Qua
Chúa
Thánh
Thần,
mầu
nhiệm
về
lòng
tin
của
Đức
Maria
vừa
được
ẩn
giấu,
lại
vừa
được
mạc
khải
ra
trong
Kinh
Thánh
và
Truyền
thống
sống
động,
và
được
trung
thực
lưu
truyền
kể
từ
thời
các
tông
đồ
cho
đến
nay.
Mầu
nhiệm
ấy
ẩn
kín
trong
những
gì
Lời
mạc
khải
của
Thiên
Chúa
đã
không
vén
tỏ
cho
biết
về
Đức
Trinh
nữ
Maria.
Nó
lộ
hiện
rõ
ràng
qua
những
gì
có
thể
đọc
thấy
nơi
các
văn
đoạn
kinh
thánh
nhắc
đến
ngài.
Trong
Thánh
Truyền
–
qua
đường
lề
lối
giải
thích
xác
thực
và
đáng
tin
cậy
của
Giáo
hội
về
Lời
đã
được
viết
ra
của
Thiên
Chúa,
Lời
đề
cập,
trực
tiếp
hay
gián
tiếp,
đến
Đức
Maria;
trong
các
điểm
giáo
huấn
và
tín
điều
mà
Huấn
quyền
công
bố;
và
qua
việc
cử
hành
sinh
hoạt
phụng
vụ,
là
“yếu
tố
cấu
thành
của
Truyền
thống
thánh
thiện
và
sống
động”
–
mầu
nhiệm
ấy
cũng
đã
được
nêu
rõ
sáng
tỏ.
Nhưng
cùng
lúc,
mầu
nhiệm
về
lòng
tin
của
Đức
Maria
cũng
vẫn
còn
tiềm
nặc
trong
những
vấn
đề
chưa
được
giải
đáp
đầy
đủ,
dù
có
quan
liên
đến
chân
lý
nòng
cốt
và
nền
tảng
của
đức
tin
kitô,
những
vấn
đề
mà
trí
óc
con
người
hằng
không
ngừng
thắc
mắc
nêu
lên
nhằm
vào:
cuộc
Phục
sinh
của
Đức
Giêsu
Kitô,
cùng
với
hết
thảy
các
mầu
nhiệm
khác
nữa
trong
cuộc
đời
của
Ngôi
Lời
Thiên
Chúa
Nhập
thể.
Cả
những
gì
được
phát
biểu
ra
lẫn
những
gì
còn
nằm
trong
vòng
thinh
lặng,
đều
hé
lộ
cho
thấy
mầu
nhiệm
về
lòng
tin
của
Đức
Maria
và
đưa
đến
chỗ
nhìn
nhận
tính
cách
ưu
việt
của
sự
hiện
diện
liên
lỉ
cùng
với
hoạt
động
không
ngừng
của
Chúa
Thánh
Thần
nơi
con
người
và
trong
cuộc
đời
Đức
Maria.
Qua
cuộc
ngẫm
suy
về
những
ân
huệ
tuyệt
đỉnh
và
cao
trọng
mà
Thần
Khí
đặc
biệt
ban
tặng
cho
Đức
Maria,
tín
hữu
sẽ
có
thể
khởi
sự
nắm
bắt
được
một
cách
trọn
vẹn
hơn,
mầu
nhiệm
về
lòng
tin
của
Đức
Maria
và
ý
nghĩa
của
mầu
nhiệm
ấy
đối
với
Giáo
hội
và
thế
giới.
Bài
viết
này
sẽ
trình
xuất
một
số
điểm
suy
tư,
bao
gồm:
1)
mầu
nhiệm
về
lòng
tin
của
Đức
Maria;
2)
quá
trình
diễn
tiến
của
mầu
nhiệm
ấy
kể
từ
cuộc
Truyền
tin
cho
đến
biến
cố
Canvariô;
và
3) ý
nghĩa
của
mầu
nhiệm
này
đối
với
giai
đoạn
thứ
hai
trong
cuộc
chuẩn
bị
tiến
vào
Thiên
kỷ
thứ
Ba,
một
thời
gian
–
một
năm
–
“được
đặc
biệt
dành
riêng
để
hướng
lòng
về
với
Chúa
Thánh
Thần,
và
với
sự
hiện
diện
tác
thánh
của
Người
ở
giữa
lòng
cộng
đoàn
các
môn
đồ
Đức
Kitô.”
I. MẦu
nhiỆm
lòng
tin
cỦa
ĐỨc
Maria
Các
thế
hệ
tín
hữu
đã
coi
đoạn
Tin
Mừng
trình
thuật
về
biến
cố
Truyền
tin
như
là
văn
đoạn
phát
biểu
rõ
ràng
nhất
về
lòng
tin
của
Đức
Maria.
Với
lòng
tin
được
củng
cố
và
gia
cường
nhờ
việc
noi
theo
gương
mẫu
của
Đức
Maria,
không
biết
bao
nhiêu
con
người
nam
và
nữ
đã
được
thôi
thúc
để
thốt
lên
hai
tiếng
“Xin
vâng!”
của
riêng
mình
trước
kế
hoạch
của
Thiên
Chúa!
Tuy
nhiên,
dù
có
nhận
rằng
cuộc
“Truyền
tin
cho
Đức
Maria
là
biến
cố
đánh
dấu
việc
mở
màn
của
‘thời
viên
mãn,’”
thì
cũng
không
phải
qua
chính
biến
cố
này
tín
hữu
mới
có
thể
thấy
rõ
tỏ
tường
toàn
bộ
tiến
trình
về
lòng
tin
của
Đức
Maria.
Trước
khi
tiến
vào
‘tháng
thứ
sáu’
trọng
đại
ấy,
Đức
Maria
đã
sống
qua
thời
thơ
ấu
và
niên
thiếu
của
mình
như
là
“thiếu
nữ
Xion
tuyệt
vời.”
Sứ
thần
đã
chào
mừng
Đức
Maria
như
là
đấng
đầy
ân
sủng,
phản
chiếu
“ánh
huy
hoàng
của
sự
thánh
thiện
hoàn
toàn
độc
nhất
vô
nhị”
đã
được
trao
ban
cho
ngài
kể
từ
khoảnh
khắc
ngài
bắt
đầu
hiện
hữu
trong
lòng
mẹ
mình.
Tín
điều
về
Đức
Maria
Vô
nhiễm
Nguyên
tội
đã
được
minh
định
hết
sức
minh
bạch
và
cô
đọng
trong
lời
công
bố
như
sau
của
Đức
Giáo
hoàng
Piô
IX:
Nhờ
vào
ân
phúc
đặc
biệt
của
Thiên
Chúa
toàn
năng,
cũng
như
nhờ
vào
công
nghiệp
của
Chúa
Giêsu
Kitô,
Đấng
Cứu
Độ
nhân
loại,
mà
ngay
từ
lúc
mới
tượng
thai,
Đức
Nữ
Rất
thánh
Đồng
trinh
Maria
đã
được
gìn
giữ
cho
khỏi
vướng
nhiễm
mọi
vết
nhơ
của
tội
nguyên
tổ.
Như
thấy
trong
lịch
sử,
việc
tập
trung
nhấn
mạnh
đến
tình
trạng
Đức
Maria
được
gìn
giữ
cho
khỏi
vướng
nguyên
tội,
đã
có
xu
hướng
làm
cho
thiếu
lưu
tâm
đến
tình
trạng
thánh
thiện
hoàn
toàn
độc
nhất
vô
nhị
– mà
Đức
Maria
đã
nhận
được
do
ân
sủng
Thiên
Chúa
–
cùng
với
những
ý
nghĩa
tích
cực
tình
trạng
ấy
gợi
lên.
