|

KINH TIN KÍNH

THA TỘI
|
Tôi tin phép tha tội
|
Tôi tuyên xưng có một phép rửa duy nhất để tha tội. |
Kinh Tin Kính các tông đồ coi việc tha tội như một khía cạnh của
niềm tin vào Thần Khí đang thánh hóa Giáo hội. Tiêu đích tín
biểu xưa nhất nhằm tới là “phép Rửa để tha tội”, vì thế mà được
tuyên xưng trong nghi thức phụng vụ khai tâm; tín biểu Nixê vẫn
còn giữ công thức ấy. Sau này việc tha tội được quan niệm trong
khung vi của “các thánh thông công” với ý nghĩa là tha tội
thường xuyên, như đọc thấy qua lời cầu xin trong kinh Lạy Cha,
mà thánh Âugutinô gọi là “phép Rửa hằng ngày”.
Kitô giáo hiểu rằng con người là một tạo vật tội lỗi, cần được
tha thứ, và, là Cha nhân từ, Thiên Chúa hằng ban ơn thứ tha. Ai
mà không cảm thấy mình đầy những thiếu sót, chưa hoàn hảo, cần
phải tinh luyện thường xuyên, v.v. Tôn giáo nào cũng ra sức cung
cấp những lễ nghi tẩy uế, nghi thức hòa giải với trời đất, với
chính mình. Truyền thống Dothái-Kitô đã tin vào một Thiên Chúa
hằng sẵn sàng tha thứ, và không ngừng cử hành những nghi lễ cầu
xin cho được ơn tha thứ và hòa giải với Người. Tín khoản này
biểu thị lòng tin vào Thần Khí của Cha đang linh động hóa làm
cho Giáo hội mãi mãi là môi trường hòa giải giữa loài người, nhờ
công đức của Chúa Kitô.
Kinh Thánh cho thấy là ngay từ đầu, con người đã phạm tội, mất
tình bạn với Đấng Tạo Hóa (sa ngã: St 3:1tt): anh giết em (Cain
và Aben), ghen ghét (Lamec: St 4:23-24) và kiêu ngạo (tháp
Babel: St 11). Rồi trong hoang địa, dân Chúa đã trở lòng rối
đạo, chạy theo ngẫu tượng (x. Xh 32) và cả “người xức dầu của
Chúa” tức vua Đavít, cũng phạm tội (x. 2Sm 11). Trong Tân Ước,
trưởng đoàn tông đồ là Phêrô, cũng đã chối Thầy, Giuđa đã bán
Thầy, và tông đồ Phaolô chính là người đã từng giết hại Đức
Giêsu. Trong Hội Thánh có tội nhân (x. 1Cr 5), nhưng đồng thời
cũng có “chức vụ hòa giải” (2Cr 5:18).
Thiên Chúa chúng ta thờ là một “Thiên Chúa nhân hậu và từ bi,
hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34:7), “Người
không cứ tội ta mà xét xử” (Tv 103:10), song “lấy lòng thương
xót và mở lượng hải hà xóa tội” (Tv 51:3), vì “Chúa là Thiên
Chúa luôn sẵn sàng thứ tha” (Nhm 9:17). Các tiên tri miêu tả
Người như là Đấng “vất bỏ sau lưng mọi lỗi lầm” (Is 38:17),
“chịu đựng lỗi lầm, bỏ qua tội ác... tội lỗi chúng ta, Người chà
đạp dưói chân” (Mk 7:18-19), “tẩy rửa mọi gian tà” (Gr 4:14) và
“xóa bỏ các tội phản nghịch” (Is 43:25). Vì chỉ một người công
chính, Người sẵn sàng “dung tha cho cả thành” (Gr 5:1), v.v.
Hẳn là tội nhân phải sám hối, nhưng tôn giáo cũng cống hiến cơ
hội qua những nghi thức phụng tự: có “nước tẩy uế, cho nghi thức
tạ tội” (Ds 19:10), có “ngày xá tội” cho toàn dân (Lv 16), có
những “lễ tạ tội” (Lv 4:1tt) và “lễ đền tội” (Lv 5:4tt), v.v.
