (+) hay dấu trừ (–) đặt
trước một biểu thức: nó không thuộc về công thức nhưng lại đổi
hết số trị; đối với toàn bộ cuộc đời và sứ mạng của Đức Giêsu,
biến cố Sống Lại cũng giữ một vai trò tương tự như thế: là làm
cho tất cả mang ý nghĩa tràn đầy, hay trở thành phi lý, vô ích.
Nhưng, thực sự biến cố Sống Lại đã mang lại ý nghĩa tràn đầy cho
tất cả!
Đức Kitô
Đã Sống
Lại Thật
Nghiên cứu về
biến cố Phục sinh là một việc làm hết sức phức tạp. Không dễ mà
chứng minh; phủ nhận thì xem ra hiển nhiên hơn; thuyết phục cho
tin nhận thì đó là do ơn của Thần Khí Thiên Chúa. Trước hết, cần
phải ý thức rõ đó là một mầu nhiệm, và vì thế hàm chứa một nội
dung vô tận. Thánh Tôma Aquinô đã có dịp nhận định như sau:
“Viết về mỗi
phép lạ và lời nói của Đức Giêsu Kitô có nghĩa là phải giải
thích tầm quan trọng của mỗi lời và mỗi việc. Mà mỗi lời nói,
mỗi việc làm của Đức Kitô thì đều là của Thiên Chúa. Vì vậy, nếu
có ai muốn khai triển hoặc trình bày ý nghĩa của mỗi việc như
thế, thì hẳn là không làm nổi. Còn hơn thế nữa, dù toàn thể nhân
loại cùng làm, thì cũng không thực hiện được việc này, vì những
lời con người có nhiều bao nhiêu mặc lòng thì cũng không bằng
một Lời duy nhất của Thiên Chúa. Từ buổi đầu trong Giáo hội cho
tới nay, bao giờ cũng có những sách viết về Đức Kitô, nhưng vẫn
không đủ. Dù thế giới có còn kéo dài thêm một trăm triệu năm,
thì những cuốn sách viết về Đức Kitô cũng vẫn tiếp tục xuất hiện
mãi; tuy vậy, những lời nói việc làm của Đức Kitô vẫn còn phải
tiếp tục chờ để được giải thích cho đầy đủ thỏa đáng.” (Super
Evangelium Joannis lectio, Torino, 1952, tr. 488).
Những Chứng Tá Về Sự Việc Đức
Kitô Sống Lại
Để
củng cố niềm tin đối với biến cố Phục sinh, hiện chỉ còn một
cách duy nhất là nghiên cứu các văn bản Kinh Thánh. Văn bản xưa
nhất là các thư của thánh Phaolô. Thử xem thánh tông đồ đã nói
gì về vấn đề này.
Năm
50, Phaolô đã giảng đạo và sáng lập cộng đồng Thêxalônica. Vì
người Do thái gây phiền phức, ngài đành phải ra đi. Và năm sau
đó, ngài đã viết thư cho cộng đồng này, gồm những kẻ đã bỏ ngẫu
tượng để sống trong niềm trông đợi Đức Giêsu “mà Thiên Chúa đã
cho chỗi dậy từ cõi chết” (1Tx 1:10; công thức này được dùng lại
trong câu Rm 10:9). Trong câu 1Tx 4:14, tác giả nhấn mạnh đến
điểm quan yếu cần phải tin là các tín hữu đã chết sẽ sống lại;
lý do là vì “chúng ta tin rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống
lại.” Trong câu trước, “Thiên Chúa” làm chủ từ, còn trong câu
tiếp ngay sau, “Đức Giêsu” làm chủ từ. Điều đáng lưu ý là ngay
trong thời ấy mà niềm tin vào biến cố sống lại đã xem ra hoàn
toàn hiển nhiên trong một cộng đoàn Hy lạp.
Bản
văn quan trọng nhất là 1Cr 15. Thư được viết khoảng năm 56, nhân
vụ tranh luận giữa một nhóm trong cộng đồng, về sự sống lại nói
chung, không được rõ về chi tiết. Trọng điểm của chương thư nằm
không những ở lời xác quyết về sự kiện Đức Giêsu đã sống lại, mà
còn ở việc Phaolô nêu rõ chính mình là nhân chứng của sự kiện
ấy. Làm như để minh bạch ghi lại lời tuyên tín chính thức về
giáo điều này, vị tông đồ đã dùng đến công thức sau đây (1Cr
15:3-5):
“Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã
lãnh nhận, đó là:
1. a)
[1] Đức Giêsu đã chết [2] vì tội lỗi chúng ta [3] đúng như lời
Kinh Thánh,
b) Rồi Ngài đã được mai táng,
2. a)
[1] và đã được thức dậy [2] ngày thứ ba [3] đúng như lời Kinh
Thánh,
b) và Ngài hiện ra với Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai, sau đó,
Ngài đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy
phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến,
Ngài đã hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả các tông đồ; sau
hết, Ngài cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa
trẻ sinh non.”
Sức
thuyết phục của lời chứng này là ở chỗ chính Phaolô xác quyết
mình đã tận mắt gặp thấy Đức Giêsu, lại còn nêu đích danh nhiều
nhân chứng khác mà bất cứ ai cũng có thể chất vấn. Trực tiếp,
Phaolô muốn dựa vào sự việc (vì) Đức Kitô đã sống lại (x.
1Cr 15:20.22; Cl 1:18) để minh chứng việc kẻ chết sống lại. Xin
phân tích công thức trên đây:
Công
thức triển khai theo nhịp 3 (1a và 2a) + 1 (1b và 2b) và như thế
là để cho dễ nhớ: có lẽ đã được trích từ một “Sách Giáo Lý”
sơ khai, mang truyền thống tính. Nếu phát nguyên từ gốc Do
thái-Hy lạp, thì chắc hẳn công thức đã được Phaolô thâu thái tại
Antiôkia khoảng năm 40/42; nếu phát nguyên từ gốc Paléttin, thì
công thức đã được Phaolô gặp thấy tại Giêrusalem, năm 35. Dựa
vào nhóm từ “ngày thứ ba,” có người cho rằng công thức ấy đã
phát nguyên từ Giêrusalem, bởi lẽ chỉ ở tại Giêrusalem, nhóm từ
này mới nói lên được ý nghĩa đầy đủ. Văn thể mang phong cách Do
thái, tức theo lối cấu trúc song song, gồm các vế đối chiếu nhau
với ý nghĩa tương tự.
Câu
1a và 2a đều khẳng định ba điểm
([1],
[2], [3] tương ứng với nhau: một sự kiện (
[1], ý nghĩa cứu độ của nó(
[2], và bằng chứng Kinh Thánh [3]. 1b và 2b cũng là những sự
kiện làm bằng cho 1a[1] và 2a[1]: “Mai táng” minh chứng Đức
Giêsu “đã chết,” và “hiện ra” minh chứng Ngài “đã được thức
dậy.” Điều này cho thấy Phaolô quan niệm các cuộc hiện ra như là
những sự kiện (như việc “mai táng” là một sự kiện lịch sử), chứ
không như là những cảm tưởng hoặc kinh nghiệm huyền bí (cho dù
có thể có hiện tượng huyền bí đi liền với sự kiện ấy). Và như
Đức Giêsu “đã chết” (1a[1]), thì cũng vậy, Ngài “đã sống lại”
(2a[1]): hai chân lý tương ứng với nhau. Cũng nên lưu ý đến một
chi tiết khác nữa, đó là: động từ “đã chết” (apéthanen) ở
thời bất định (aoristo), còn động từ “đã sống lại”
(egếrgetai) thì lại ở thời hoàn thành. Theo văn phạm Hy lạp,
thời bất định nói lên ý nghĩa chỉ về một biến cố đã xảy ra trong
quá khứ mà thôi, còn thời hoàn thành thì chỉ đến một biến cố quá
khứ với kết quả vẫn còn tiếp tục, nghĩa là Đức Kitô đã sống lại
và vẫn còn đang sống. Đối với Phaolô, các cách nói ‘xuống mồ’ và
‘ra khỏi mồ’ không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa thông thường, mà
còn gồm hàm một tầm trọng yếu về mặt thần học nữa: trong các câu
Rm 6:3-4, tác giả so sánh phép Rửa (chìm vào nước, ra khỏi nước)
với sự việc mai táng và sống lại của Đức Kitô. Công thức này
không những tuyên xưng Đức Kitô đã sống lại, mà còn liệt kê ra
cả một chuỗi biến cố liên tiếp đã xảy ra: chết, mai táng, sống
lại, hiện ra, rồi xác định thêm rằng các điều đó đã xảy ra là để
ứng nghiệm lời Kinh Thánh.
Phaolô quan niệm như thế nào về việc hiện ra? Tông đồ quả quyết
mình “đã thấy Đức Giêsu, Chúa chúng ta” (1Cr 9:1), và hẳn là
hiểu Ngài đã sống lại theo thể xác, vì trọn cả chương 1Cr 15 bàn
luận về việc “thể xác sống lại,” một thể xác thật, tuy nhiên
không phải là “vật lý” đơn thuần, song là mang tính chất Thần
Khí lạ thường (x. 1Cr 15:44). Trong câu 15:5, tác giả dùng từ
ophthê theo tặng cách: “đã hiện ra với,” giống như đọc thấy
ở nhiều chỗ khác trong Tân Ước. Trong câu Gl 1:16, tông đồ dùng
từ “mạc khải,” một động từ ít “vật chất” hơn so với từ “hiện
ra”. Nhưng, nếu “hơn 500 anh em” đã thấy Chúa cùng một lúc, thì
đó hẳn không phải là một hiện tượng thuần túy nội tâm, cá nhân
riêng lẻ.
Dường
như Phaolô đã dựa theo một danh bạ truyền thống để ghi lại tên
và số những người đã thấy Chúa sau khi sống lại. Có thể tác giả
đã có dịp biết đến danh bạ ấy khi đi lên Giêrusalem gặp Kêpha và
Giacôbê (x. Gl 1:18-19). Bản lược kê cũng chia làm hai phần, mỗi
phần gồm ba trường hợp. Trước hết là cuộc hiện ra với Phêrô (hệt
như trình thuật của Lc 24:34): điều này cho thấy vai trò nổi bật
của Phêrô ở trong Giáo hội; những lần khác: không sắp theo thứ
tự thời gian, có lẽ là theo thứ tự lôgíc, và thực sự là như thế
nào thì cũng không biết rõ. Các Phúc Âm không nhắc gì đến
Giacôbê; tuy nhiên, chắc hẳn là vị này đã được Chúa sống lại
hiện ra với; lý do là bởi dù trước biến cố Phục sinh, xem ra đã
không tin vào Đức Giêsu cho mấy (x. Ga 7:5), thì sau đó, Giacôbê
cũng đã trở thành người lãnh đạo số một của cộng đồng
Giêrusalem.