Bức
Tông
thư
minh
định
tín
điều
Đức
Maria
Vô
nhiễm
Nguyên
tội
đã
không
quên
nhắc
đến
khía
cạnh
ấy
của
mầu
nhiệm
này.
Trong
tình
trạng
được
gìn
giữ
cho
khỏi
tội
nguyên
tổ,
Đức
Maria
đã
được
phú
ban
ân
sủng
của
Chúa
Thánh
Thần.
Ngài
được
tuyên
tôn
là
[đấng]:
tinh
tuyền,
và
tinh
tuyền
về
mọi
mặt;
trinh
trắng
và
trinh
trắng
tuyệt
bực;
vô
tì
vết,
và
hoàn
toàn
vô
tì
vết;
thánh
thiện
và
sạch
hẳn
mọi
vết
nhơ
tội
lỗi;
hoàn
toàn
trinh
khiết,
hoàn
toàn
thanh
sạch,
gương
mẫu
tuyệt
bực
về
tình
trạng
trinh
khiết
và
thanh
sạch;
xinh
đẹp
hơn
cả
cái
đẹp,
đáng
yêu
hơn
cả
cái
đáng
yêu,
thánh
thiện
hơn
cả
sự
thánh
thiện,
đặc
biệt
thánh
thiện
và
tuyệt
bực
tinh
tuyền
trong
linh
hồn
và
thân
xác;
đấng
trỗi
vượt
trên
hết
những
gì
là
nguyên
tuyền
và
đồng
trinh;
đấng
duy
nhất
đã
trở
nên
chốn
cư
ngụ
của
hết
thảy
mọi
ân
sủng
xuất
phát
từ
Thánh
Thần
Tối
cao.
Đức
Maria
được
nhận
là
“niềm
hãnh
diện
duy
nhất
của
con
người
mang
bản
tính
ô uế
chúng
ta.”
Về
ngài,
có
người
đã
mô
tả
như
sau:
“Để
có
được
một
ý
niệm
toàn
diện
về
ngài,
thì
không
thể
nào
kết
hợp
làm
một,
hết
thảy
những
gì
cần
quy
gán
[cho
ngài]
cùng
với
tất
cả
những
gì
cần
phải
loại
bỏ
[khỏi
ngài].”
Trong
một
đoạn
viết,
với
một
lối
biểu
đạt
hết
sức
dễ
hiểu,
Đức
Hồng
y
Pierre
de
Bérulle
đã
giúp
làm
sáng
tỏ
tầm
trọng
yếu
có
sức
ảnh
hưởng
đến
toàn
bộ
mầu
nhiệm
Đức
Maria
Vô
nhiễm
Nguyên
tội.
Theo
Bérulle,
có
ba
“thời
kỳ”
mà
mọi
con
người
đều
phải
trải
qua
trong
cuộc
đời
mình,
đó
là:
thời
kỳ
khởi
đầu
của
tình
trạng
bản
tính
(được
thụ
thai),
thời
kỳ
khởi
đầu
của
tình
trạng
ân
sủng
(chịu
phép
rửa),
và
thời
kỳ
khởi
đầu
của
đời
sống
ân
sủng
(có
khả
năng
ứng
thuận
đối
với
tác
động
của
ân
sủng
nơi
một
con
người
khi
đã
bước
vào
tuổi
khôn).
Bérulle
quả
quyết
cho
rằng,
trong
mọi
con
người,
ba
thời
kỳ
ấy
tồn
tại
hoàn
toàn
riêng
biệt
với
nhau,
và
thường
diễn
ra
cách
nhau
trong
một
quãng
thời
gian
khá
xa.
Tuy
nhiên,
nơi
Đức
Nữ
trinh,
ba
thái
trạng
ấy
được
phối
nhập
làm
một
với
nhau;
tình
trạng
bản
tính,
tình
trạng
ân
sủng
và
thời
kỳ
khởi
đầu
của
đời
sống
ân
sủng,
cùng
tác
động
ân
sủng
hướng
về
Thiên
Chúa,
đã
được
trao
ban
cho
ngài
một
cách
đồng
thời,
vào
cùng
một
thời
điểm
Nói
cách
khác,
nhờ
vào
ân
sủng
của
Thiên
Chúa,
cũng
như
dựa
vào
những
công
nghiệp
về
sau
của
Đức
Giêsu
Kitô,
Đức
Maria
đã
được
tạo
dựng,
được
đón
nhận
những
ân
huệ
phép
rửa,
và
được
ban
cho
ơn
khỏi
vướng
mắc
“một
tội
riêng
nào,
suốt
cả
cuộc
đời
mình.”Tín
điều
về
Đức
Maria
Vô
nhiễm
Nguyên
tội
tỏ
lộ
cho
thấy
mầu
nhiệm
về
những
ân
sủng
đặc
biệt,
độc
nhất
vô
nhị,
được
phú
ban
cho
người
nữ
đã
được
tuyển
chọn
để
làm
mẹ
Con
Thiên
Chúa
Nhập
Thể.
Vì
Kinh
Thánh
vẫn
giữ
thái
độ
im
hơi
lặng
tiếng
– và
có
lẽ
cũng
vì
Đức
Maria
đã
chẳng
nói
gì
về
mình
–
nên
không
ai
có
thể
hiểu
hết
được
mọi
điều
về
những
năm
tháng
đầu
đời
của
ngài.
Bức
màn
thinh
lặng
bao
phủ
lên
trên
mầu
nhiệm
về
lòng
tin
của
Đức
Maria,
kéo
dài
từ
khoảnh
khắc
đầu
tiên
ngài
chào
đời
cho
đến
biến
cố
được
lấy
làm
mốc
điểm
giúp
lần
theo
quá
trình
hình
thành
và
phát
triển
của
lòng
tin
ấy.
Có
lẽ
chính
vì
thế
mà ở
đây,
cần
phải
nhờ
đến
một
thứ
trực
giác
–
như
Jean
Guitton
từng
đề
xuất
–
mới
hầu
nắm
được
nét
đặc
trưng
vốn
dĩ
đã
có
từ
trước
nơi
Đức
Maria,
và
theo
sát
ngài
trong
từng
bước
đường
ngài
đi,
từ
thời
điểm
Truyền
tin
cho
đến
những
giờ
phút
thương
đau
trên
đồi
Canvariô,
lúc
mà
ngài
“đã
hoàn
toàn
trưởng
thành
cùng
với
quá
trình
mạc
khải
tiệm
tiến
của
Lời.”
Guitton
nhận
định
như
sau:
“Một
trong
những
đặc
nét
đầu
tiên
dễ
nhận
ra
nơi
Đức
Nữ
trinh,
khi
ngài
còn
là
một
hài
nhi,
có
lẽ
là
khả
năng
‘lắng
nghe
và
đặt
câu
hỏi’.”
Dựa
vào
khả
năng
ấy
của
Đức
Maria,
thì
có
thể
thâu
tóm
được
mầu
nhiệm
về
lòng
tin
của
ngài.
Ngài
đã
lắng
nghe,
ngài
đã
đặt
câu
hỏi,
và
ngài
đã
tin.