Như thế, giữa Ítraen, Thiên Chúa đã dùng những cơ cấu tôn giáo
và hàng tư tế làm trung gian tha tội.
Trong Tân Ước, Đức Giêsu đã tha tội: cho kẻ bại liệt ở
Caphácnaum (x. Mc 2), cho phụ nữ tội lỗi (x. Lc 7:36tt) hoặc cho
người gian phi sám hối (x. Lc 23:43). Mà nhất là Ngài đã dạy
giáo lý về ơn tha thứ khi trình tả lòng từ bi nhân hậu của Chúa
Cha qua các dụ ngôn về con chiên lạc mất, về người cha nhân hậu
và đứa con hoang đàng (x. Lc 15), v.v. Cuối cùng, Ngài ban cho
các tông đồ Thần Khí với quyền tha tội: “Hãy chịu lấy Thánh
thần. Các con tha tội cho ai, thì tội họ được tha; các con cầm
giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ” (Ga 20:23). Sau khi từ cõi
chết sống lại, Ngài phái gửi các tông đồ đi “rao giảng cho muôn
dân, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội” (Lc 24:47), và thiết
lập phép Rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần (x. Mt 28:19).
Tuyên xưng đức tin đối với ơn tha tội, là kitô hữu biểu hiện
lòng biết ơn đối với Thiên Chúa, bởi đã làm cho mình trở thành
tạo vật mới, bởi đã đón nhận mình làm nghĩa tử và kẻ thừa kế Đức
Kitô, cũng như thú nhận mình là kẻ bất trung trưóc mặt Thiên
Chúa trung thành. Thiên Chúa đã an bài kế hoạch cứu độ cho nhân
loại tội lỗi, và trọng tâm kế hoạch ấy là ơn tha thứ. Vì “nếu
Chúa không khoan dung – như ngạn ngữ Đức nói – thiên đàng sẽ
trống rỗng”: không ai tự xóa tội cho mình và tự cứu lấy mình
được. Trong Giáo hội, tội lỗi có thể trở nên cơ hội để loan báo
tin mừng: Thiên Chúa đã yêu thương loài người đến nỗi đã ban Con
Một “làm của lễ đền tội vì tội lỗi chúng ta” (1Ga 4:10), làm
“con chiên xóa tội trần gian” (Ga 1:29), con chiên đã “đổ máu...
cho muôn người được tha tội” (Mt 26:28); “Thiên Chúa đã đổ tình
yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho
chúng ta” (Rm 5:5). Có kinh nghiệm được tha thứ, kitô hữu
mới có được cảm thức về tội lỗi.
Tha Thứ
Lập Giáo hội là Đức Kitô muốn cống hiến cho loài người một lãnh
vực tha thứ. Nếu Gioan Tẩy Giả đã kêu gọi chịu “phép rửa hầu tỏ
lòng thống hối để được ơn tha tội” (Mc 1:4), thì Đức Giêsu đã
lập một phép rửa “trong Thánh Thần và lửa” (Mt 3:11) để tha thứ
và ban cho đời sống mới, cũng như để làm lối ngõ gia nhập Hội
Thánh. Là gia đình của Chúa Cha, giáo hữu làm nên một cộng đồng
biết tha thứ
cho
lẫn nhau, không ngừng khẩn xin: “tha nợ chúng con như chúng con
cũng tha...” Trong đời này, không làm sao tránh hết được những
xung đột, những mếch lòng, xúc phạm; nên phải biết sẵn sàng tha
thứ. Đức Giêsu nói: “Nếu người anh em của anh xúc phạm đến anh,
thì hãy khiển trách nó; nếu nó hối hận, thì hãy tha cho nó. Dù
nó xúc phạm đến anh một ngày đến bảy lần, rồi bảy lần trở lại
nói với anh: ‘Tôi hối hận’, thì anh cũng phải tha cho nó” (Lc
17:3-4). Trong Hội Thánh của Đức Kitô lòng tha thứ không có biên
giới; môn đồ Phêrô tưởng mình đại lượng vì sẵn sàng tha thứ đến
bảy lần, nhưng Đức Giêsu bảo: “Không phải bảy lần, nhưng là đến
bảy mươi lần bảy” (Mt 18:21), tức là đến mấy cũng tha. Không
chỉ là để tuân thủ một thủ tục hay hình thức xã hội mà phải tha
thứ, nhưng, như Đức Giêsu đã nói rõ, là phải thành thực tha thứ
hết lòng (x. Mt 18:35).