Ngày
thứ ba có nghĩa gì? Không thấy có một chỗ nào ám chỉ đến “ngày
thứ nhất” đối với “thứ ba” này, thế nên, xem ra nhóm từ này chỉ
mang ý nghĩa tượng trưng hơn là chỉ về thời gian. Sứ điệp Tin
Mừng sơ khai (kerygma) đã dùng nhiều đến dữ liệu này (x.
Mc 8:31tt; 9:31tt; 14:58tt; Lc 24:46; Cv 10:40). Hình như dữ
liệu dựa theo một ký ức lịch sử: có lẽ “ngày thứ ba,” tức là
Chúa nhật, ngày các môn đồ (sau các phụ nữ) ra mồ và thấy mồ
trống, hoặc là ngày bắt đầu có những cuộc hiện ra; giả thuyết
này xem ra có thể đứng vững được nhờ vào Mc 16:1-2 là đoạn trình
thuật rất tỉ mỉ về thời gian. Tuy nhiên, chủ yếu là ý nghĩa thần
học. Trong công thức của 1Cr 15, “ngày thứ ba” tương ứng với “vì
tội lỗi chúng ta” là nhóm từ nói lên ý nghĩa cứu độ. Vì thế, Cv
2:27 ghi là: “Chúa chẳng để Vị Thánh của Ngài phải hư nát.”
Thiên Chúa cứu vớt “kịp thời và đúng lúc,” trước khi xác ủng đi.
Chết chôn bốn ngày, nên xác của Ladarô đã ra “nặng mùi” (Ga
11:39). Theo truyền thống Kinh Thánh, “ngày thứ ba” là lúc Thiên
Chúa cứu rỗi (x. Hs 6:1t), như thấy trong các biến cố: Abraham
chuẩn bị sát tế Isaác (x. St 22:4), Giuse trả tự do cho anh em
ông (x. St 42:17t), Giavê xuất hiện với dân Ngài (x. Xh
19:11.16), Đavít nghe tin mừng (x. 2Sm 1:2), vua Hêdêkia được
hồi phục (x. 2V 20:5), étte
bắt đầu cứu giúp Ítraen (x. Et 5:1), Giôna ra khỏi bụng cá (x.
Gn 1:17; 2:10). Nhóm từ này muốn cho thấy là Thiên Chúa trung
thành đối với Đức Giêsu, Tôi trung của Người. Nhà chú giải X.
Léon-Dufour viết: “Khi ám chỉ về ‘ngày thứ ba,’ bản tuyên tín
[Kinh Tin Kính] sơ thời đã không muốn xác định rõ ngày tháng, mà
chỉ muốn gợi ý cho hiểu rằng sự việc Đức Giêsu sống lại là biến
cố then chốt, tức theo đúng nghĩa, đó là biến cố tương tự như
biến cố cánh chung.”
Nhóm
từ “theo Kinh Thánh” cũng không muốn cụ thể trích dẫn hoặc chỉ
về một câu một đoạn nào trong Cựu Ước, mà chỉ trưng dẫn Kinh
Thánh nói chung, coi đó là biểu thức của ý định Thiên Chúa đối
với loài người. Thật ra, không có câu nào trong Cựu Ước nói rõ
về biến cố Đức Kitô phục sinh. Giáo hội trưng dẫn (chẳng hạn
trong Cv 2:27; 13:35) câu của Tv 16:10, nhưng văn bản không nói
rõ cho lắm về biến cố sống lại. Giáo hội luôn tin là Kinh Thánh
nói về Đức Kitô, tất nhiên phải nói về mầu nhiệm phục sinh (x.
Lc 24:27); thế nên, các tác giả đầu tiên đã tra cứu trong hết
các sách Kinh Thánh để xem “biến cố Đức Kitô” ăn khớp như thế
nào với kế hoạch cứu độ.
Tóm Tắt Về Nhân Chứng Phaolô:
Nếu
Đức Giêsu đã không sống lại thật, thì không thể nào hiểu được về
nhân vật lịch sử Phaolô, người thành Tácxô. Thuộc phái Pharisêu
và vốn là người trí thức, ông đã tỏ rõ thái độ ‘thù ghét’ Đức
Giêsu và tất cả những gì có liên hệ đến Ngài; ông thừa biết về
vụ xử quyết Đức Giêsu mấy năm về trước. Thế mà ông đã trở thành
một con người hoàn toàn khác: môn đồ, và còn hơn thế nữa, tông
đồ của Đức Kitô, nhân chứng quả cảm, bất chấp vất vả, khó nhọc,
gian khổ, bách hại, dám dành trọn cuộc đời để làm chứng về Ngài
một cách vô vị lợi (x. 2Cr 4:7tt; 11:22tt); và như thế, chỉ vì
đã được chính Đức Kitô gặp, chọn và sai đi (Gl 1:1. 11). Từ đó,
Đức Kitô hằng sống là ý nghĩa của đời Phaolô, chi phối mọi sinh
hoạt của vị tông đồ (x. Gl 2:20; 6:14-18), và người chỉ sống để
làm chứng cho chân lý sống còn này: Đức Kitô đã chết và đã sống
lại (x. 1Cr 15; Rm 4:24-5; 6:4.9; 7:4, v.v...). Cuối cùng, cũng
chỉ vì chân lý ấy, Phaolô đã hy sinh mạng sống mình tại Rôma.
Các Lần Hiện Ra
Các
Phúc Âm kể lại một số những lần Đức Kitô phục sinh tìm gặp lại
những người bạn đã từng sống với Ngài trước cuộc tử nạn Núi Sọ,
thường được gọi là những lần hiện ra.
Trong
Phúc Âm, các cuộc hiện ra là những bằng chứng then chốt về biến
cố Đức Kitô phục sinh; có lẽ vì thế mà, như trong bất cứ cuộc
gặp gỡ “mắt thấy tai nghe” nào khác (x. Mt 13:16), các bản văn
thường dùng những từ “thấy” và “nghe”. Matthêu dùng động từ
horáo, “thấy”: như khi các bà “thấy” mồ (x. Mt 28:6), các
môn đồ “thấy” Chúa (x. Mt 28:7.10.17). Máccô dùng động từ
horáo (x. Mc 16:7) hoặc theáomai (x. Mc 16:14), tức
“nhìn thấy.” Luca dùng động từ là ophthê (x. Lc 24:34),
có nghĩa là “được thấy,” “làm cho họ thấy,” tựa như Phaolô viết
ở trong 1Cr 15:5.8. Gioan cũng dùng từ horáo,
đọc thấy trong câu nói của Maria Mácđala: “Tôi đã thấy Chúa!”
(Ga 20:18; x. 20:24.25.29). Có nhiều dạng trong cách nói này:
khi nhấn mạnh đến hoạt động giác quan của con người thì dùng
horáo (thấy) trong dạng chủ động; khi nêu bật hoạt động của
Thiên Chúa, thì dùng óphthê, trong dạng bị động hay dạng
trung. Có điều đáng chú ý là không bao giờ các cuộc hiện ra này
được gọi bằng từ hórasis,
(x. Cv 2:17), hoặc optasía (x. Lc 1:22) có nghĩa là “thị
kiến.” Khi nói về những thị kiến của mình (x. 2Cr 12:1tt), không
bao giờ Phaolô bao gồm luôn những lần ngài tận mắt nhìn thấy Đức
Kitô; không có thị kiến về Đức Kitô, hay nói cách khác, những
thị kiến và những lần gặp thấy Đức Kitô phục sinh là hai kinh
nghiệm khác hẳn nhau.
Lối
ghi chép các truyện thuật này là lối trộn lẫn; không ai đã có
thể phối hòa chúng cho thỏa đáng được, về mặt nơi chốn cũng như
về mặt thời gian. Đức Kitô đã hiện ra bao nhiêu lần? Trong 1Cr
15, thánh Phaolô kể ra sáu lần: trước tiên là với Phêrô – xét vì
địa vị Phêrô đóng giữ ở trong cộng đồng Giáo hội – và cuối cùng
là với chính Phaolô. Là những chứng nhân chính thức hàng đầu,
nên Nhóm Mười Hai đã được các nguồn truyền thống đặc biệt nêu
bật trong những lần hiện ra tại Giêrusalem (x. Lc 24; Ga 20; Mc
16:9-20) cũng như tại Galilê (x. Mt 28; Ga 21; Mc 16:1-8).
Phaolô cũng thuật lại tương tự, nhưng không nói rõ sự việc đã
xảy ra tại nơi nào; Phaolô (x. 1Cr 15:8) cho biết lần Đấng Phục
sinh đã hiện ra với mình là “lần cuối cùng”; như thế là vì nếu
cuộc hiện ra này đã xảy ra vào khoảng năm 35, và thư 1Cr đã được
viết vào khoảng năm 56, thì Phaolô không thấy có hoặc không biết
đến một cuộc hiện ra nào khác sau năm 35. Tân Ước nêu bật tính
cách có một không hai của giai đoạn khai sơ Giáo hội: Gioan phân
biệt giữa những ai đã tin vì thấy và những ai đã tin dù không
thấy (x. Ga 20:29).
Dù
sao, Tân Ước cũng bảo lưu một truyền thống độc lập khác nhắc đến
sự việc Đức Giêsu phục sinh hiện ra với các phụ nữ. Phaolô không
đề cập đến điểm này, có lẽ vì qua danh sách ghi trong 1Cr 15,
tác giả chỉ muốn kể ra nhũng nhân chứng chính thức theo Luật Do
thái, tức là các tông đồ và môn đồ; phụ nữ không có quyền làm
chứng tại tòa. Mc 16:8 làm như là phủ nhận sự việc các phụ nữ đã
thấy Chúa; Luca không nói gì; Gioan chỉ nói đến Maria Mácđala;
còn Mt 28:9-10 thì trình thuật rõ về việc một nhóm nhỏ các phụ
nữ đã đến mồ sáng ngày “thứ nhất trong tuần” và đã thấy Chúa (x.
Mt 28:1.9-10). Quả là các cuộc “thấy Chúa phục sinh” như thế đã
phải xảy ra thật, bởi vì trong hoàn cảnh văn hóa Do thái thời
bấy giờ, các thánh sử khó có thể bịa đặt ra được những chuyện
“tày trời” như thế.
Từ
các trình thuật về sự việc Đức Kitô phục sinh hiện ra, có thể
rút tỉa được những kết luận nào? Trước hết, tình trạng hỗn tạp,
không thống nhất của các bản văn cho thấy rõ lòng trung thực của
các tác giả, không tìm cách để phối hòa các nguồn dữ liệu truyền
thống, mà chỉ chu đáo tiếp thu và cẩn trọng ghi lại những gì đã
tìm biết được. Điều mà các tác giả chủ yếu nhắm tới là làm chứng
cho một biến cố duy nhất, quan trọng nhất: Đức Giêsu mà họ trình
thuật cuộc đời từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, chính là Đấng
quả đã sống lại và đang sống như một số người – đặc biệt là các
tông đồ – đã gặp và đã kiên quyết làm chứng (x. Cv 2:32). Đối
với các chứng tá này, những chi tiết liên quan đến các cuộc gặp
gỡ ấy chỉ có tính cách phụ thuộc. Riêng đối với cá nhân họ, kinh
nghiệm ấy họ gọi là “thấy Chúa”; còn về phía Đức Kitô, họ hiểu
đó là kinh nghiệm “sống lại.”