Khả
năng
ấy –
lần
đầu
tiên
được
bộc
lộ
ra
trong
cuộc
viếng
thăm
của
sứ
thần
– đã
tiếp
tục
thể
hiện
rõ
vào
mỗi
giai
đoạn
có
tính
cách
then
chốt
trong
cuộc
đời
ngài.
II.
TỪ
biẾn
cỐ
TruyỀn
tin
cho
đẾn
cẢnh
đỒi
ThẬp
giá
Mầu
nhiệm
về
lòng
tin
của
Đức
Maria,
xét
từ
biến
cố
Truyền
tin
cho
đến
giờ
phút
đứng
dưới
chân
Thập
giá,
là
một
bức
họa
đan
xen
thành
từ
tranh
tối
lẫn
tranh
sáng,
từ
những
gì
được
nói
lên
lẫn
những
gì
còn
tiềm
ẩn
trong
vòng
thinh
lặng.
Tình
trạng
vô
nhiễm
nguyên
tội
của
Đức
Maria
không
hề
miễn
trừ
việc
ngài
– dù
được
tuyên
tôn
như
là
đấng
“đầy
ân
sủng,”
thì
cũng
–
phải
sống
qua
kinh
nghiệm
đức
tin
của
con
người.
Câu
chuyện
về
kinh
nghiệm
sống
đức
tin
ấy
của
Đức
Maria
đã
được
ghi
lại
trong
Kinh
Thánh.
Ở
đó,
có
thể
đọc
thấy
được
những
lời
do
chính
miệng
ngài
thốt
ra
hoặc
những
lời
phát
biểu
về
ngài.
Ở
đó,
có
thể
nhận
thấy
được
thái
độ
lặng
thinh
và
trầm
tư
suy
ngẫm
trong
lòng
của
Đức
Maria.
Cùng
với
quá
trình
mạc
khải
tiệm
tiến
của
Lời,
sự
hiểu
biết
và
nhận
thức
của
Đức
Maria
cũng
được
đào
sâu
thêm;
ngài
cũng
trưởng
thành
lên
trong
khả
năng
quy
hướng
về
với
Thiên
Chúa,
khả
năng
đón
nhận
sự
sống
của
Thiên
Chúa
nơi
mình,
và
khả
năng
thuận
theo
ân
sủng
của
Người.
Đấng
được
ca
ngợi
là
đầy
ân
sủng,
cũng
đã
sống
qua
kinh
nghiệm
trưởng
thành
lên
trong
tình
trạng
gia
tăng
của
ân
sủng
tràn
đầy
ấy,
hằng
cảm
nghiệm
thứ
ân
huệ
không
ngừng
được
trao
ban
của
Chúa
Thánh
Thần
và
sức
năng
động
[δύναμις]
vĩnh
cửu
của
quyền
năng
Đấng
Tối
cao
trong
cuộc
đời
mình.
Đánh
dấu
một
khoảnh
khắc
trọng
đại
trong
bước
đường
sống
kinh
nghiệm
đức
tin
của
Đức
Maria,
đoạn
trình
thuật
về
biến
cố
Truyền
tin
phải
được
ngẫm
đọc
dựa
theo
bối
cảnh
đời
sống
nội
tâm
của
Đức
Maria
tính
từ
trước
cho
đến
thời
điểm
diễn
ra
biến
cố
ấy.
Hans
Urs
von
Balthasar
đã
hùng
hồn
diễn
tả
về
điều
này
như
sau:
“Nơi
Đức
Maria
[...],
toàn
bộ
lòng
tin
của
dân
Ítraen,
khởi
đầu
với
lòng
tin
vốn
chưa
từng
thấy
của
Abraham,
được
kết
tụ
thành
một,
một
thứ
lòng
tin
quy
hướng
về
Đức
Kitô
và
hằng
giữ
vai
trò
như
là
mẫu
gương
cho
các
kitô
hữu.
[...]
Trong
việc
thiết
lập
Giao
ước
Mới,
vốn
là
thứ
Giao
ước
đã
được
minh
nhiên
khẳng
định
như
là
“thành
tựu”
của
Giao
ước
Cũ,
làm
sao
hết
thảy
mọi
yếu
tố
vô
cùng
tích
cực
của
Giao
ước
này
lại
không
được
kể
đến?
Làm
sao
Đức
Kitô
có
thể
đi
vào
lịch
sử
cứu
độ
mà
lại
không
để
tất
cả
những
gì
có
tính
cách
tích
cực
như
thế
được
trao
ban
cho
mình
qua
Mẹ
của
Người?
Rõ
ràng
là
qua
hành
vi
tuyên
xưng
trọn
vẹn
đức
tin
–
biểu
hiện
tình
trạng
tự
do
dứt
khoát,
không
chút
dính
bén
với
tội
nguyên
tổ –
của
Đức
Maria,
lòng
tin
của
Abraham
không
những
được
quy
kết
lại,
mà
còn
được
làm
cho
trở
nên
siêu
việt
nữa...”
Trong
lời
chào
mừng
của
sứ
thần,
Đức
Maria
đã
nhận
ra
được
một
thách
đố
và
một
lời
mời
gọi.
Thách
đố
đặt
ra
cho
ngài
chính
là
việc
ngài
phải
làm
sao
đó
để
lòng
tin
của
mình
được
trỗi
vượt
lên
trên
lòng
tin
của
Abraham,
lòng
tin
của
các
thế
hệ
tiền
nhân,
lòng
tin
của
dân
Ítraen.
Ngài
được
mời
gọi
đưa
lòng
tin
của
mình
tiến
vào
một
tình
trạng
thâm
sâu
mới
mẻ,
mặc
lấy
cho
nó
một
phẩm
chất
mới
lạ;
và
lòng
tin
ấy
đã
được
thể
hiện
cả
qua
ý
chí
tuân
phục
của
Đức
Maria,
lẫn
qua
thái
độ
tin
tưởng
của
ngài
vào
việc
Thiên
Chúa
sẽ
hoàn
thành
những
gì
Người
đã
hứa.
Thánh
Âugutinô
đã
miêu
họa
sinh
động
về
khoảnh
khắc
truyền
tin
ấy
như
sau:
“Sứ
thần
loan
tin,
Đức
Nữ
trinh
lắng
nghe,
tin
tưởng,
thụ
thai,
tràn
đầy
niềm
tin
trong
lòng,
mang
trọn
Đức
Kitô
trong
dạ.”
“Tràn
đầy
lòng
tin
và
thụ
thai
Đức
Kitô
trong
tâm
hồn
trước
khi
mang
thai
Người
trong
lòng
dạ,
ngài
đã
thưa
lên:
‘Vâng,
tôi
đây
là
nữ
tỳ
của
Chúa;
xin
Chúa
cứ
làm
cho
tôi
như
lời
sứ
thần
báo’.”
“Đức
Maria
đã
tin,
và
điều
ngài
tin
đã
được
thành
tựu
nơi
ngài.”
Vén
mở
cho
thấy
một
khía
cạnh
trong
mầu
nhiệm
về
lòng
tin
của
Đức
Maria,
đoạn
trình
thuật
Truyền
tin
tự
nó,
chưa
biểu
đạt
trọn
vẹn
mạc
khải
về
mầu
nhiệm
này.
Trong
chuyến
trẩy
đi
vội
vã
đến
miền
núi,
vào
một
thành
thuộc
chi
tộc
Giuđa,
chắc
hẳn
Đức
Maria
đã
trầm
tư,
suy
ngẫm
về
biến
cố
ngài
vừa
sống
qua.