Kitô hữu tha thứ không chỉ vì đó là điều kiện cần thiết để sống
chung, nhưng nhất là vì đó là ý muốn của Chúa Cha ở trên trời.
Người muốn con cái mình tha cho nhau đến nỗi đã cảnh cáo cho
biết là nếu không chịu tha thứ cho kẻ khác thì sẽ không nhận
được ơn tha thứ (x. Mc 11:25); đó là điều nói lên trong kinh Lạy
Cha (x. Mt 6:12-15). Vốn là kẻ được tha (nhờ phép Rửa), kitô hữu
có bổn phận trả nghĩa bằng cách tha lỗi cho người khác: “Chúa đã
tha thứ cho anh em, thì cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau”
(Cl 3:13); hoặc để bắt chước Chúa Cha đã tha thứ cho mình (x. Ep
4:32). Nguồn của mọi hành động tha thứ là lòng thương của Thiên
Chúa, vì thế tha thứ là thông dự vào lòng thương xót và quảng
lượng của Người. Chúa dung thứ là vì Người toàn năng: “Chúa xót
thương hết mọi người, vì Chúa làm được hết mọi sự (x. Kn 11:23).
Thiên Chúa không bị ai hoặc cái gì bắt buộc phải tha thứ, nhưng
chính vì yêu thương và tự do yêu thương mà Người thứ tha. Thế
thì, chính qua hành động tha thứ, con người trở nên tự do và nếm
hưởng được tự do; trả thù là chưa biết tự chủ, là chưa tự do
thực sự.
Tội Lỗi
Không hiểu được tầm quan trọng của sự tha thứ, nếu không hiểu –
ít là phần nào – tội là gì. Cách chung, trong truyền thống các
dân tộc, chẳng thấy có ý niệm thần học về tội lỗi; nếu có chăng
nữa thì chỉ là một ý niệm đạo đức học và thường là lờ mờ. Từ
điển định nghĩa: “tội là hành vi phạm pháp, đáng bị xử phạt”,
tức một thực tại xã hội học. Quả vậy, phạm luật là kinh nghiệm
đầu tiên của một thành viên trong cộng đoàn về tội phạm; luật là
tiêu chuẩn tương giao, mang tính cách khách quan và có mục đích
bảo toàn công ích. Chính quyền có thể lượng định tội phạm và ấn
định hình phạt theo công bình.
Khởi điểm là quan niệm về tội như là hành động phạm pháp chống
trật tự xã hội; nhưng trật tự ấy được Trời phê chuẩn, cho nên đó
là hành động phạm đến trật tự thần thiêng. Thời xưa, ngay cả
trong Cựu Ước, người ta quan niệm trật tự ấy cách may móc, như
là điều cấm kỵ, khiến họ tưởng là có thể phạm tội một cách vô ý
thức, cả với thiện chí, như đọc thấy trong 2Sm 6:6. Rồi dần dần
ý thức con người tiến đến chỗ biết nhấn mạnh đến chiều kích nhân
bản và tôn giáo. Các từ Kinh Thánh dùng để diễn tả những khía
cạnh khác nhau của hành vi tội lỗi thì bao giờ cũng giả thiết
quan hệ con người có đối với Thiên Chúa. Tội là hành động lệch
lạc, đi trật ra ngoài mục đích, là hành động chống lại Thiên
Chúa, phản bội tình thương của Người. Để chỉ về tội lỗi, Tân Ước
dùng nhiều nhất là các từ Hylạp hamartia, tức “lỗi,” và
anomía, “bất chính,” cũng có nghĩa là “vấp ngã” hoặc “vi
phạm” hay “bất tuân” (Rm 5:14-19). Như vậy, khía cạnh nhân bản
và liên vị được nêu bật, để cho thấy tội lỗi là hành vi tự do
xúc phạm đến Thiên Chúa.