Tất
cả các trình thuật đồng loạt cho thấy sáng kiến “hiện ra” hoặc
“làm cho thấy” Ngài đều phát xuất từ Đức Kitô, và không bao giờ
nói chi đến kinh nghiệm chủ quan của các môn đồ. Đức Kitô tự do
hiện ra với ai Ngài muốn, chứ không phải với tất cả (Cv 10: 41).
Các trình thuật về “hiện ra” được tổ chức theo hai dạng cấu
trúc. Dạng đầu nhấn mạnh đến sự việc nhận ra Đấng phục sinh, và
nêu bật sự kiện các nhân chứng đều đã gặp cùng một nhân vật, tức
là Thầy của mình trước đây khi Ngài còn sống cuộc đời dương thế
(x. Mt 28:9tt; Ga 20:24tt). Dạng thứ hai nêu cao việc phái gửi
đi, và nói rõ về vai trò làm chứng tá của các tông đồ (x. Mt
28:15-20; Lc 24:36-49; Ga 20:16-23; Mc 16:14-20; Cv 1:4-8).
Nhưng qua các trình thuận về “hiện ra,” bao giờ cũng thấy có
những người nghi ngờ, vẫn không chịu tin (x. Mt 28:17; Mc
16:11.14; Lc 24:11.41; Ga 20:24-29). Thế mới rõ: đức tin là thái
độ chấp nhận hoàn toàn tự do, không bắt buộc được; và khi một
người đã không muốn tin, thì không một bằng cớ nào – dù hiển
nhiên đến mấy – có thể làm cho thay đổi thái độ được. Vả, không
phải hết thảy những ai đã được Chúa hiện ra, đều trở thành tông
đồ, thừa sai, hoặc người sáng lập Giáo hội: hai bạn đi Emmau,
hoặc 500 anh em đọc thấy trong 1Cr 15:6 chẳng hạn, đã không được
Tân Ước nhắc tới nữa.
Mồ Trống
Đoạn
trình thuật về mồ trống đáng được đặc biệt lưu ý tới. Sự kiện
này có mặt ở trong cả bốn Phúc Âm. Trong bài giảng ngày Hiện
xuống (x. Cv 2:27-32), Phêrô đã ám chỉ đến sự kiện mồ trống. Còn
Phaolô thì giả thiết điều đó trong câu 1Cr 15:4 – “mai táng, rồi
sống lại” – và sau này qua hình ảnh so sánh việc dìm tân tòng
vào nước và đưa ra khỏi nước (Phép Rửa) với cuộc mai táng và
sống lại của Đức Kitô (x. Rm 6:3-4).
Hẳn
là truyền thống này độc lập đối với các truyền thống khác về sự
việc Đức Kitô sống lại, và phải phát sinh từ Giêrusalem, vì ở
đấy sự việc này có một tầm trọng yếu hết sức chủ chốt: có điên
tàng lắm thì dám mới đứng lên loan báo và làm chứng về sự việc
sống lại của một người đã chết chôn trong mồ, nếu người ta có
thể thấy được mồ với xác! Mặt khác, không làm sao người Do thái
có thể dựng đứng nổi một chuyện trái ngược đến như thế với “lẽ
thường” của bối cảnh văn hóa họ. Ngoài ra, những người đầu tiên
chứng kiến mồ trống lại là những phụ nữ, tức những người không
được Luật Do thái thừa nhận có quyền làm chứng. Thế nên, nếu
Phúc Âm đã cẩn trọng ghi chép lại, thì là vì sự kiện đó có thật.
Cả đến những kẻ thù cũng không thể phủ nhận được sự việc mồ
trống, chỉ có việc là họ cắt nghĩa theo một cách khác, cho rằng
các môn đồ Đức Kitô đã đến lấy trộm xác Ngài mang đi (x. Mt
28:13).
Có
phải mồ trống là bằng cớ Đức Kitô đã sống lại không? — Không
phải. Bởi sự kiện ấy có thể là kết quả của nhiều nguyên nhân
khác nhau. Tuy nhiên, có lẽ đó là điều kiện cần thiết cho niềm
tin của các tín hữu sơ khai ở Giêrusalem. Thần học coi sự kiện
này là một dấu hiệu – như Ga 20:8 đã muốn ngầm chỉ – giúp cho
hiểu cung cách Thiên Chúa hành động đối với con người: thông
thường và bao nhiêu có thể, Ngài sắp đặt để mọi sự tiến hành
theo kiểu nhận thức của lý trí con người, tức là một cách “hợp
lý.” Vậy, trong sự kiện đó, Léon-Dufour đọc thấy ba biểu tượng:
thứ nhất, tảng đá lăn ra, muốn cho hiểu rằng Đấng Phục sinh đã
thắng thần chết và mở địa ngục ra; thứ hai là sự kiện mồ trống,
tức là muốn chỉ về một khoảng hy vọng vì “Ngài không có ở đây!”
và thứ ba, các băng vải đặt đó cho thấy là không còn thân xác
thông thường để mặc, để che. Sách Giáo Lý của Hội đồng
Giám Mục Pháp viết:
“[mồ
trống] vẫn là dấu chỉ cốt lõi của biến cố phục sinh. Bởi để mồ
trống vắng cách không hiểu nổi, thể xác Đức Giêsu cho thấy rõ là
đã thoát ra khỏi lãnh vực hiện tượng cảm nghiệm được, và khỏi
luật chung phải thối ruỗng. Ở đây, cần phải lưu ý đến khúc quanh
đoạn tuyệt với trật tự thông thường như quen thấy ở giữa thế
gian. Thân thể Đức Giêsu đã trải qua một cuộc biến đổi vĩ đại,
mà toàn thể vũ trụ sẽ trải qua trong thời cánh chung. Mồ trống
làm chứng cho quan hệ nối liền thể xác hay chết của Đức Giêsu
với thân thể vinh quang của Ngài, cho dù có một khoảng cách
triệt để giữa hai thể cách”( số 204).
Tìm Hiểu Đức Tin Vào
Đức Kitô Phục Sinh
Biến
cố Đức Giêsu sống lại không phải là một trong những trường hợp
tương tự cùng thuộc một “loại,” tựa như cái chết của bác Minh
nằm trong “loại” định luật phải chết của hết mọi người, nhưng là
một sự kiện thuộc một “loại” khác hẳn. Biến cố Đức Giêsu sống
lại là sự kiện duy nhất, không phải là một phép lạ tựa như việc
Ladarô hồi sinh, nhưng là một biến cố hoàn toàn mới trong lịch
sử nhân loại và trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa: là một
cuộc sáng tạo mới. Tự bản chất, sự sống lại là đối tượng phải
được tuyên xưng của đức tin. Phêrô loan báo Đức Kitô sống lại
trước toàn dân Ítraen (x. Cv 3:14tt) cũng như trước Thượng Hội
Đồng Do thái (x. Cv 4:10). Phaolô cũng đã tuyên xưng cùng một
niềm tin cho dân Do thái (x. Cv 13:33; 17:3) và trước Thượng Hội
Đồng Do thái (x. Cv 23:6). Philiphê truyền bá Tin Mừng này cho
viên thái giám Êtiôpia (x. Cv 8:35), còn Phaolô thì cho dân
ngoại (x. Cv 17:31). Bất cứ ở đâu và vào thời nào, Giáo hội cũng
như mọi kitô hữu đều có bổn phận phải tuyên xưng niềm tin ấy,
tức phải truyền bá Tin Mừng ấy.
Thần
học nêu bật một số khía cạnh liên quan đến chân lý trên đây:
1)
Chân lý chủ yếu là trước khi chết và sau khi sống lại, Đức Giêsu
vẫn là một, hoặc nói cách khác, Đức Giêsu và Đức Kitô là một.
Như 1Ga 1:1 viết: “Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng
tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã
chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống,”
Đức Giêsu Kitô. Cụ thể hơn, thánh Phêrô đã nói như sau với cộng
đồng Do thái: “Vậy, toàn thể nhà Ítraen phải biết chắc điều này
là: Đức Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt
Người làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô” (Cv 2:36), vì “chính Đức
Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này tất cả
chúng tôi xin làm chứng” (Cv 2:32). Cốt tủy của sứ điệp Phục
sinh là tính cách liên tục giữa ba giai đoạn: sống, chết và sống
lại của Đức Giêsu (x. Cv 1:21-22). Nói cách khác, chính “con
người Giêsu Nadarét” hiện đang “đứng bên hữu Thiên Chúa” (Cv
7:55), chứ không phải là một nhân vật nào khác. Chính “người
bạn” đã cùng ăn uống với các môn đồ mình ngày trước sẽ ngự đến
trong vinh quang vào hồi cánh chung (x. Cv 1:11), chứ không phải
là một người nào khác.
Giữa
đức tin và lịch sử không có một “vực thẳm” cách ngăn, bởi đã có
một nhịp “cầu” nối kết là Đức Giêsu Kitô. Ý nghĩa sâu sắc của
điểm này là lịch sử cụ thể và hèn mạt của chúng ta đã được cứu
rỗi do một con người đã sống, đã chịu khổ và đã chết đi như bất
cứ ai, nhưng đã sống lại một cách huyền diệu. Nếu Đức Giêsu ấy
và Vị Cứu tinh này không phải là một, thì lịch sử loài người sẽ
trở thành vô nghĩa, phi lý.
2)
Sự sống lại là công trình của Thiên Chúa là nguồn mạch sự sống:
Thiên Chúa hằng sống làm cho sống. Các tông đồ đã cảm nghiệm
được và làm chứng rằng chính bàn tay Thiên Chúa đã can thiệp. Họ
dùng công thức: “Thiên Chúa đã làm cho Ngài sống lại.” “Thiên
Chúa” ở đây là Chúa Cha. Quả vậy, sự sống lại là mẫu gốc của
những hành động can thiệp cứu độ của Thiên Chúa vào trong lịch
sử. Tân Ước quy áp công trình phục sinh trước hết cho Thiên Chúa
Cha, hay đúng hơn cho “Cha của Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.”
—
Trước tiên, sự sống lại là hành động giao lưu giữa Cha và Con,
phát sinh từ nguồn cội sâu thẳm nhất là lòng tương ái: vì Cha
yêu Con nên làm cho Con sống lại (x. Ga 10:17-18), và như vậy,
chính thức công nhận Ngài là Con đích thật của Cha. Nhờ vâng
phục tuyệt đối, Đức Giêsu đã lập nên công đức khiến Ngài đáng
được thức dậy từ cõi chết: “Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho
đến chết, thậm chí chết trên thập giá. Chính vì thế Thiên
Chúa đã siêu tôn Ngài” (Pl 2:8-9). Thế mới hiểu tại sao sau này
thánh Gioan coi cuộc tử nạn như là một cuộc giương cao, một cuộc
tôn vinh (x. Ga 13:31-32; 17:5, v.v...).