Lời
chào
đón
của
bà
Êlidabét
làm
như
gợi
lại
đìều
thách
đố
và
lời
yêu
cầu
kia,
cũng
như
xác
nhận
lại
lời
hứa
và
việc
thành
tựu
lời
hứa
ấy,
tức
là
những
gì
nói
đến
trong
buổi
Truyền
tin.
Là
nữ
tỳ
yêu
dấu
của
Đấng
Tối
cao,
hiền
thê
trinh
trong
của
Chúa
Thánh
Thần,
người
Mẹ
tuyển
chọn
của
người
con
rất
thánh
được
gọi
là
Con
Thiên
Chúa,
Đức
Maria
đã –
một
lần
nữa
–
hân
hoan
bày
tỏ
thái
độ
đáp
trả.
Phản
ánh
thị
kiến
của
các
ngôn
sứ,
niềm
trông
đợi
của
Ítraen,
lòng
tín
trung
của
Đấng
Toàn
năng,
khúc
ca
tán
tụng
của
Đức
Maria
biểu
lộ
cho
thấy
rõ
một
thứ
trực
giác
đức
tin
đã
bước
sang
một
giai
đoạn
tiến
phát
mới
mẻ,
bởi
khả
năng
phục
thuận
Thiên
Chúa
nơi
ngài
đã
thực
sự
gia
tăng
thêm
hẳn.
Giai
đoạn
thứ
hai
trong
tiến
trình
trưởng
thành
về
lòng
tin
của
Đức
Maria
được
ghi
lại
trong
các
đoạn
trình
thuật
về
thời
thơ
ấu
của
Đức
Giêsu.
Các
đoạn
trình
thuật
này
kể
đến
nhiều
sự
việc
khác
nhau,
như:
nỗi
lao
tâm
khổ
tứ
của
thánh
Giuse
trong
những
hoàn
cảnh
khó
khăn
chung
quanh
biến
cố
hạ
sinh
Đức
Giêsu;
cuộc
tha
hương
lánh
nạn
sang
Ai
cập;
những
lời
tiên
tri
của
Simêon;
biến
cố
Đức
Maria
lạc
mất
Con
mình.
Không
kể
đến
những
lời
Đức
Maria
đã
nói
với
Hài
nhi,
khi
ngài
và
thánh
Giuse
tìm
được
Người
trong
đền
thờ,
thì
những
sự
việc
vừa
nêu
được
khắc
họa
nên
bằng
chính
thái
độ
giữ
thinh
lặng
của
Đức
Maria,
khi
ngài
ghi
sâu
và
ngẫm
suy
trong
lòng
hết
thảy
những
gì
ngài
đã
nghe
và
chứng
kiến.
Cùng
lúc,
phần
lớn
các
sự
việc
ấy
cũng
được
họa
dệt
giữa
bóng
tối
đức
tin
phủ
kèm
với
quá
trình
nhận
thức
từng
bước
về
“hoàn
cảnh
lịch
sử
cụ
thể
trong
đó
Con
mình
phải
hoàn
thành
sứ
mạng
của
Người
giữa
những
hiểu
lầm
và
khổ
đau.”
Thái
độ “vâng
phục
trong
đức
tin”
của
Đức
Maria
–
thể
hiện
qua
lời
ngài
đáp
trả
với
sứ
thần
–
không
chỉ
thu
hẹp
vào
trong
khoảnh
khắc
Truyền
tin.
Nơi
từng
bước
tiến
trên
con
đường
đức
tin,
vào
mỗi
thời
điểm
quan
trọng
đánh
dấu
sự
hiểu
biết
và
nhận
thức
rõ
ràng
hơn
của
ngài
về
sứ
mạng
Con
mình
và
về
phần
đóng
góp
của
mình
vào
sứ
mạng
ấy,
Đức
Maria
cũng
đã
thể
hiện
được
thái
độ
vâng
phục
của
mình,
một
thái
độ
vâng
phục
mang
cùng
một
tính
cách
trọn
vẹn
hệt
như
lúc
đầu,
khi
ngài
mới
bước
vào
cuộc
hành
trình
hướng
về
Thiên
Chúa;
và
càng
lúc,
thái
độ
vâng
phục
ấy
càng
trở
nên
mới
mẻ,
vững
vàng
và
sâu
đậm
thêm
hơn.
Thái
độ
vâng
phục
của
Đức
Maria
là
một
đặc
nét
lộ
hiện
rõ
mổn
một
trong
mầu
nhiệm
về
lòng
tin
của
ngài
vào
một
Đấng
Thiên
Chúa
luôn
có
những
đường
lối
khôn
dò,
những
quyết
định
không
thể
hiểu
thấu.
Thái
độ
vâng
phục
của
Đức
Maria
trong
đức
tin
–
trong
“ánh
sáng
lờ
mờ”
của
đức
tin,
trong
“đêm
đen”
đức
tin
–
biểu
thị
tình
trạng
ngài
phải
chấp
nhận
trước
khi
sự
việc
xảy
đến,
hết
thảy
những
gì
đã
được
tiền
định
trong
kế
hoạch
thần
linh
vốn
chỉ
được
mạc
khải
trọn
vẹn
qua
một
quá
trình
tiệm
tiến.
Thái
độ
vâng
phục
của
Đức
Maria
đã
trở
thành
một
nét
chủ
đạo
(leitmotiv)
của
những
tháng
năm
ẩn
dật
ở
Nadarét,
là
giai
đoạn
Đức
Giêsu
lớn
lên
về
tuổi
tác,
tiến
bộ
vững
vàng
về
mặt
khôn
ngoan
và
ân
sủng,
và
là
giai
đoạn
mà
mẹ
Người
–
“con
người
đầu
tiên...
khám
phá
Đức
Kitô”
–
trưởng
thành
thêm
trong
đức
tin,
càng
lúc
càng
được
tô
điểm
cho
phong
phú
hơn
nhờ
lớn
lên
trong
mọi
ân
sủng.
Về
điều
này,
tưởng
có
thể
trưng
dẫn
lại
ở
đây
lời
của
Đức
Hồng
y
John
Henry
Newman
tha
thiết
khuyên
nhủ
các
kitô
hữu
hãy
có
thái
độ
kiên
tâm
bền
chí
trong
đời
sống
và
trong
cuộc
lữ
hành
đức
tin
mà
các
môn
đồ
Đức
Kitô
đã
được
mời
gọi
bước
vào:
“Ước
gì
chúng
ta
coi
mình
có
phúc
khi
–
theo
năm
tháng
dần
trôi
–
chúng
ta
được
ban
thêm
hết
ân
huệ
này
đến
ân
huệ
khác,
và
khi
–
theo
đà
trưởng
thành
đi
lên,
qua
từng
bước
một
–
chúng
ta
không
có
thái
độ
chểnh
mảng
đối
với
ân
huệ
thấp
hơn
sau
khi
đã
nhận
được
ân
huệ
cao
hơn,
cũng
như
không
tìm
cách
nhắm
đến
ân
huệ
cao
hơn
trước
khi
nhận
được
ân
huệ
thấp
hơn.
Ân
huệ
đầu
tiên
là
đức
tin,
ân
huệ
cuối
cùng
là
đức
ái;
nhiệt
tâm
đến
trước,
từ
ái
đến
sau;
khiêm
hạ
đến
trước,
an
bình
theo
sau;
chuyên
cần
có
trước,
rồi
mới
đến
nhẫn
nhục.