Suy tư thần học đã phân loại và phân biệt nhiều chiều kích khác
nhau của tội: hiện tội và nguyên tội, tội trọng và tội nhẹ, tội
cá nhân và xã hội, tội xét theo khách quan hoặc chủ quan, tội vì
hành động hay vì thiếu sót, tội xúc phạm đến mình, đến tha nhân
hay đến Thiên Chúa, tội trong tư tưởng, lời nói hay việc làm,
v.v. Các tác giả đã thử định nghĩa tội lỗi; theo thánh Âugutinô:
“tội là làm, nói hay ước muốn điều gì nghịch với luật vĩnh cửu”
(“luật” là trật tự do Thiên Chúa Tạo hóa an bài), hoặc: “tội là
tách xa khỏi Thiên Chúa mà hướng về với tạo vật.” Sách Giáo
Lý viết:
“Tội là lỗi phạm đến lý trí, chân lý, lương tâm ngay chính, là
thiếu tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa và tha nhân, vì
quyến luyến lệch lạc với thụ tạo. Tội làm tổn thương bản tính
con người và vi phạm đến tình liên đới giữa nhân loại. Vì thế,
tội được định nghĩa như: ‘một lời nói, một hành vi, một ước muốn
trái với lề luật vĩnh cửu’” (số 1849)
Thánh vịnh 51 nêu bật nhiều khía cạnh của tội:
“Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con,
mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm.
Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài
thanh tẩy.
Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày
đêm.
Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài...”
Tội là hành động phạm đến chính Thiên Chúa, một Thiên Chúa – như
đã thấy ở trên – Tạo hóa, Cứu tinh, và là Cha nhân hậu... một
Thiên Chúa Ngôi Con đã làm người, sống và chết vì tôi... một
Thiên Chúa Thần Khí hằng yêu thương tôi đến nỗi đã biến tôi
thành đền thờ, thành dưỡng tử... Đúng ra, tội chẳng có thể làm
hại gì đến Thiên Chúa; tuy nhiên, một cách nào đó, Người đau đớn
vì lòng thương của Người bị tội nhân coi thường, vì thấy tội
nhân làm hại cho chính mình, vì thấy hình ảnh Thiên Chúa ra méo
mó, hoen đục.
Khách quan mà nói, con người được Thiên Chúa dựng nên với mục
đích là làm vinh danh Thiên Chúa qua việc thông dự vào chính
vinh quang ấy; trời đất muôn vật đều được tạo dựng và xếp đặt
cho mục tiêu ấy: đó là trật tự “luật vĩnh củu”. Công đồng
Vaticanô II giải thích: “Khuôn mẫu tối thượng của đời sống con
người là chính luật vĩnh cửu... nhờ lương tâm, con người nhận
thức và hiểu biết những mệnh lệnh của luật Thiên Chúa” (DH về tự
do tôn giáo, 3). “Quả thật, con người có lề luật được Thiên Chúa
khắc ghi trong tâm hồn; phẩm giá con người là ở chỗ tuân theo lề
luật ấy, và cũng theo lề luật ấy mà con người sẽ bị xét xử” (GS
16); đó cũng là luật vĩnh cửu quy định công ích cho xã hội loài
người (x. GS 78a). Có một trật tự luân lý khách quan mà con
người phải theo nếu muốn thành tựu hoàn hảo. Con người có khả
năng biết “luật” ấy và “nghe” tiếng nói của lương tâm: “hãy làm
lành, lánh dữ” (x. Rm 1:18-22). Phạm tội là làm trái lương tâm,
là tự do từ chối những gì Thiên Chúa đã hoạch định cho công ích
loài người và cho lợi ích riêng của chính tội nhân: bất lương là
vô nhân (phá nhân phẩm). Tội lỗi là hành vi đóng kín, ích kỷ,
không nghĩ gì đến Thiên Chúa đến tha nhân, làm trái ý Thiên
Chúa, tức là phạm đến Người, phá hoại nhân phẩm, phá hoại công
ích.