ánh sáng phục
sinh rực rỡ đến nỗi đã làm cho những vực thẳm tăm tối nhất (của
thống khổ) cũng bừng chói lên trong quang vinh.
—
Trong cuộc phục sinh, Chúa Cha cũng được vinh quang. Qua hành
động tạo dựng mới, Thiên Chúa tỏ lộ quyền năng của Người nhiều
hơn và rõ hơn là qua công trình tạo dựng cũ (x. Ep 1:19-20).
Việc Đức Giêsu phục sinh và việc biểu dương quyền năng của Chúa
Cha đi đôi với nhau: “Nay Ngài đang sống nhờ quyền năng của
Thiên Chúa” (2Cr 13:4; x. 1Cr 6:14; Mt 22:29). Mặt khác, Kinh
Thánh nhận rằng sự sống lại là cuộc thắng lợi tiêu biểu nhất của
khôn ngoan Thiên Chúa. Khôn ngoan xuất hiện ở trong những đường
lối của Người, và đường lối ấy thì cao hơn đường lối loài người
như trời cao hơn đất (x. Is 55:8-9), bởi: “Quyết định của Người
ai dò cho thấu, đường lối của Người ai theo cho cùng!” (Rm
11:33).
Ấy mà đường lối
đặc thù bậc nhất của Thiên Chúa – theo thánh Phaolô – là thập
giá và cuộc phục sinh của Đức Giêsu (x. 1Cr 1). Không một tạo
vật nào có thể tưởng tượng được rằng Thiên Chúa đã biến điên rồ
của thập giá thành khôn ngoan của Người, biến thất bại tuyệt đối
ra thành công tuyệt đỉnh của kế hoạch Người; chính ở điểm này,
vinh quang của Chúa Cha tỏ rạng rực rỡ cao độ nhất, hơn trong
bất cứ gì khác.
Trong
Đức Kitô phục sinh, Chúa Cha đã đặc biệt mạc khải chính mình. Do
tự bản tính, Chúa Cha không tỏ lộ chính mình trừ phi qua Lời.
Trong Cựu Ước, Lời Chúa Giavê chỉ nói bập bẹ qua các biến cố mập
mờ của lịch sử Ítraen, hoặc qua các sấm ngôn với ý nghĩa tiềm ẩn
mà các tiên tri chuyển lại. Trong cuộc nhập thể, Lời ấy đã đến
giữa chúng ta, đã trở nên giống hệt như chúng ta đến nỗi nhiều
người đã ngộ nhận về Ngài, dù trên nguyên tắc, “ai thấy Ngài là
thấy Cha” (Ga 14:9). Tuy nhiên, duy chỉ Đức Kitô phục sinh mới
phản ánh hoàn hảo dung mạo Chúa Cha, Ngài là Lời rõ nhất của
Cha, mà cả đến những kẻ ghét Ngài như Saolô, cũng không thể
không nhìn nhận. Dung mạo ấy như thế nào? Trước hết, Thiên Chúa
tỏ hiện như là Đấng trung thành: trong Đức Kitô, mọi lời hứa đều
được ứng nghiệm. Dù trước Đức Kitô đã có những sự việc ứng
nghiệm, nhưng các sự việc ấy làm cho lời hứa ứng nghiệm chỉ một
phần nào, không bao giờ hoàn toàn đầy đủ. Khi Người làm cho Đức
Giêsu từ cõi chết sống lại, thì lúc đó mới thấy được Thiên Chúa
là Đấng rất mực chung thủy, không bỏ sót điều gì. Tự hậu, con
người có thể tin rằng Thiên Chúa hằng trung thành cho đến cùng
(x. 1Cr 1:9; 10:13). Chính vì vậy, Thiên Chúa đã mạc khải chính
mình như là Đấng làm cho niềm hy vọng của chúng ta thành hiện
thực. Trong Đức Kitô phục sinh, Chúa Cha đã nói lên tiếng VÂNG
đối với mọi lời Người hứa cũng như đối với mọi nhu cầu của con
cái (x. 2Cr 1:18-22). Từ đây, nỗi sợ hãi trước sự chết không
đánh bại nổi chúng ta, vì Thiên Chúa của ta có tên mới là “Đấng
đã làm cho Đức Giêsu, Chúa chúng ta, từ cõi chết sống lại” (x.
Rm 4:24; 8:11; 2Cr 4:14; Gl 1:1; Ep 1:20; Cl 2:12). Tương lai
không còn phải là một ngõ cụt, nhưng rộng mở để dẫn đưa tới hy
vọng.
3) Sự
sống lại, trước hết, là kinh nghiệm của bản thân Đức Giêsu. Như
vừa lưu ý trên đây, Tân Ước thường coi biến cố phục sinh như là
công việc của Chúa Cha (“Thiên Chúa”): Người là tác nhân làm cho
Đức Giêsu chỗi dậy; còn Đức Giêsu thì, tựa như người thụ động,
chỉ đón nhận ơn phục sinh. Tuy nhiên, cũng có một số văn bản cho
thấy Đức Kitô chủ động lấy quyền năng mình mà đứng lên như vị
chiến thắng trên sự chết (x. Lc 24:7; Ga 2:19; 5:21; 20:9; 1Tx
4:14): “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi
tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền
lấy lại mạng sống ấy” (Ga 10:17-18). Sau này, công đồng Tôlêđô
(năm 676) đã khẳng định rõ: “Ngày thứ ba, do bởi năng lực riêng
của chính mình, Ngài đã sống lại và đứng dậy từ phần mộ” (DS
539). Đó là kết luận của thần học về việc nhập thể.
Việc
phục sinh gây kết quả ở chính trong Đức Giêsu. Xét theo tư cách
là con người, lần đầu tiên Đức Giêsu có được ý thức về mình một
cách hoàn hảo, là lúc Ngài sống lại. Từ đó, nơi Ngài, xét theo
nhân tính, khả năng ý thức về mình đạt tới mức viên mãn như Đấng
tạo hóa đã dự định. Ngài thấy mình đúng y như mình hiện hữu. Bấy
giờ, Ngài bắt đầu có kinh nghiệm về việc thụ tạo được hiển vinh
nhờ tử hệ; ý thức nhân tính của Ngài thấy mình như Con của Cha
một cách mới. Ngài thấy mình là hình ảnh hoàn hảo của Cha, dù
vẫn là một tạo vật. Dĩ nhiên, ý thức đang bàn đến ở đây là ý
thức thụ tạo, chứ ý thức phi tạo, thần linh của Con, của Cha và
của Thánh thần chỉ là một.
Vì
thế, sự sống lại đã đưa Đức Giêsu đạt tới mức hoàn hảo của con
người mình. Như bất cứ con người nào, Đức Giêsu cũng cần phải
triển phát, tiến dần lên để đạt tới mức toàn thiện, chứ không
phải sinh ra là hoàn hảo ngay. Thư Do thái cho biết rằng chỉ sau
khi hiến dâng chính mình trên thập giá và sống lại, “người Con
mới nên thập toàn cho đến muôn đời” (Dt 7:28). Trở nên “thập
toàn” là một quá trình kéo dài suốt cuộc đời và chỉ hoàn tất
trong cuộc khổ nạn, rồi hoàn thành trong ơn được nâng lên (x. Dt
2:10; 5:9).
Mức
hoàn hảo, tình trạng thập toàn ấy là gì? Về mặt nhân tính, Đức
Giêsu hiện đang thụ dụng toàn bộ những khả năng đã sung mãn
thành tựu của mình: trong cả xác lẫn hồn; Ngài không còn có thể
“trở nên” bởi đã “thực sự là.” Sau khi sống lại, Đức Kitô hiện
thực hóa chiều kích hoàn vũ, nghĩa là Ngài đang thông hiệp với
toàn thể tạo vật trong tư cách là Đầu (x. Cl 1:15-20; 2:10; Ep
1:20-21). Trong cuộc đời dương thế, với thân xác vật chất – rất
bất toàn, bị giới hạn trong không và thời gian – làm công cụ
giao tiếp với tạo vật chung quanh, nhân tính của Ngài chỉ có
được “thiên năng siêu nghiệm” (transcendental disposition)
nhìn về các sự vật; còn bây giờ thì thực sự Ngài có khả năng
thấu đạt mọi sự.
Tình
trạng hoàn hảo ấy được hiện thực trong đời sống mới (x. Rm
6:9-10). Đời sống mới này không phải là cuộc tái hiện của đời
sống cũ, như trong trường hợp của Ladarô chẳng hạn; cũng chẳng
phải là một cuộc canh tân, làm cho đời sống ấy tốt hơn, phong
phú hơn, trường thọ đến vô tận và không còn phải chịu khổ đau
v.v... Người Do thái đã hình dung ra thế giới của Đấng Thiên sai
tương tự như thế, giống như một cõi địa đàng. Không: đời sống
phục sinh thuộc về một “loại” khác hẳn, không quan niệm ra nổi
với những phạm trù loài người hạn hẹp; đó là điều xảy ra khi sự
sống thần linh tác động đến con người. Thánh Phaolô gọi đó là sự
sống nhờ Thần Khí (x. 1Cr 15:35tt).
Đối
với các nhân chứng, nét tuyệt vời nhất của Đấng Phục sinh là
thân thể mới của Ngài. Các tài liệu của Tân Ước nêu rõ sự việc
không những Đức Giêsu vẫn là một, mà còn sống lại với chính thể
xác của Ngài: thân thể phục sinh là thể xác đã bị đóng đinh. Các
tác giả đã ghi lại chi tiết này khi đề cập đến các thương tích
(x. Ga 20:27; Kh 5:6). Lý do là vì nếu thân xác trước và sau
không phải là một, thì con người cũng không phải là một; thân
xác Đức Kitô sống lại đảm bảo cho sự kiện Đấng Phục sinh chính
là Đức Giêsu Nadarét.