Ước
gì
chúng
ta
học
biết
cách
làm
tăng
triển
mọi
ân
huệ
trong
chúng
ta;
hãy
kính
sợ
và
khiếp
run,
canh
thức
và
hối
cải,
bởi
Đức
Kitô
đang
đến;
hãy
hân
hoan,
cảm
tạ,
và
đừng
lo
lắng
về
tương
lai,
vì
Người
đã
đến.”
Quả
thực,
mầu
nhiệm
về
lòng
tin
của
Đức
Maria
cũng
như
cuộc
lữ
hành
đức
tin
của
ngài
–
không
hề
gợn
một
chút
dấu
vết
nào
của
tội
lỗi,
vượt
ra
khỏi
mọi
giới
hạn
của
vòng
tội
lụy
– đã
trở
thành
một
thứ
kiểu
mẫu
điển
hình
về
cuộc
hành
trình
thiêng
liêng
mà
mọi
môn
đồ
của
Đức
Kitô
đều
được
mời
gọi
dấn
bước
vào.
Có
thể
nói
ngay
mà
không
cần
phải
do
dự
rằng
có
một
chiều
kích
Maria
(Marian
dimension)
tồn
tại
ngay
trong
cuộc
đời
của
mọi
môn
đồ
Đức
Kitô.
Chiều
kích
Maria
ấy
lộ
hiện
lên
trong
các
văn
đoạn
kinh
thánh
ghi
lại
các
bước
triển
phát
về
sau
nơi
tiến
trình
mầu
nhiệm
về
đời
sống
đức
tin
của
Đức
Maria.
Theo
dõi
đoạn
trình
thuật
về
tiệc
cưới
Cana,
thì
có
thể
bắt
gặp
được
hình
ảnh
của
một
Đức
Maria
đang
mang
nơi
mình
những
hiểu
biết
và
nhận
thức
mới
mẻ –
đã
tiến
đến
một
mức
trưởng
thành
sâu
xa
hơn
–
nhờ
vào
kinh
nghiệm
sống
ngài
đã
có
với
con
mình
suốt
trong
quãng
thời
gian
ẩn
dật
ở
Nagiarét.
Những
lời
lẽ
ngài
thưa
với
Đức
Giêsu
mang
tính
cách
đơn
sơ,
bộc
trực,
không
cầu
kỳ
kiểu
cách,
và
đượm
đầy
tin
tưởng.
Những
chỉ
dẫn
ngài
truyền
cho
các
gia
nhân
giúp
bàn
cũng
mang
tính
cách
rõ
ràng,
dứt
khoát,
biểu
lộ
uy
lực
của
một
lòng
tin
kiên
cường
trước
mọi
bất
trắc
có
thể
dự
kiến,
cũng
như
cho
thấy
được
niềm
xác
tín
mà
nhờ
đó
ngài
đã
có
thể
làm
bừng
dậy
trong
tâm
hồn
những
người
khác
một
thái
độ
cởi
mở
ứng
đáp
để
đón
nhận
những
hạt
giống
đức
tin
và
lòng
tuân
phục
cần
phải
có
cho
cuộc
lữ
hành
[thiêng
thiêng]
của
chính
họ.
Thái
độ
bình
thản
của
Đức
Maria
trước
việc
Đức
Giêsu
gọi
ngài
là
‘bà’,
đã
cho
thấy
một
bước
trưởng
thành
tiệm
tiến
của
lòng
tin
nơi
Đức
Maria.
Việc
sử
dụng
từ
‘bà’
trong
Ga
2:4
và
Ga
19:2
–
cùng
với
cách
giải
thích
ám
chỉ
đến
Đức
Maria,
trong
Mc
3:35
và
trong
Lc
11:27-28
–
không
chỉ
biểu
thị
một
bước
phát
triển
về
đức
tin
của
Đức
Maria
nhờ
vào
tiến
trình
mạc
khải
liên
tục
của
Ngôi
Lời
cho
ngài,
mà
còn
nói
lên
một
bước
biến
đổi
trong
mối
quan
hệ
giữa
ngài
với
Con
mình.
Đà
phát
triển
và
biến
đổi
này
sẽ
đạt
đến
đỉnh
điểm
của
nó
trên
đồi
Canvariô.
Đức
Maria
đã
hiện
diện
dưới
chân
Thánh
giá.
Trên
đồi
Canvariô,
ngài
là
tín
hữu
tuyệt
thế.
Nhìn
vào
Đức
Giêsu,
Đức
Maria
thấy
rằng
thân
xác
treo
trên
Thập
giá
chính
là
thân
xác
Người
đã
nhận
lấy
từ
nơi
ngài.
Còn
hơn
cả
thế,
“qua
đức
tin,
người
Mẹ
ấy
đã
dự
phần
vào
cái
chết
của
Con
mình,
vào
cái
chết
có
sức
đem
lại
ơn
cứu
độ
của
Người...”
Thánh
John
Eudes
thì
nhắc
đến
“những
nỗi
thống
khổ
dày
vò
Trái
tim
của
Đức
Maria
trong
giờ
phút
Con
ngài
trải
qua
cuộc
khổ
nạn.”
Tiếng
fiat
–
từng
được
thốt
lên
vào
khoảnh
khắc
cực
điểm
của
lòng
tin
ngài
đặt
vào
Đức
Kitô
đang
chờ
đợi
–
khoảnh
khắc
đã
trở
thành
điểm
xuất
phát
cho
toàn
bộ
hành
trình
đức
tin
của
ngài
– đã
bộc
lộ
được
ý
nghĩa
trọn
vẹn
đến
mức
tuyệt
đỉnh
của
nó
qua
thái
độ
thinh
lặng
của
ngài
trên
đồi
Canvariô:
“Như
thế,
Ðức
Nữ
trinh
cũng
đã
tiến
bước
trong
cuộc
lữ
hành
đức
tin
của
mình,
kiên
trì
giữ
vững
mối
hiệp
nhất
với
Con
mình
cho
đến
chân
thập
giá
là
nơi
ngài
đã
đứng
–
theo
kế
hoạch
của
Thiên
Chúa
– để
cùng
chịu
với
Người
Con
duy
nhất
của
mình
nỗi
thống
khổ
cực
độ
của
Người,
dự
phần
vào
hy
lễ
của
Con,
với
tấm
lòng
của
một
người
mẹ
hết
tình
ưng
thuận
hiến
tế
lễ
vật
do
lòng
mình
sinh
ra.”
Nếu
nhận
ra
rằng
“cuộc
Khổ
nạn
của
Đức
Kitô
không
cốt
nhiều
ở
những
nỗi
thống
khổ
Người
đã
gánh
chịu,
cho
bằng
ở
việc
Người
bằng
lòng
gánh
chịu
chúng
với
một
thái
độ
vâng
phục
trọn
vẹn
đối
với
Cha
Người,”
thì
có
thể
sẽ
dễ
dàng
hiểu
được
việc
“mẹ
và
Con
đã
hiệp
nhất
với
nhau
đến
mức
độ
nào
trong
Giờ
đó.”
Trên
đồi
Canvariô,
lòng
tin
của
Đức
Maria
hùng
hồn
biểu
hiện
qua
thái
độ
lặng
thinh.
Dù
vậy,
Đức
Giêsu
đã
thực
sự
lên
tiếng.