“Lưật vĩnh cửu” là tiêu chí của lý trí, vì thế tội là hành động
phi lý, đi ngược lại với lý trí. Kitô hữu biết Thiên Chúa là ai
và yêu mến mình đến chừng nào; thế nên, phạm tội là chà đạp tình
thương ấy; nhờ phép Rửa, kitô hữu đã trở nên chi thể Đức Kitô,
tức của Hội Thánh; cho nên phạm tội là gây thương tổn đến Nhiệm
thể, là làm hại Giáo hội.
Tự
bản tính, ý chí loài người không thể ước muốn sự ác, nhưng luôn
luôn ước muốn sự thiện, hoặc sự thiện tuyệt đối (Thiên Chúa)
hoặc sự thiện tương đối (tạo vật); thế nên, tội là ước muốn quá
đáng cái tốt thọ tạo đến nỗi bỏ đi sự thiện tuyệt đối. Con người
thường bị cái tốt thọ tạo hoặc tương đối mê hoặc, cuốn hút đi
theo, không còn chú ý đến “luật vĩnh cửu”, đến tiếng của lương
tâm, đến trật tự hợp lý, v.v. Thí dụ: khoái lạc, tiền của, quyền
bính, v.v., là những điều tốt, nhưng cần được sử dụng theo trật
tự Thiên Chúa an bài.
Tội được gọi là trọng hay nhẹ tùy một số yếu tố quan liên đến
hành vi. Tội trọng giả thiết ba điều kiện: “Phạm một điều nặng
(sự việc trầm trọng), với đầy đủ ý thức (hiểu biết) và cố tình
(chấp nhận)” (Sách Giáo Lý 1857). Cụ thể mà nói, chất
liệu của tội lỗi là mười Điều răn: “Chớ giết người, chớ ngoại
tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thảo
kính cha mẹ” (Mc 10:19). Cũng có nhiều mức độ trong tính chất
nặng, nhẹ của tội lỗi; chẳng hạn: giết người thì trọng hơn là
trộm cắp; ăn cắp một ngàn đồng VN thì nhẹ hơn gian lận một tỷ,
v.v. Ý thức và việc chấp nhận cũng có mức độ khác nhau: rõ ràng
hoặc mù mờ, cố tình hay chỉ một phần... và do đó mà mức độ trách
nhiệm cũng có thể nhiều hay ít, hoàn toàn hay chỉ một phần...
Thật ra, chỉ Thiên Chúa mới biết được đích xác tội nặng hay nhẹ
như thế nào.
Hành vi tội lỗi phát xuất từ chính bản ngã (tự do); nhưng hành
vi nhân bản thì có tính nội tại, tức ảnh huởng đến chủ thể hành
vi, khiến con người trở thành như thế này hay như thế nọ: hành
vi tốt làm cho con người nên tốt, hành vi xấu làm cho con người
ra xấu. Tội làm hại cho chính bản thân con người và cho xã hội.
Vì thế, Kinh Thánh cho thấy là cần phải “tẩy uế”, “rửa sạch” sự
ác nơi tội nhân, hoặc phải quay “trở lại” với Thiên Chúa, phải
từ bỏ thái độ và ý hướng bất chính để trở nên con người mới.
Những khuynh hướng hoặc bản tính xấu, những cảm giác, những ấn
tượng về điều xấu, những cám dỗ đều không phải là tội; bởi tội
là hành vi tự do, là cái nằm trong phạm vi trách nhiệm. Bảy “mối
tội đầu”: kiêu ngạo, hà tiện, mê dâm dục, hờn giận, mê ăn uống,
ghen ghét và làm biếng là những căn nguyên, những khuynh hướng
đưa đẩy đến chỗ phạm tội, nếu cứ nhường bước, không chống trả
lại.