Vì đã
sống lại trong thể xác, nên Đức Kitô mãi mãi hiện hữu trong thể
xác, nghĩa là không bao giờ cuộc nhập thể chấm dứt. Nhiều lần,
điểm giáo lý này đã bị hiểu lầm và phủ nhận, khiến Giáo hội cảm
thấy cần phải xác định rõ qua nhiều văn kiện (x. DS 681, 791,
801, v.v...). Trong Tân Ước (x. 1Cr 15), thánh Phaolô đã minh
nhiên trình bày giáo lý về thể xác phục sinh. Thần học nêu rõ là
nếu Đức Kitô không sống lại trong thể xác, thì con người sẽ
không được cứu chuộc hoàn toàn; bởi không có thể xác thì không
phải là con người. Tuy nhiên, thể xác mới ấy khác hẳn với tình
trạng của thể xác cũ, tựa như hoa so với hạt. Kể ra thì không
thể biện luận suy lý quá nhiều về chủ đề này: bởi đâu có phải và
tìm đâu có được một “nhân chủng học phục sinh”! Dù vậy, thần học
nhận ra rằng trong cuộc hiện hữu mới ấy, không còn có tình trạng
“mâu thuẫn” giữa trí tuệ và xác thể, giữa lý tưởng và thực tại,
giữa vị kỷ và vị tha, v.v..., vì thể xác phục sinh không còn
phải là “thân xác tội lỗi” hiện nay (x. Rm 6:6; 8:3; v.v...),
thân xác thường gây trở ngại cản ngăn mối thông hiệp với Thiên
Chúa và tha nhân (x. Rm 7:15-24). Trái lại, theo kế hoạch của
Đấng Tạo hóa, thể xác là phương tiện để thực hiện mối hiệp thông
đó, hầu sống an hòa với chính mình và hòa thuận với mọi người,
mọi sự. Bí tích Thánh Thể tiêu biểu cho khả năng mới này.
Qua
biến cố sống lại, Đức Kitô đã bước vào giai đoạn sống thân phận
chung quyết vĩnh cửu của Ngài. Mục tiêu đã đạt, Ngài hiện đang
làm nhiệm vụ Chúa Cha ủy thác. Giáo hội gọi nhiệm vụ này bằng
nhiều danh xưng, và cố miêu trình những khía cạnh khác nhau của
“vai trò” ấy. Vì Ngài là “cho chúng ta,” nên Ngài được gọi là Vị
Ngôn sứ chứng từ Môsê tiên báo (x. Cv 3:22; 7:37); Ngài là Tôi
Trung của Thiên Chúa như Isaia đã miêu trình (x. Cv 3: 13.26;
4:25.27.30); các tông đồ gọi Ngài là Thủ lãnh, Vị Lãnh đạo dẫn
đưa tới nguồn ơn cứu độ (x. Cv 5:31; Dt 2:10; 12: 2), Đấng khơi
nguồn sự sống (x. Cv 3:15). Còn xét về chính bản thân Ngài, Đức
Giêsu là Đấng Công chính (x. Cv 3:14; 7:52), Đấng Thánh (x. Cv
3:14; Mc 1:24; Ga 6:69), là Đấng Kitô (xức dầu) (x. 1Cr 15:3; Cv
2:36; 4:26; 10:38; v.v.). Và còn không biết bao nhiêu tước hiệu
khác nữa, như Con Người (x. Cv 7:34), Con Thiên Chúa (x. Cv 8:
37), v.v... rốt cuộc là Chúa (x. 1Cr 16:22; Kh 22:20; Pl 2:11,
v.v...): không có tước hiệu nào cao cả hơn danh tước này. Suy về
thân phận ấy, Giáo hội sẽ ý thức ra là các tước hiệu dù có khác
nhau, nhưng cũng chỉ là một ở trong Ngài, và vinh quang mới này
thực ra Ngài đã thủ đắc từ muôn thuở, chỉ khác là bây giờ có
thêm một cơ sở, một căn cứ mới là: công đức (x. Pl 2:6-11).
4) Sự
sống lại là công trình đặc biệt của Thần Khí. Như Thần Khí đã
làm cho Ngôi Hai trở nên con người (x. Lc 1:35; Mt 1:18), thì
trong kế hoạch cứu độ, Thần Khí cũng đã làm cho Đức Giêsu “trở
nên” Con Thiên Chúa một cách trọn vẹn qua việc sống lại (x. Rm
1:4). Kế hoạch “Ba Ngôi cứu độ” (economic Trinity) dành
tác động cuối cùng cho Ngôi Ba. Thần Khí là “Đấng Hoàn Tất,” là
“Đấng Đóng Ấn” công trình của Thiên Chúa (x. Ep 1:13), là Đấng
xức dầu cho Đức Kitô để Ngài có thể thực hiện sứ mạng trao phó
(x. Lc 4:18), và mạc khải Ngài ra cho thế gian (x. Mc 1:16tt);
Phúc Âm cho thấy là Thánh Thần chi phối toàn bộ công cuộc của
Đức Giêsu (x. Mc 1:12; Mt 12:18.28; Lc 10:21). Vì thế, Thần Khí
cũng phải là Đấng làm cho mầu nhiệm nhập thể thành tựu trọn vẹn
với biến cố phục sinh.
Đối
chiếu cuộc đời hay chết của Đức Giêsu với cuộc hiện hữu bất tử
hậu phục sinh, Tân Ước gọi Ngài trong giai đoạn đầu là Đức Giêsu
theo xác thể, còn trong giai đoạn sau là Đức Kitô theo Thần Khí
(x. Rm 1:3-4); hoặc như thư thứ nhất của thánh Phêrô viết: “Ngài
bị giết trong thân xác, nhưng nhờ Thần Khí, Ngài đã được phục
sinh” (1Pr 3:18). Với biến cố sống lại, Ngôi Cha đã nhận thêm
một danh hiệu mới, thì cũng thế, Thánh Thần được gọi là “Thần
Khí tác sinh” (x. Ga 6:63; 1Cr 15:45; 2Cr 3:6). Nhờ Thần Khí,
Chúa Cha biến những kẻ đã chết vì tội lỗi, thành người sống:
“Nếu Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết
ngự trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi
chết cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà
làm cho thân xác anh em được sự sống mới” (Rm 8:11). Như vậy,
qua nhân tính Đức Kitô phục sinh, Thần Khí đã thâm nhập vào
trong vũ trụ, khai mở thời đại mới, và khởi động cuộc “thần hóa”
toàn bộ tạo vật.
Chiều Kích Cứu Độ
Nếu
hết mọi sự trong Đức Kitô đều là “vì loài người chúng ta và để
cứu rỗi chúng ta,” thì trong tất cả mọi sự ấy mầu nhiệm Phục
sinh đứng ở chỗ trọng yếu số một. Thần học và phụng vụ thường
nêu cao công đức của Đức Giêsu trên thập giá; tuy nhiên, tự nó,
sự chết và hơn nữa, cuộc tử nạn, chẳng làm cho ai sống hoặc sống
lại được cả. Để làm sáng tỏ điểm này, thánh Phaolô viết: “Đức
Giêsu chính là Đấng đã bị trao nộp vì tội lỗi chúng ta và đã
được Thiên Chúa làm cho sống lại để chúng ta được nên công
chính” (Rm 4:8). Nguyên tắc căn bản đã được trình bày ở trong
Thư gửi tín hữu Do thái: “Khi chính bản thân đã tới mức thập
toàn – qua biến cố sống lại – Người đã trở nên nguồn ơn cứu độ
vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5:9). Vì vậy,
thần học gọi sự sống lại là nguyên nhân của việc công chính hóa,
tức là của việc ban ơn cứu rỗi. Sau đây, xin nêu lên một số khía
cạnh của ơn cứu độ, với những chiều kích khác nhau: cá nhân, xã
hội, vũ trụ.
1)
Với biến cố Đức Kitô sống lại, thời đại cuối cùng bắt đầu: Đấng
Phục sinh khởi đầu thời kỳ cánh chung, khai trương những thực
tại chung quyết của lịch sử loài người (x. LG 48). Những biến cố
mà các ngôn sứ tiên báo cho “những ngày cuối cùng,” đã thực sự
ứng nghiệm khi Thần Khí của Đức Kitô được tuôn đổ xuống (x. Cv
2:16tt). Những chờ mong của các thánh (x. Tv 51:9t chẳng hạn) đã
lộ hiện ở nơi Đấng Phục sinh và các tín hữu của Ngài. Biến cố
sống lại khai mở thời kỳ mới, tức là “thời đại của giáo hội,”
thời đại sẽ kéo dài “cho tới khi Chúa lại đến.”
Khi
Đức Giêsu trút linh hồn, bức màn Đền thờ bị xé ra (x. Mt
27:50-51), tượng trưng cho điểm kết thúc của một thời đại. Tiếp
đến, thi hài Đức Giêsu được mai táng trong một ngôi mộ mới (x.
Mt 27:60; Ga 19:41), bởi vì “thời phục hồi vạn vật” (x. Cv 3:21;
LG 48) đã bắt đầu.
Đức
Giêsu đã thực hiện lời hứa trong Cựu Ước. Chính Ngài đã rao
giảng: “Thời kỳ đã mãn, và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần” (Mc
1: 15). Được thụ thai và sinh ra cách “mới lạ,” Đức Giêsu rao
giảng một sứ điệp, một “giáo lý” mà ngay cả đến dân chúng cũng
nhận ra là “mới mẻ” (Mc 1:27), mới đến độ sẽ làm cho những cơ
cấu xã hội và tôn giáo cũ phải nổ tung như bầu da cũ căng đầy
rượu mới (x. Mt 9:17). Đức Giêsu tuyên bố một lề luật mới (x. Ga
13: 34) và sáng lập một Giao ước mới bằng máu Ngài (x. Lc 22:20;
1Cr 11:25), Giao ước được phê chuẩn chung quyết khi Ngài sống
lại và tiến vào cung thánh trên trời (x. Dt 8:1-13).
Biến
cố đặc thù của “thời cuối cùng” là sự việc kẻ chết sống lại; và
biến cố ấy đã bắt đầu nơi Đức Kitô. Vì thế, Đức Kitô sống lại
được ví như là “của đầu mùa,” tức như là trường hợp đầu tiên của
số phận chung, “mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu” (1Cr
15:20; x. Rm 8:29) – dù Ngài hẳn là trường hợp đặc biệt duy
nhất. Do đó, không nên quan niệm Đức Kitô phục sinh như là một
trường hợp cô lập, song như là một biến cố có quan hệ liên đới
và hiệp thông chặt chẽ với toàn thể nhân loại.
Vương
quốc hoặc vương quyền của Thiên Chúa là cục diện của thời kỳ
cuối cùng; chính Đức Giêsu đã rao giảng như vậy. Sau Phục sinh,
các môn đồ ý thức ra rằng cục diện ấy đã thể hiện nơi Đức Kitô:
chính bản thân Ngài là vương quyền ấy. Do đó, có một sự đổi mới
lạ lùng này là: trước kia, Đức Giêsu rao giảng về Nước Thiên
Chúa; còn bây giờ, các tông đồ rao giảng về Đức Kitô. Bây giờ
“vương quyền” là quyền toàn năng của Đức Kitô (x. Mt 28); với
quyền năng ấy Đức Kitô đã phái gửi các tông đồ đi khắp thế giới
để làm cho muôn dân trở thành môn đồ của Ngài. Nơi Ngài, Thần
Khí Thiên Chúa cư ngụ, Ngài được thần hóa, v.v..., và trong
Ngài, Thiên Chúa đưa chúng ta “vào vương quốc của Thánh Tử chí
ái” (x. Cl 1:13).