Những
lời
Người
nói
–
hệt
như
một
cuộc
Truyền
tin
mới
– đã
gợi
mở
ra
một
thứ
thách
đố
tột
bực,
một
lời
mời
gọi
mới
mẻ,
dành
cho
Đức
Maria.
Tâm
hồn
khả
kính
của
Đức
Maria
đã
hóa
thành
tâm
hồn
tông
đồ
của
ngài.
Với
lòng
tin
đã
đạt
đến
độ
chín
mùi
qua
một
quá
trình
trưởng
thành
dưới
sự
dẫn
dắt
của
Thần
Khí
là
Đấng
tỏa
rợp
bóng
trên
ngài
ở
Nagiarét,
toàn
bộ
con
người
của
Đức
Maria
đã
trở
thành
một
tiếng
fiat,
một
thái
độ
hoàn
toàn
vâng
phục
trong
đức
tin;
và
đây
“có
lẽ
là
cuộc
tự
hủy
trong
đức
tin
(kenosis
of
faith)
triệt
để
nhất
trong
lịch
sử
nhân
loại.”
“Như
thế,
nhờ
thái
độ
vâng
phục,
nhờ
lòng
trông
cậy
và
yêu
mến
nồng
nàn
của
mình,
Đức
Maria
đã
đặc
biệt
cộng
tác
vào
công
trình
của
Đấng
Cứu
độ
để
phục
hồi
sự
sống
siêu
nhiên
cho
các
linh
hồn.
Bởi
vậy,
trên
bình
diện
ân
sủng,
Ngài
đích
thực
là
Mẹ
chúng
ta.”
Vì
Đức
Maria
là
mẹ
các
tín
hữu
trên
bình
diện
ân
sủng,
nên
mầu
nhiệm
về
lòng
tin
của
ngài
mang
lấy
một
ý
nghĩa
đặc
biệt
khi
mà
Giáo
hội
đang
dấn
bước
trong
cuộc
lữ
hành
tiến
vào
giai
đoạn
khởi
đầu
của
Thiên
kỷ
thứ
Ba.
III.
HưỚng
đẾn
bình
minh
Thiên
kỶ
thỨ
Ba
Lòng
tin
của
Đức
Maria
để
lộ
rõ
tầm
trọng
yếu
và ý
nghĩa
đặc
biệt
của
nó
đối
với
Giáo
hội
và
đối
với
thế
giới,
khi
tín
hữu
để
tâm
suy
ngẫm
về
mầu
nhiệm
này
dưới
sự
hướng
dẫn
của
Chúa
Thánh
Thần,
trong
giai
đoạn
Giáo
hội
chuẩn
bị
tiến
vào
năm
2000.
Trong
tiêu
đích
này,
bài
viết
sẽ
bàn
về
lòng
tin
của
Đức
Maria
theo
các
sắc
thái
kinh
thánh,
giáo
hội
và
cánh
chung.
Lòng
tin
của
Đức
Maria
là
dạng
đức
tin
mang
bản
chất
kinh
thánh.
Lòng
tin
ấy
lộ
hiện
lên
trong
và
qua
Lời
mạc
khải
của
Thiên
Chúa.
Đem
đối
chiếu,
thì
có
thể
thấy
rằng
lòng
tin
của
Đức
Maria
là
điểm
tuyệt
đỉnh
của
–
thậm
chí
còn
vượt
trỗi
lên
trên
–
lòng
tin
nơi
Abraham.
Tuy
nhiên,
xem
xét
tước
hiệu
“Evà
mới”
của
ngài,
ắt
tín
hữu
sẽ
có
thể
nắm
bắt
được
trọn
vẹn
nhất
ý
nghĩa
phản
ánh
bản
chất
kinh
thánh
nơi
lòng
tin
của
Đức
Maria.
John
Henry
Newman
đã
cất
công
thâu
thập
các
bằng
chứng
có
từ
những
thời
sơ
khai,
liên
quan
đến
kiểu
so
sánh
đối
chiếu
ấy;
đây
là
kiểu
đối
sánh
mà
các
Giáo
phụ
đã
dùng
đến,
là
giáo
lý
mà
các
ngài
đã
nhận
được
từ
các
thế
hệ
kitô
hữu
tiền
bối,
và
tiếp
tục
chuyển
trao
lại
cho
các
thế
hệ
nối
gót
theo
mình.
Newman
đã
kể
ra
rất
nhiều
nhân
chứng
khác
nhau
sống
trong
mọi
miền
xứ –
từ
Phi
châu
đến
Rôma;
từ
Paléttin,
tiểu
Á,
đến
Gaul;
từ
Syria,
Ai
cập,
đến
Cyprus
–
nhằm
bênh
vực
cho
lập
trường
nhìn
nhận
Đức
Maria
như
là
“Eva
mới.”
Dẫn
ra
trường
hợp
của
thánh
Irênê
–
người
được
Pôlycáp
hướng
dẫn
để
đến
với
đức
tin
–
Newman
đã
tập
trung
chú
ý
đến
truyền
thống
Gioan
là
truyền
thống
mà
vị
Giáo
phụ
này
chủ
trương
bênh
vực.
Coi
Đức
Maria
như
là
“Evà
mới,”
các
tác
giả
thuộc
truyền
thống
này
đã
chú
tâm
nêu
bật
lên
nét
tương
phản
giữa
lòng
tin
của
Đức
Maria
với
thái
độ
thiếu
lòng
tin
của
Evà,
giữa
thái
độ
vâng
phục
của
Đức
Maria
với
thái
độ
bất
tuân
phục
của
Evà,
giữa
những
hoa
trái
của
ân
sủng
nơi
Đức
Maria
với
tình
trạng
bị
tước
mất
các
đặc
ân
nơi
Evà
do
tội:
“Nếu
Evà
là
nguyên
nhân
gây
ra
cảnh
diệt
vong
cho
tất
cả,
thì
Maria
lại
là
nguyên
nhân
đem
đến
ơn
cứu
chuộc
cho
hết
thảy...;
nếu
Evà
mở
lối
làm
cho
Ađam
sa
ngã,
thì
Maria
lại
dọn
đường
cho
công
cuộc
đền
chuộc
của
Chúa
chúng
ta;...
nếu
Evà
đã
góp
phần
vào
việc
gây
ra
một
sự
dữ
khủng
khiếp,
thì
Maria
đã
cộng
tác
vào
việc
đưa
đến
một
sự
thiện
còn
vĩ
đại
hơn
nhiều.”
Cách
kiểu
đối
chiếu
này
được
đặt
nền
tảng
trên
giáo
huấn
của
thánh
Phaolô
về
Đức
Kitô
–
Ađam
mới
– và
dựa
vào
tình
trạng
hiện
diện
của
Đức
Maria
“trong
mầu
nhiệm
Đức
Kitô
vào
mỗi
một
bước
tiến
lên
trong
cuộc
hành
trình
trần
thế
của
ngài.”
Quả
thực,
bản
chất
kinh
thánh
phản
ánh
vai
trò
của
Đức
Maria
như
là
Evà
mới,
đã
lộ
hiện
hết
sức
rõ
ràng
từ
thái
độ
thinh
lặng
của
ngài
dưới
chân
Thánh
giá,
và
làm
dội
lại
“với
âm
hưởng
tuyệt
mức
hùng
hồn”
những
lời
bà
Êlidabét
đã
thốt
lên
sau
cuộc
Truyền
tin.