Cuối cùng,
tội mang một chiều kích siêu nghiệm, khiến tội nhân rơi vào tình
trạng “thông đồng” với Sự ác, với Ác quỷ, với “những quyền lực
tối tăm.” Trong tông huấn Reconciliatio et Poenitentia,
(2.12.1984), Đức Gioan Phaolô II nhận định: “Trong nơi sâu thẳm
của đáy lòng con người, một số yếu tố tác dụng, đặt tội lỗi ở
bên kia bờ thuần túy nhân bản, nơi lương tâm, ý chí và tình cảm
con người chạm trán với những quyền lực tối tăm, mà theo thánh
Phaolô, đang hoạt động giữa thế gian và hầu như đang thống trị
thế giới (x. Ep 2:2; 6:12).” Vì thế, Kinh Thánh nói về “mầu
nhiệm tội ác” mà chỉ Thiên Chúa mới tiêu diệt được.
Phép Tha Tội
Đối ngược với “mầu nhiệm tội ác” thì có “mầu nhiệm xót thương.”
Tin mừng kết tinh ở điểm loan báo cho biết Thiên Chúa yêu thương
chúng ta đến nỗi “không gì – cho dầu là thiên thần hay ma vương
quỷ lực... hoặc bất cứ sức mạnh nào khác – có thể tách rời chúng
ta ra khỏi tình yêu của Người, thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa
chúng ta” (Rm 8:38-39). Đức Kitô đã thiết lập Giáo hội như một
cơ chế tha thứ; giáo hoàng Gêlasiô (năm 495) đã viết: “Không có
tội nào mà Giáo hội không cầu nguyện cho được tha thứ; và nhờ
quyền năng Thiên Chúa đã ban cho, Giáo hội có thể tha cho bất cứ
lỗi tội nào, nếu tội nhân biết trở lại, lánh bỏ tội lỗi, hoặc xá
tội cho những kẻ thống hối” (DS 349). Chỉ một mình Thiên Chúa
mới có quyền tha tội; nhưng kitô hữu tin rằng Thiên Chúa dùng
Giáo hội làm khí cụ ban ơn tha thứ.
Đức Giêsu sai các tông đồ rao giảng Tin mừng cho muôn dân và ban
Phép Rửa (x. Mt 28:19) để họ được cứu độ (x. Mc 16:16); vì thế,
khi giảng xong, trả lời cho đồng bào hỏi phải làm gì, thánh
Phêrô khuyên: “Anh em hãy sám hối và mỗi người hãy chịu Phép Rửa
nhân danh Đức Giêsu Kitô để được ơn tha tội” (Cv 2:38). Tội lỗi
được đồng hóa với sự chết, nên Phép Rửa được hiểu như là cuộc
tái sinh (x. Ga 3:5); viết cho Titô, thánh Phaolô giải thích:
“Nhờ Phép Rửa [Thiên Chúa] ban ơn Thánh Thần để chúng ta được
tái sinh và đổi mới” (Tt 3:5). Khai triển ý niệm về Phép Rửa qua
nhiều đoạn viết, vị tông đồ tóm tắt như sau trong thư gửi giáo
đoàn Rôma: “Khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc
về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của
Ngài; vì được dìm vào trong cái chết của Ngài, chúng ta đã cùng
được mai táng với Ngài; bởi thế, cũng như Ngài đã được sống lại
từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta
cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6:3-4).
Như thế có nghĩa tha tội là khía cạnh tiêu cực của Phép Rửa; còn
khía cạnh tích cực là gắn bó mật thiết với Chúa Kitô, tức là
“cùng chết” với Ngài (bỏ những gì xấu xa, bỏ tội lỗi, bỏ ‘con
người cũ’, v.v.) và “cùng sống lại” với Ngài (được ‘sinh khí’
thần thiêng, được ghép vào Ngài như nhành vào thân cây hoặc như
chi thể vào thân thể, trở nên ‘con người mới’, v.v.). Kinh Thánh
nhấn mạnh đến ơn Thần Khí và ơn nghĩa tử. Thần Khí ban sự sống,
trái với tội là nguồn sự chết (x. Rm 8:2); thần học hiểu rằng
tội là sự chết của linh hồn, còn Thần Khí thì ban sự sống siêu
nhiên. Vậy nếu sống nhờ Thần Khí thì kitô hữu trở nên nghĩa tử
của Chúa Cha và kẻ thừa tự cùng với Con Một, Con ruột, là Đức
Kitô (x. Rm 8:15-17). Khi nói về các mầu nhiệm thì phải dùng đến
phép ẩn dụ, vì ngôn ngữ loài người không có khái niệm để diễn tả
thích đáng nội dung theo nghĩa đen; mà nội dung ấy lại là thực
tại cần được ý thức của cuộc sống chúng ta. Cũng theo nghĩa
bóng, tội được gọi là tối tăm; vì thế, Phép Rửa được hiểu như là
ánh sáng chiếu soi (x. Dt 6:4), hoặc như là cuộc “giải thoát
khỏi quyền lực tối tăm để đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái;
trong Ngài ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi” (Cl
1:13-14). Phép Rửa là bí tích thứ nhất, là điều kiện để nhận
được các bí tích khác và là cửa mở lối đưa vào Hội Thánh.