2) Sự
Sống lại bắt đầu đổi mới mọi sự. Phục sinh quả là một cuộc đổi
mới toàn diện, đổi mới không những Đức Kitô mà còn tất cả các
tạo vật. Cách chung, khi nói đến cái “cũ” là Tân Ước có ý hiểu
theo nghĩa không mấy tốt đẹp; còn khi nói đến cái “mới” là muốn
hiểu đó là kết quả của tác động Thiên Chúa, đặc biệt là hậu quả
của ảnh hưởng do mầu nhiệm Đức Kitô trong lịch sử mang lại. Hết
thảy những gì mới mẻ do cuộc phục sinh đưa đến rốt cuộc đều quy
tụ về một điểm duy nhất là bản thân Đức Giêsu. Ngài là con người
mới, là Ađam mới, là trưởng tử của nhân loại mới, của tạo vật
mới, v.v... (x. 1Cr 15:22t.44-49; Cl 1:15t). Ađam mới, Đức Kitô
là “người Cha muôn thuở” (Is 9:5), tổ tiên của một “chủng tộc”
mới là Dân kitô. Ngài làm cho những kẻ bị chia rẽ trở nên một
nhờ sự sống mới (x. Ep 2:14t), khuyến khích mọi người lột bỏ
hành vi cũ (tội lỗi) để mặc lấy “nhân tính mới” ngõ hầu sống một
đời sống mới trong “công chính và thánh thiện của sự thật” (Ep
4:22-24). Đời sống đạo đức bây giờ căn cứ vào niềm vững tin này
là “phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới; cái cũ đã qua,
và cái mới đã có đây rồi” (2Cr 5:17; Gl 6:15). Con người mới này
sinh ra “bởi nước và Thần Khí” (x. Ga 3:5; Tt 3,5), và dấn thân
vào một tiến trình liên tục để nhờ đó “con người bên trong ngày
càng đổi mới” (2Cr 4:16); bởi vì, khi làm thế là người kitô tiến
dần lên, chuẩn bị cho “Trời mới và Đất mới, nơi công lý ngự trị”
(2Pt 3:13). Để đưa dẫn tới đích, thân xác phục sinh của Đức Kitô
đã trở nên “con đường mới và sống động” (Dt 10,19t), trực chỉ về
Giêrusalem mới (x. Kh 3:12; 21:2); khi ấy, sứ mệnh của Đức Kitô
hoàn tất và Chúa Cha sẽ có thể phán: “Này đây Ta đổi mới mọi sự”
(Kh 21:5).
3)
Đấng Phục sinh là con người phổ quát, là một người cho tất cả.
Ngài là Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người (x.
1Tm 2:5). Vai trò của Ngài đối với mọi người như thế chỉ hiểu
được sau biến cố phục sinh, khi Ngài không còn bị giới hạn bởi
thời gian và không gian. Vì hằng sống, Ngài nắm giữ trong tay
chìa khóa của vận mạng loài người (x. Kh 1:18), nắm giữ mọi
quyền năng (x. Mt 28:18), và hằng đứng bên hữu Thiên Chúa (x. Cv
7:55) “hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta” (Dt 7:25). Chức
năng này là tác vụ tư tế; nhưng vì không còn chết nữa, nên Ngài
là thượng tế duy nhất và đời đời (x. Dt 5:6; 7:17), và với lễ tế
duy nhất, Ngài “xóa bỏ tội muôn người” (Dt 9:28).
Nhiệm
vụ trung gian này bao gồm hết mọi người, dù họ có biết hay không
biết. Vì tất cả đều do Ngài và cho Ngài mà được dựng nên, và đều
tồn tại trong Ngài (x. Cl 1:15-17), cho nên tất cả đều mang nơi
mình một “hiện sinh thể Kitô-tính” (Christic existential),
nghĩa là mang ấn dấu của ơn cứu độ, hướng chiều về với Chúa
Kitô, và nếu biết mở lòng ra đón nhận ơn Chúa – dù chỉ là một
cách hàm ẩn hay mặc nhiên – thì đều được Ngài cứu rỗi.
4)
Cái mới tột bậc trong chế độ mới là Thánh Thể. Sự việc Thiên
Chúa hiện diện ở giữa dân Người như đã hứa qua lời ngôn sứ (x.
Ed 38:26-28), bây giờ đã thành hiện thực cụ thể trong “bí tích
đức tin.” Có được hoàn tất với biến cố Phục sinh, thì mầu nhiệm
Nhập thể mới thực sự thể hiện được sự hiện diện cụ thể ấy. Bữa
tiệc Thánh Thể chuẩn bị cho bữa tiệc cánh chung (x. Mt 26:29),
không chỉ bằng cách bổ sức sự sống siêu nhiên, là mầm giống của
đời sống vĩnh cửu, mà còn qua việc nuôi dưỡng niềm hy vọng của
dân kitô “cho tới khi Chúa lại đến.” Thân thể phục sinh làm cho
Đức Kitô có khả năng đạt tới mọi nơi, phục vụ mọi anh em. Rước
Thánh Thể là hiệp thông với Con Người phổ quát ấy, khiến chúng
ta vượt ra ngoài giới hạn của thân phận cá nhân riêng lẻ để trở
thành một thân mình phổ quát, là Hội thánh.
Cử
hành Thánh Lễ là thể hiện một biến cố cánh chung: Thần linh hiệp
nhất với tạo vật, vật chất (bánh, rượu) được đổi thành thân mình
Đấng Phục sinh, trong mầu nhiệm biến đổi bản thể kỳ diệu. Qua
nghi thức Thánh Thể, mầu nhiệm Phục sinh lại tái hiện giữa cộng
đoàn, trong khi chờ ngày hoàn tất hồi Quang lâm. Trong Thánh Lễ,
Dân Chúa tuyên xưng lòng cậy trông, cậy trông không chỉ cho các
tín hữu mà còn cho cả muôn vật (x. Rm 8:19tt). Trên bàn thánh,
Đức Kitô chia sẻ bánh ăn và chính thân mình mình, mời anh chị em
cùng chia sẻ với nhau, khiến cộng đoàn Thánh Thể trở thành một
cộng đồng thật sự huynh đệ (x. 1Cr 11:17tt). Cộng đoàn mới này
tượng trưng cho xã hội mới theo dự án của Thiên Chúa.
5) Sự
sống lại cho thấy rõ thân xác loài người quả đã được cứu chuộc.
Bây giờ, hy vọng mới bừng lên cho thể xác: nó không đơn thuần là
một thứ ấu trùng có thể bị bỏ xó sau khi sinh nở sự sống mới,
nhưng là một thành phần của bản vị được cứu rỗi. Bởi nơi Đức
Kitô, thể xác đã được thần hóa; trong Ngài, mọi thể xác đều được
kêu gọi để trở nên giống như thế. Hơn nữa, “thể xác thần thiêng”
của Đức Kitô (x. 1Cr 15:44) hiện đang đổi mới thân xác của các
chi thể Ngài, đặc biệt là qua Thánh Thể (x. 1Cr 6:15-20). Chính
vì thế, thánh Inhã Antiôkia gọi Thánh Thể là “thuốc trường
sinh.”
Nhiều
nền văn hóa đã tỏ ra thái độ khinh bỉ đối với xác thể; nhờ Đức
Giêsu phục sinh, chúng ta mới nhận ra rõ giá trị quý báu của
thân xác. Trong truyền thống kitô, xác thể được quý trọng không
những vì niềm hy vọng sống lại, mà nhất là vì nó được kết liên
với Đấng Phục sinh, như là chi thể của Nhiệm thể. Ngoài ra, Thần
Khí của Chúa cũng đang linh hoạt hóa các tín hữu đến độ thể xác
trở thành đền Chúa Thánh Thần (x. 1Cr 3:16.17; 6:9, v.v...). Do
đó, tội lỗi phạm đến thể xác là phạm đến Đấng Phục sinh và Thần
Khí Ngài (x. 1Cr 6:15-19; Rm 8:5-13). Tự nó, xác thể vẫn hướng
chiều theo đàng xấu (x. Rm 7:21-25), nhưng nhờ ơn của Đấng Phục
sinh, xác thể không còn gây trở ngại, song đã trở thành khí cụ
phục vụ vinh quang Thiên Chúa (x. Rm 6:12-14; 1Cr 6:20; Pl
1:20), cả về phương diện sinh lý, bởi xác thể là mầm giống của
một tương lai phục sinh: như phẩm chất của hạt giống tiên định
phẩm chất của cây và trái, thì cũng thế, mức độ “kitô hóa” của
sinh hoạt thể xác sẽ ảnh huởng sâu đậm đến mức vinh quang cánh
chung.
6)
Chiều kích vũ trụ của sự sống lại.– Thực vậy, sự việc Đức Kitô
sống lại có quan hệ chặt chẽ với muôn loài muôn vật trong vũ
trụ. Mt 28:2 làm chứng cho điều đó khi trình thuật về cuộc động
đất và các ngôi mộ mở ra lúc Đức Giêsu trút hơi thở cuối cùng
trên thập giá: thiên nhiên làm như “cảm thấy” có một nhân tố mới
đã thâm nhập vào phạm vi của mình. Nhân tố này chi phối hướng đi
của cuộc biến hóa, mà bây giờ mới được “biết” là có mục tiêu và
được hoàn tất trong Đức Kitô. Bây giờ mọi sự đều mong ngóng ngày
Quang lâm, như thể đã tìm thấy được một cứu cánh tính mới. Vũ
trụ sẽ chắc chắn đạt tới mục đích ấy. Hiện nay giai đoạn chuẩn
bị đã bắt đầu với nhiệm vụ của chúng ta là cải thiện mọi sự (làm
cho cơ cấu xã hội ra công bằng, các cá nhân nên công chính, hoàn
cảnh thành tốt đẹp hơn, v.v... x. LG 48). Nơi Đức Kitô phục
sinh, những yếu tố của vũ trụ đã được vinh hóa: vật chất, tinh
thần, mạng sống và lịch sử loài người. Khi nhập thể, Ngôi Hai đã
chấp nhận sống liên đới với mọi tạo vật; khi sống lại, Ngài đã
đón nhận quyền toàn năng trên vũ trụ đúng như Kinh Thánh muốn
nói lên qua tước hiệu “Chúa” (x. Pl 2:10-11). Để cho thấy Ngài
làm Chúa của vũ trụ, Kinh Thánh đã giới thiệu Đức Kitô như là
Đầu (Thủ lĩnh) của mọi sự trên trời dưới đất (x. Ep 1:10), như
là nguyên lý và cùng đích của muôn loài muôn vật (x. Cl
1:15-17), và như là trung gian sáng tạo (x. Ga 1:1t, Dt 1:2).