“Bức
tranh
toàn
cảnh
về
những
ơn
phúc
do
lòng
tin
ấy,
sáng
hiện
lên
và
rạng
tỏa
ra
từ
Thập
giá,
tức
là
từ
tâm
điểm
của
mầu
nhiệm
Cứu
chuộc.”
Chiều
kích
kinh
thánh
về
lòng
tin
của
Đức
Maria
đã
trung
thành
phản
ánh
được
mọi
đường
nét
uyển
chuyển
khắc
họa
nên
bức
tranh
mầu
nhiệm
về
cuộc
lữ
hành
của
Đức
Maria.
Lòng
tin
của
Đức
Maria
cũng
là
dạng
loại
đức
tin
mang
bản
chất
giáo
hội.
Mầu
nhiệm
về
bản
chất
giáo
hội
nơi
đức
tin
của
Đức
Maria
đặt
nền
tảng
trên
sự
hiện
diện
của
ngài
“trong
tư
cách
là
chi
thể
hoàn
toàn
có
một
không
hai
của
Giáo
Hội...
là
mẫu
mực,
là
gương
sáng
phi
thường
của
Giáo
Hội
về
đức
tin
và
đức
ái,...
[và]
là
một
người
Mẹ
rất
mực
dấu
yêu.”
Chi
thể
của
Giáo
hội,
Đức
Maria
là
người
đầu
tiên
đón
nhận
mọi
ân
sủng
cứu
độ
mà
Đức
Giêsu
Kitô
mang
đến
cho
hết
thảy
mọi
người,
thuộc
mọi
thời
đại.
Mẫu
mực
và
gương
sáng
của
Giáo
hội,
Đức
Maria
là
người
đầu
tiên
đã
tin
nhận
và
bước
theo
Chúa
trong
tư
thế
là
một
môn
đồ,
“một
cộng
tác
viên
quảng
đại,
một
nữ
tỳ
khiêm
hạ,”
và
“như
là
mẫu
gương
của
mọi
nhân
đức.”
Qua
Đức
Maria,
“Giáo
hội
đã
đạt
đến
mức
toàn
thiện
của
mình,
sống
trong
tình
trạng
tinh
tuyền,
không
tỳ
không
vết
.”
Một
cách
ưu
việt,
Đức
Maria
là
mẹ
Giáo
hội.
Địa
vị
mẫu
hệ
trên
bình
diện
ân
sủng
–
tức
vai
trò
làm
mẹ
Đức
Kitô
toàn
thể
–
của
Đức
Maria,
đâm
rễ
vào
và
xuất
phát
từ
địa
vị
mẫu
hệ
của
ngài
đối
với
Ngôi
Lời
Nhập
thể,
Đức
Giêsu
Kitô.
Xét
ở
một
số
khía
cạnh
nào
đó,
theo
kết
quả
nhắm
đến
của
nó,
thì
địa
vị
mẫu
hệ
song
đôi
ấy
chỉ
là
một:
Bởi
nhờ
ngài,
Người
đã
mặc
phận
người:
Được
sinh
hoài
và
luôn
luôn
mới,
Nhưng
mầu
nhiệm
diệu
kỳ
khôn
với,
Giờ
đây,
mặc
tinh
thần,
chứ
chẳng
phải
xác
phàm
Ôi,
diệu
kỳ!
Việc
chính
tay
Người
làm:
Tạo
giữa
chúng
ta
những
làng
Nadarét
mới,
Nơi
cả
sáng,
cả
trưa,
lẫn
tối,
Ngài
vẫn
tiếp
tục
thụ
thai
Người;
Và
tạo
ra
những
hang
Bêlem
mới,
Nơi
Người
tiếp
tục
được
hạ
sinh,
Lúc
tối
chiều,
trưa
xế,
hay
bình
minh...
Đấng
đã
được
sinh
ra
như
vậy,
Đang
hóa
thành
con
người
mới
tôi
đây,
Làm
tôn
thêm
muôn
phần
cao
vợi,
Nét
con
người
trong
mỗi
con
người;
Khi
hoàn
tất
trọn
mọi
điều
như
vậy,
Người
làm
cho
hết
thảy
mọi
người
đây
Nên
con
Thiên
Chúa,
lẫn
con
Đức
Bà.
“‘Địa
vị
làm
mẹ’
Giáo
hội
của
Đức
Maria,
phản
ánh
và
mở
rộng
địa
vị
làm
mẹ
Con
Thiên
Chúa
của
ngài.”
Tiềm
tàng
trong
cả
hai
phương
diện
–
phản
ánh
tính
chất
giáo
hội
–
nơi
địa
vị
mẫu
hệ
thần
linh
của
Đức
Maria,
còn
có
một
chiều
kích
phổ
quát,
một
thứ
chiều
kích
bao
trọn
toàn
thể
nhân
loại
và
phủ
trùm
lên
trên
toàn
bộ
lịch
sử
loài
người.
Như
thế,
rốt
cuộc,
lòng
tin
của
Đức
Maria
cũng
là
một
thứ
đức
tin
mang
tính
chất
cánh
chung.
Liên
quan
đến
tính
chất
cách
chung
mà
lòng
tin
của
Đức
Maria
nêu
rõ,
có
ba
khía
cạnh
cần
được
khảo
xét:
khía
cạnh
kitô
học,
giáo
hội
học,
và
nhân
loại
học.
Khía
cạnh
kitô
học
nơi
lòng
tin
mang
tính
chất
cách
chung
của
Đức
Maria,
lộ
hiện
từ
khoảnh
khắc
“Đức
Maria
được
dứt
khoát
mời
gọi
tiến
vào
mầu
nhiệm
của
Đức
Kitô,”
lúc
diễn
ra
biến
cố
Truyền
tin.
Phúc
phận
(blessedness)
của
Đức
Maria
cũng
chính
là
dạng
ân
phúc
thiêng
liêng
được
tuôn
ban
trên
hết
mọi
dân
tộc,
cho
đến
tận
cùng
thời
gian,
qua
Đức
Giêsu
Kitô,
Ngôi
Lời
Nhập
thể
của
Thiên
Chúa.
Qua
mầu
nhiệm
Nhập
thể,
lời
Thiên
Chúa
hứa
ban
ơn
cứu
độ
trở
thành
hiện
thực
trong
một
khoảnh
khắc
đánh,
đã
dấu
thời
viên
mãn.
Ơn
cứu
độ
được
hứa
ban
cho
hết
thảy
nhân
loại,
đã
được
hoàn
tất
trước
nơi
Đức
Maria,
nhờ
vào
công
nghiệp
về
sau
của
Con
ngài,
Chúa
Giêsu
Kitô.
Qua
Đức
Maria,
Đấng
Cứu
độ
nhân
loại
đã
mặc
lấy
xác
phàm,
được
sinh
ra
trong
thế
gian,
để
thực
hiện
công
trình
cứu
độ
của
Người.
Sau
nữa,
khía
cạnh
kitô
học
nơi
lòng
tin
mang
chiều
kích
cánh
chung
của
Đức
Maria,
còn
được
thể
hiện
qua
tình
trạng
thông
phần
và
tham
dự
của
ngài
vào
mầu
nhiệm
Vượt
qua
của
Con
mình.