Trong
Hội Thánh thì sao? Đáng tiếc là trong
“không gian thánh” này cũng gặp thấy những tội nhân. Sách
Giáo Lý miêu trình:
“Chúa Giêsu Kitô là thầy thuốc chữa lành linh hồn và thể xác
chúng ta. Ngài đã từng tha tội và phục hồi sức khỏe thể xác cho
người bại liệt. Ngài muốn Hội Thánh, nhờ quyền năng Thánh Thần,
tiếp tục công cuộc chữa lành và cứu độ. Các chi thể của Hội
Thánh rất cần điều này. Đó là mục đích của hai bí tích chữa
lành: bí tích Thống Hối và bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân” (số 1421).
Kitô hữu cũng bị cám dỗ, cũng sa ngã, cũng phạm tội. Vì thế, Đức
Giêsu đã khuyên các môn đồ không chỉ nên sửa lỗi anh em mà còn
phải tha thứ khi họ phạm đến mình (x. Mt 18). Nhưng khi họ phạm
đến Chúa thì sao? Đức Kitô đã trao phó cho Phêrô và các tông đồ
“quyền chìa khóa” Nước Trời (x. Mt 16:19; 18:18), nghĩa là nhờ
Thần Khí, Giáo hội có được quyền tha tội: “Anh em tha tội cho
ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị
cầm giữ” (Ga 20:23). Vậy Thiên Chúa muốn nhờ con người tha tội
cho con người. Trong Giáo hội quyền ấy được thể hiện rõ trong
các bí tích Rửa tội, Giải tội (hoặc Thống hối, Hoán cải, Thú
tội, Tha tội, Giao hòa...) và Xức dầu. Tội lỗi không chỉ là sự
ác vô hình, mà còn điều gây hại cho anh chị em, cho Giáo hội, vì
thế tội nhân phải hòa giải không những với Thiên Chúa vô hình mà
còn với cả Giáo hội hữu hình nữa. Nói theo kiểu dụ ngôn, nhờ
phép Giải tội, chiên lạc được trở về trong chuồng chiên của
Chúa. Nếu biết thống hối về lỗi lầm quá khứ, quyết chí tự hậu sẽ
tuân hành ý Chúa và thú tội với Giáo hội, thì Thiên Chúa sẽ tha
hết mọi tội lỗi và biến tội nhân thành người công chính. Nguồn
suối phát sinh năng quyền này là chính Đức Kitô, Đấng “đã bị
trao nộp vì tội lỗi chúng ta và đã sống lại để chúng ta trở nên
công chính” (Rm 4:25); trong bí tích Thánh Thể, Máu Ngài “đổ ra
cho mọi người được tha tội.” Ơn tha tội hằng theo sát tín hữu từ
khi chào đời (Thánh tẩy), qua suốt trong cuộc sống (Giải tội)
cho đến giờ phút cuối đời (Xức dầu). Vì thế, tin phép tha tội là
Kitô giáo tuyên xưng niềm hy vọng, cậy trông vào nơi lòng nhân
hậu của Thiên Chúa, cũng như nói lên lòng biết ơn Người đã để
lại trong Giáo hội những khí cụ hữu hình giúp cho các tín hữu
gặp được dễ dàng ơn cứu độ qua tác vụ của những anh em đã được
cắt đặt.

Trở về
"Mục Lục"
|
|