Ngài là uyên nguyên của mọi năng lượng hoạt động trong vũ trụ
(x. Ep 1:20-22), làm cho mọi sự tràn đầy với sức năng hiện diện
cứu độ của Thiên Chúa (x. Ep 4:10; Cl 1:19). Thế nên, bao lâu
mục đích ấy chưa đạt được, thì muôn vật vẫn làm như còn “bất
toàn,” còn đang “rên siết và quằn quại như sắp sinh nở, những
ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con
cái Người” (Rm 8:19-22).
Lên Trời, Ngự Bên Hữu Đức Chúa Cha Phép
Tắc Vô Cùng
Như
trước kia Kinh Tin Kính tuyên xưng: Ngài “xuống thế” để bắt đầu
sứ mệnh, thì bây giờ nói Ngài “lên trời”, nghĩa là đã hoàn tất
sứ mệnh ấy. Trước là Thiên Chúa xuống (hạ mình), bây giờ Con
Người lên (được tôn vinh). Mầu nhiệm “lên trời” được tuyên xưng
cùng với mầu nhiệm “ngự bên hữu Đức Chúa Cha” ở trong Kinh Tin
Kính; thật ra, cả hai chỉ là một. Hình ảnh “lên trời” là một ẩn
dụ được dùng để nói lên một số những kết quả của biến cố phục
sinh. Tân Ước dùng nhiều thành ngữ để diễn đạt sự kiện này:
“được nâng lên” (Ga 12:13.34; Cv 2:33; Pl 2:9), “được vinh quang
hóa” (Ga 7:39; 17:1), “đi vào trong vinh quang của Ngài” (Lc
24:26), “đi lên với Cha” (Ga 20:17), “được rước lên trời và ngự
bên hữu Thiên Chúa” (Mc 19:19), “băng qua các tầng trời” (Dt
4:14), v.v. Ý nghĩa đơn thuần là Ðức Kitô đã hoàn tất sứ mệnh:
“Thầy từ Chúa Cha mà ra và đến thế gian; Thầy lại bỏ thế gian mà
đi với Cha” (Ga 16:28). Thánh Luca nói biến cố đó đã xảy ra “40
ngày” sau Phục sinh (Cv 1:3); Luca có ý ám chỉ đến khoảng thời
gian dài đủ để hoàn tất nhiệm vụ, như trong trường hợp của Môsê
và Êlia: các cuộc hiện ra đã kết thúc, thời đại của Giáo hội bắt
đầu. Như Môsê phải từ trần để Giôsuê nhận được Thần Khí (x. Đnl
34:9), như Êlia phải lên trời để Êlisha được thông phần vào Thần
Khí thầy mình, nếu nhìn thấy thầy lên trời (x. 2V 2:9-13), thì
cũng thế, Đức Giêsu phải ra đi (x. Ga 16:7) và các môn đồ ‘phải’
nhìn thấy Ngài tiến vào trong đám mây (x. Cv 1:9-10) – làm biểu
trưng – để nhận được Thần Khí của Ngài. Hơn nữa, trong trình
thuật về sự việc “lên trời,” tựa như trên núi Tabo (x. Lc 9:30)
và bên cạnh ngôi mộ trống (x. Lc 24:4), Luca đã kể về sự có mặt
của “hai người” (Cv 1:10), chắc hẳn là để làm chứng cho lời hứa:
Đức Kitô đã ra đi khuất vắng, nhưng lời Ngài vẫn mãi kiên trung
tồn tại. Bấy giờ các tông đồ được “thấy Con Người lên nơi đã ở
trước kia” (Ga 6:62).
Giáo
hội không ngừng tuyên xưng đức tin vào mầu nhiệm này trong Kinh
Tin Kính (x. DS 11, 30, 72, 150, v.v...), và từ thế kỷ 4, phụng
vụ kitô đã dành một ngày lễ để mừng kính. Các Giáo phụ giải
thích về Thăng thiên theo nhiều cách khác nhau: hoặc như là buổi
hoàn tất của mầu nhiệm nhập thể, hoặc như là sự việc phẩm giá
loài người đã đạt đến tột đỉnh, hoặc để chống lại ngộ giáo: xác
thể loài người được hưởng vinh quang bên cạnh Thiên Chúa!
Còn
thần học cận đại thì nêu bật những khía cạnh sau đây: 1) “Lên
trời” không mang ý nghĩa không gian, như thể “trời” phải ở trên
cao, song là ý nghĩa thần học. 2) “Lên trời” chỉ về sự thay đổi
của thân phận Đức Kitô, trải qua từ tình trạng hèn mọn – “theo
xác thịt” – “ở dưới đây,” bước sang tình trạng hiển vinh – “theo
Thần Khí”– “ở trên kia.” Nói cách khác, Đức Kitô tham dự vào đời
sống của Thiên Chúa. 3) “Lên trời” không có nghĩa Đức Kitô tách
xa khỏi Giáo hội và lịch sử loài người, nhưng bây giờ Ngài chỉ
có mặt cách vô hình qua Thần Khí Ngài ban, và không còn bị cầm
cố tại một chỗ. 4) Đối với các tín hữu, tín điều soi sáng cho
thấy rõ giá trị của thân xác và càng làm cho kiên vững niềm hy
vọng sẽ được cứu rỗi toàn diện. Đối với chỗ đứng của vũ trụ
trong kế hoạch của Thiên Chúa, tín điều giúp cho xác tín thêm
rằng “các tầng trời” là ngai của Đức Kitô, và thiên nhiên có vai
trò chỉ cho con người đường lên cùng Chúa. Đối với Giáo hội, tín
điều mang lại một đảm bảo mới cho lời cầu “nhờ Đức Giêsu
Kitô...,” bởi cho biết rõ rằng Đầu của Hội Thánh đang ngự bên
hữu Thiên Chúa và đang cầu bầu cho thân mình của mình.
Ngồi bên
hữu là ẩn dụ ám chỉ đến Ðức Kitô chia sẻ quyền Thiên Chúa, ngang
hàng với Thiên Chúa, tức là Thiên Chúa. Trước Hội đồng Do thái,
Đức Giêsu đã tuyên xưng: “Các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu
Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (Mt 26:64). Sau này
các tông đồ loan báo sự kiện này, chẳng hạn Phêrô (x. 1Pr
3:21-22), Phaolô (x. Rm 8:34) hoặc Thư Do thái (12: 2), v.v.;
các vị còn trưng Tv 110, là bản văn Cựu Ước được Tân Ước trích
dẫn nhiều nhất.
Ðức
Kitô cũng được trình tả: đứng như Đấng trung gian.
Têphanô đã “thấy Đức Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa” (Cv
7:55-56). Khải huyền nói: “Con Chiên đứng ở giữa ngai [của Thiên
Chúa]... trông như thể đã bị giết..” (5:6). Đó là phong thái của
vị tư tế... đã dâng lễ tế duy nhất để đền tội cho nhân loại (x.
Dt 10:11-12). “Như đã bị giết,” tức còn giữ lại các dấu tích
thương khó, “để can thiệp cho chúng ta, Ngài hằng dâng lên Chúa
Cha cái chết Ngài đã chịu vì chúng ta” (thánh Tôma). Đứng trước
Thiên Chúa, sống động, bởi “phẩm vị tư tế của Ngài tồn tại mãi
mãi; do đó, Ngài có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ
Ngài mà tiến lại gần Thiên Chúa. Thật vậy, Ngài hằng sống để
chuyển cầu cho họ” (Dt 7:25).
Đức
Kitô là Chúa tể càn khôn (x. Ep 1:20-23): Ngài đã rộng mở biên
giới quê hương Ngài cho chúng ta; và bây giờ chúng ta biết rõ
mục đích phải nhắm tới trong cuộc đời là “cố gắng tiến vào chốn
yên nghỉ ấy” (Dt 4:10-11; x. Pl 3:20). Thánh Phaolô khuyên: “Anh
em đã được chỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì
thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh
em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng
chú tâm vào những gì thuộc hạ giới” (Cl 3:1-2). Thời đại của
Giáo hội là thời gian chu toàn sứ mạng đối với lệnh truyền trọng
đại của Thầy mình cho tới khi Ngài trở lại, vì “Đấng vừa lìa bỏ
[cõi thế này] và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như quý
vị đã thấy Người lên trời” (Cv 1:11).
Ngày Sau Bởi Trời Lại Xuống Phán Xét Kẻ Sống Và Kẻ Chết.
a)- Quang lâm
Như
vừa thấy trên đây, liên hệ với các mầu nhiệm Phục sinh và Thăng
thiên là mầu nhiệm Quang lâm. Danh từ Hy lạp parousía có
nghĩa là “có mặt,” hay “đi đến” như đọc thấy chẳng hạn trong 1Cr
16:17, Pl 1:26, v.v... Nhưng đặc biệt từ này ngầm chỉ tới cuộc
ngự đến của Đức Kitô vào hồi thế mạt.
Chủ
đề này được Cựu Ước miêu tả qua hình ảnh “ngày của Đức Chúa,”
tức của Giavê (x. chẳng hạn: Am 4:18; Xp 1:14; Is 2:12-22); và
một cách tương tự, cũng được Tân Ước giới thiệu như là “ngày của
Chúa,” tức của Đức Kitô (x. 1Tx 5:2), hoặc đơn thuần như là
“Ngày” (1Cr 3:13). Biến cố ấy được gọi là Quang lâm
(parousía) như đọc thấy trong 1Tx 2:19; 1Cr 15:23; v.v...,
hoặc là Xuất hiện (epipháneia) như đọc thấy trong 1Tm
6:14; Tt 2:13; v.v... Ý là: niềm tin, hay đúng hơn, niềm trông
chờ của dân kitô đợi trông “Chúa lại đến.” Thế hệ kitô đầu tiên
hy vọng là Chúa sẽ sớm trở lại (x. 1Tx 4:14; Kh 22:20), dù Đức
Giêsu không nói rõ về ngày tháng (x. Mt 24:36). Và bởi “ngày”
chờ mong xem ra còn xa, nên nhiều người đã không còn nuôi hy
vọng như thế. Do vậy, Thư thứ hai của thánh Phêrô đã phải lên
tiếng giải thích: qua thời gian kéo dài, Chúa ban cho mọi người
cơ hội để cải thiện (x. 2Pr 3:8).