Xuất
hiện
tiếp
liền
sau
cuộc
Tử
nạn
và
Phục
sinh
của
Đức
Kitô,
khía
cạnh
giáo
hội
học
–
phản
ánh
chiều
kích
cánh
chung
–
nơi
lòng
tin
của
Đức
Maria,
giúp
tín
hữu
tiến
vào
khung
cảnh
phòng
Tiệc
ly,
vào
quãng
thời
gian
giữa
cuộc
Thăng
thiên
và
Hiện
xuống.
“Nơi
phòng
Tiệc
ly,
cuộc
hành
trình
của
Đức
Maria
và
cuộc
hành
trình
đức
tin
của
Giáo
hội
đã
gặp
nhau.”
Trong
sứ
mạng
Đức
Giêsu
đã
trao
phó
cho
Giáo
hội
của
Người,
nơi
phòng
Tiệc
ly,
Đức
Maria
–
Trinh
Nữ
và
là
Mẹ –
hiện
diện
trước
mắt
Giáo
hội
theo
những
tư
thế
mới
mẻ,
như
là:
“một
chứng
nhân
đặc
biệt
cho
mầu
nhiệm
Đức
Kitô,
một
mẫu
gương
về
cuộc
lữ
hành
đức
tin
của
toàn
thể
tín
hữu
kitô,”
một
con
người
có
tâm
hồn
nhiệt
thành
cầu
nguyện.
Nhờ
thái
độ
vâng
phục
của
mình,
Đức
Maria
đã
trở
thành
mẫu
gương,
cho
hết
thảy
mọi
thời
đại,
về
đức
tin,
đức
ái,
và
tình
trạng
kết
hiệp
trọn
vẹn
với
Đức
Kitô.
Trong
Đức
Maria,
Giáo
hội
hiện
diện
ở
tình
trạng
toàn
thiện
như
là
Hiền
thê
xinh
đẹp
lộng
lẫy
và
không
tỳ ố
của
Đức
Kitô.
Sự
hiện
diện
của
Đức
Maria
trong
Giáo
hội,
vai
trò
làm
Mẹ
Giáo
hội
của
ngài,
và
phần
thông
dự
của
ngài
vào
trong
sứ
mạng
của
Giáo
hội,
đã
làm
lộ
hiện
rõ
khía
cạnh
nhân
loại
học
nơi
lòng
tin
mang
chiều
kích
cánh
chung
của
Đức
Maria.
Công
trình
cứu
độ
của
Đức
Giêsu
đã
làm
cho
nhận
ra
một
sứ
mạng
phổ
quát
bao
trọn
toàn
thể
nhân
loại.
Trưởng
thành
lên
trong
bước
đường
lữ
hành
đức
tin
từ
cuộc
Truyền
tin
cho
tới
biến
cố
Canvariô,
Đức
Maria
đã
dự
phần
vào
sứ
mạng
mang
chiều
kích
phổ
quát
ấy.
Chính
ngài
là
người
phải
có
mặt
để
trợ
giúp
“cho
mọi
cá
nhân,
mọi
cộng
đoàn,
cho
các
quốc
gia
và
dân
tộc,
cho
các
thế
hệ
cùng
các
thời
đại
lịch
sử
con
người...”
Vai
trò
của
ngài
mang
một
ý
nghĩa
hết
sức
đặc
biệt,
khi
Giáo
hội
đang
khởi
sự
dấn
bước
tiến
vào
Thiên
kỷ
thứ
Ba.
Hình
ảnh
Đức
Maria
lộ
hiện
rõ
ràng
trước
mắt
toàn
thể
cộng
đồng
nhân
loại,
khi
Giáo
hội
tiến
bước
vào
năm
2000.
Vào
thời
điểm
này,
khi
Giáo
hội
đặc
biệt
kêu
cầu
Chúa
Thánh
Thần
ban
ơn
hướng
dẫn
cho
công
cuộc
chuẩn
bị
nhắm
đón
sự
kiện
ấy,
thì
vai
trò
của
Đức
Maria
lại
trở
nên
đặc
biệt
hơn
bao
giờ
hết.
Nhờ
bóng
phủ
tỏa
rợp
của
Chúa
Thánh
Thần,
ngài
đã
thụ
thai
Ngôi
Lời
Nhập
thể.
Được
dẫn
dắt
nhờ
sự
hiện
diện
ưu
việt
và
vĩnh
cửu
của
Chúa
Thánh
Thần,
được
tô
điểm
cho
phong
phú
với
những
ân
sủng
có
một
không
hai,
được
chúc
phúc
nhờ
thái
độ
đặt
trọn
niềm
tin
vào
lời
truyền
tin
của
sứ
thần,
Đức
Maria
đã
sống
suốt
cuộc
đời
với
tâm
lòng
cởi
mở
và
vâng
phục
đối
với
Chúa
Thánh
Thần.
Suốt
trong
quãng
thời
gian
chuẩn
bị
tiến
vào
Thiên
kỷ
thứ
Ba,
Giáo
hội
mời
gọi
tín
hữu
chiêm
ngắm
những
hoa
trái
thiêng
liêng
đơm
kết
dồi
dào
nơi
mầu
nhiệm
về
lòng
tin
của
Đức
Maria
như
là
ân
huệ
tuyệt
đỉnh
và
vĩnh
cửu
Chúa
Thánh
Thần
đã
ban
cho
ngài
trong
cả
cuộc
đời.
Đức
Thánh
Cha
Gioan
Phaolô
II
đã
thiết
tha
kêu
mời
tín
hữu
kitô
để
tâm
chiêm
ngắm
và
bắt
chước
Đức
Maria,
“trước
hết,
như
là
người
nữ
đã
có
thái
độ
ngoan
ngoãn
vâng
nghe
tiếng
của
Thần
Khí;
như
là
người
nữ
biết
thinh
lặng
và
để ý
lưu
tâm;
như
là
người
nữ
của
lòng
trông
cậy
và,
hệt
như
Abraham,
là
người
đã
đón
nhận
thánh
ý
Thiên
Chúa
với
“lòng
trông
cậy
dù
không
còn
gì
để
cậy
trông
vào”
(x.
Rm
4:18).
Đức
Maria
là
hình
ảnh
phản
chiếu
trọn
vẹn
niềm
trông
cậy
sống
động
nơi
những
người
nghèo
của
Giavê
Thiên
Chúa,
và
là
một
gương
mẫu
sáng
chói
của
những
ai
biết
đặt
trọn
tâm
hồn
mình
vào
những
lời
Thiên
Chúa
hứa.
Mầu
nhiệm
về
lòng
tin
của
Đức
Maria
cũng
lộ
hiện
nổi
bật
trong
một
văn
đoạn
cuối
cùng
của
Kinh
Thánh.
Đứng
trong
tư
thế
chiến
thắng,
mình
khoác
mặt
trời,
được
tán
dương
như
là
trinh
nữ,
là
mẹ,
là
môn
đồ,
là
bà,
Đức
Maria
song
song
tiến
bước
cùng
với
“cuộc
mạc
khải
về
kế
hoạch
Thiên
Chúa
cứu
độ
dành
cho
nhân
loại”;
ngài
đã
đi
trước
Giáo
hội
để
nhờ
đó
mà
cùng
hiện
diện
và
đồng
hành
với
Giáo
hội
trong
cuộc
lữ
hành
trần
thế
tiến
vào
buổi
bình
minh
của
Thiên
kỷ
thứ
Ba
và,
vượt
xa
hơn
thế
nữa,
tiến
đến
đích
điểm
chung
cuộc
và
cao
trọng
là
ngày
Chúa
quang
lâm.
Tuấn
Anh
trình
dịch