Giáo
hội tuyên tín: “Ngài sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ
sống và kẻ chết,” và cử hành Thánh Lễ “cho tới khi Chúa lại
đến.” Niềm tin là “Tin Mừng” khiến dân Chúa ngong ngóng trông
chờ ngày ấy và cầu xin: Maranatha! (bằng tiếng Aram) “Xin
Chúa hãy đến!”, “Xin cho Nước Cha trị đến,” v.v... Trong Kinh
Thánh cũng như trong truyền thống của Giáo hội, có một số dấu
hiệu báo trước, thường được coi như để cho thấy ngày ấy đã gần
kề; thí dụ: trước khi Chúa trở lại, Phúc âm phải được rao giảng
trong khắp thế giới (x. Mt 24:14; Mc 13:10), dân Do thái sẽ trở
lại (x. Rm 11:25tt), nhiều tín hữu sẽ chối bỏ đức tin và tên
Phản Kitô sẽ xuất hiện (x. 2Tx 2:8-11), nhiều thiên tai và nhiều
cuộc bách hại sẽ xảy ra (x. Mt 24:29). Bởi được miêu tả theo văn
thể “khải huyền,” những dấu hiệu này không ngầm chỉ về một thời
gian cụ thể, nhưng chỉ nhắc đến những biến cố thường xảy ra
trong lịch sử, khiến Giáo hội cảm thấy cần phải thường xuyên
chuẩn bị để đón Chúa, và nêu cao chân lý này là giữa những khó
khăn của cuộc đời trần ai, hy vọng vẫn bừng sáng. Thiên Chúa đã
thắng, nhưng trong gian đoạn chờ mong Đức Kitô lại đến, tội lỗi
vẫn còn tràn lan, hoành hành trong lòng con người, giữa cuộc
sống xã hội: có đức tin, nhưng cũng có vô tín, vô thần; thiện ác
đang quyết liệt tranh chấp lương tâm con người cho tới cùng.
Quang lâm sẽ kết thúc lịch sử, hoàn tất công trình của Đức Kitô,
“và đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong
trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô” (Ep 1:10). “Lúc
muôn loài đã quy phục Đức Kitô, thì chính Ngài, vì là Con, cũng
sẽ quy phục Đấng bắt muôn loài phải quy phục Ngài, và như vậy
Thiên Chúa sẽ là tất cả trong tất cả” (1Cr 15:28). Vậy, Quang
lâm là chiều kích còn ẩn giấu của mầu nhiệm Phục sinh, là đối
tượng hy vọng của Kitô giáo.
b)-Phán Xét
Trong
Kinh Thánh, phán xét là một cuộc Thiên Chúa can thiệp vào trong
lịch sử để thay đổi khuynh hướng của loài người đối với Người.
Từ thế kỷ thứ hai, Kinh Tin Kính đã nói về cuộc phán xét cuối
cùng, khi Thiên Chúa nhờ Đức Kitô sẽ “đánh giá” toàn thể lịch sử
cứu rỗi, nghĩa là chiều kích cả sáng tạo lẫn cứu chuộc. Phán xét
là việc cánh chung, nghĩa là sẽ xảy ra sau khi lịch sử đã kết
thúc rồi. Trong Kitô giáo chân lý này là đối tượng của đức tin,
hơn nữa là niềm trông đợi của Hội Thánh, mà trong phụng vụ tuyên
xưng: “từ đó – inde, từ bên hữu Thiên Chúa – Ngài sẽ trở
lại trong vinh quang để phán xét...”; và Kinh Thánh kết
thúc: “Xin Chúa Kitô hãy đến!”
Trong
Cựu Ước, người công chính ước ao Chúa Giavê thiết lập công bình
ở giữa loài người: “Lạy Chúa, xin đứng lên, đừng để cho phàm
nhân thắng thế, xin Chúa đòi chư dân ra trước mặt Ngài mà xét
xử” (Tv 9:20). Ngày ấy các tiên tri gọi là “ngày của Đức Giavê”
(x. Am 5:18tt), và họ diễn tả cách ghê rợn dễ sợ, vì “Chúa sẽ
dùng lửa và lưỡi kiếm mà xét xử mọi người phàm (x. Is 66:16). Sứ
ngôn Gioen mời “các dân nước... tiến lên cánh đồng Giôsaphát, vì
tại đó Ta sẽ ngự tòa xét xử mọi dân nước chung quanh” (Ge 4:12).
Hình bóng này đã có ảnh hưởng trên truyền thống kitô cho đến
nay.
Trong
Tân Ước, “ngày Thiên Chúa” trở nên “ngày của Chúa [Kitô]” (1Ts
5:2), “ngày của Ðức Kitô-Giêsu” (Pl 1:6.10; 2:16), “ngày của Con
Người” (Lc 17:24). Các giáo phụ đã diễn tả “ngày ấy” cách rùng
rợn và phụng vụ đã từng thế kỷ hát thi ca Dies irae,
khiến tín hữu rùng mình. Tân Ước dạy rằng Ðức Kitô là “Đấng sẽ
phán xét kẻ sống và kẻ chết” (2Tm 4:1; x. Cv 10:42; 17: 31; Rm
14:9; 1Cr 5:10; Ga 5:26-30). Về ngày đó, thánh Irênêô viết:
“Ngài
sẽ phán xét mọi tạo vật với công bằng, và sẽ gửi các ác quỷ
xuống lửa muôn đời, trong khi các người công chính và các thánh,
vì đã kiên trì ở trong tình thương, Ngài sẽ ban cho ơn bất tử và
vinh quang ngàn thu. Lúc đến lần đầu tiên, Ngài bị các thợ xây
gạt bỏ... Khi đến lần thứ hai, Ngài sẽ ngự trên mây trời, ‘Ngài
như lửa của thợ luyện kim,’ sẽ đánh đất với lời Ngài và hủy diệt
kẻ bất nhân với hơi miệng; Ngài cầm cái chĩa mà sảy lúa trong
sân mình, thu thóc vào kho còn rơm thì bỏ vào lửa không hề tắt.
Vì thế chính Chúa khuyến khích các môn đồ phải không ngừng canh
thức, tay cầm đèn sẵn như đầy tớ chờ chủ mình về, như ngày ông
Noê hồng thủy tiêu diệt tất cả, hoặc trong thời ông Lót khi Chúa
khiến trời mưa lửa và diêm sinh hủy diệt hết thảy ở Sôđôm. Ngày
Con Người sự việc cũng sẽ xảy ra như vậy.”
Những
hình ảnh này mang ý nghĩa xã hội. Lịch sử là một cuộc chiến
thường xuyên giữa sự thiện và sự ác, và thật sự là điều cần được
phân định liên tục. Quả thế, ở dưới đất này chân thật và công
bình chưa bao giờ được thấy rõ ràng. Vì thế, lương tâm tôn giáo
mong đợi một “ngày cuối cùng” khi công lý thắng cuộc rực rỡ, khi
sự thật về mình, về người khác và mọi sự sẽ được tiết lộ. Đó là
điều Chúa hứa:
“Khi
Con Người đến trong vinh quang của Ngài, có tất cả các thiên sứ
theo hầu, bấy giờ Ngài sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Ngài, các
dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Ngài, và Ngài sẽ tách
biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê...” (Mt
25,31-32).
Thánh
Phaolô cũng nói: “Tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng
trước tòa Ðức Kitô, để mỗi người lãnh nhận những gì tương xứng
với các việc tốt hay xấu đã làm khi còn ở trong thân xác” (2Cr
5:10). Mt 25:31tt cho thấy “việc tốt hay xấu” là hành vi đối với
nhu cầu của người anh chị em, và rốt cuộc đó chính là hành vi
đối với Ðức Kitô. Vì, không thể giữ thái độ hoặc lập trường
“trung lập” đối với Ðức Kitô, như Ngài đã xác định rõ: “Ai không
đi với tôi là chống tôi; và ai không cùng tôi thu góp là phân
tán” (Mt 12:30). Phải nhận lấy trách nhiệm về số phận riêng và
chung, về những ân huệ và tài năng mình nhận được; như các đầy
tớ siêng năng hoặc lười biếng, mọi người sẽ được thưởng hay bị
phạt tùy cách sử dụng tốt hay xấu những gì nhận được (x. Mt
25:14-30). Dù trong lần đầu, Ðức Kitô đến không phải để lên án,
nhưng là để cứu độ; song những kẻ không chịu tin thì đã bị lên
án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa (x. Ga
3:17-18). Theo Gioan, phán xét cuối cùng chỉ là để tiết lộ bản
án của việc phán xét hiện đang tiến thành trong đời sống hằng
ngày. Thánh Basiliô viết:
“Ngày
ấy, sẽ không có ai tố cáo bạn ngoài chính những việc bạn đã làm.
Mỗi việc làm sẽ bước lên với tính chất đặc thù của nó: ngoại
tình, áp bức, cướp bóc, giả dối... mỗi tội lỗi sẽ chỉ đích danh
bạn theo bản sắc đặc thù của nó. Phúc cho ai biết thương xót vì
sẽ được xót thương.”
Khi
tuyên xưng Ðức Kitô sẽ trở xuống “để phán xét kẻ sống và kẻ
chết”, thì đồng thời cũng nói lên lòng tin vào cuộc “kẻ chết sẽ
sống lại”, như sẽ thấy. Cuộc phán xét là hồi kết thúc và hoàn
tất công trình của Đức Kitô (x. Kh 19:11), vì thế đối với các
tín hữu đó là “tin mừng”, là niềm hy vọng (x. 1Cr 11:32; 1Tx
1:10; 2Pr 2:9). Các kitô hữu hằng nài xin: “Xin Chúa lại đến!”
(Kh 22:20; 1Cr 16:22). Như thánh Gioan biểu trình: vì tin vào
Ðức Kitô, chúng ta được biết Thiên Chúa là tình yêu; vậy, nếu
chúng ta ở lại trong tình yêu, thì “Căn cứ vào điều này mà tình
yêu đã nên hoàn hảo với chúng ta: đó là được mạnh dạn trong ngày
phán xét, vì Đức Giêsu thế nào thì chúng ta cũng như vậy ở thế
gian này. Trong tình yêu không có sợ hãi; trái lại, tình yêu
hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liên với hình phạt và ai
sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” (1Ga 4:17-18).
Hình
ảnh của thẩm phán tuyệt đối thì rất dung hậu: không phải là một
quan tòa chỉ nghĩ đến trả thù, chỉ biết nắm công bằng giống như
chiếc cân. Vị thẩm phán này là Đấng Cứu chuộc đầy lòng xót
thương. Mặt khác, số phận chung quyết kết tinh từ những hành vi
trong cuộc sống hằng ngày: sống trung thành với Chúa thì sẽ gặp
Ngài trung hậu (x. Mt 10:32). Đức Kitô sẽ là mặt gương cho tôi
soi để thấy con người tôi. Không thể mua vé để vào thiên đàng,
nhưng cần được Chúa nhân từ đón nhận vào nhà Cha. Trong dụ ngôn
Mt 25:31tt trình thuật về cuộc phán xét chung: tất cả đều bỡ ngỡ
trước bản án... thế mới thấy rõ là không ai có thể tự mãn cho là
mình đã biết được kết quả rồi, mà chỉ biết cậy trông phó thác
vào nơi lòng nhân hậu vô biên của Chúa. Chân lý về cuộc phán xét
nêu bật trách nhiệm và giá trị của tự do con người: mỗi cử chỉ,
hành động đều được lượng giá trước mặt Thiên Chúa, để tạo nên
điều kiện cho tư cách làm công dân Nước Trời hoặc trở thành
duyên cớ cho cuộc đời đời rời xa Thiên Chúa.

Trở về
"Mục Lục"
|
|