LUẬN ÐỀ VỀ CÔNG CUỘC ÐỐI THOẠI LIÊN TÔN

Suy Tư ThẦn HỌc MỤc VỤ Trong BỐi CẢnh Châu Á [1]

NHẬP ÐỀ

0.1 Ðối thoại là một chiều kích cấu  thành không thể thiếu được trong  cuộc sống con người. Chỉ con người  mới có khả năng không những  phản ứng trước các kích tố  bên ngoài, mà còn dùng đến ngôn  ngữ và biểu tượng để ứng  đáp với những người chung  quanh và, nhờ đó, xây dựng nên  được cộng đoàn xã hội. Lẽ  ra với những phương tiện truyền  thông ngày càng dễ dàng và nhanh chóng,  với tình trạng tùy thuộc lẫn nhau  ngày càng chặt chẽ hơn trong các lãnh  vực kinh tế và chính trị, thì những  tương quan liên đới và tình bằng  hữu sẽ được gia tăng, củng  cố; nhưng không: tiêm nhiễm tham vọng  thống trị hằng tàng ẩn trong đáy  lòng con người, những hệ thống  biểu tượng làm cơ sở cho cấu  trúc cuộc sống loài người -- như  là ngôn ngữ, văn hóa và tôn  giáo -- hình như đã trở thành  căn nguyên làm phát sinh ra tranh chấp và  chia rẽ. Nhưng dù sao thì khát vọng hòa  bình và nhu cầu tình bạn cũng vẫn  dồn thúc con người tiến đến chỗ  biết dựa trên cơ sở của cùng  một thân phận làm người như nhau  cũng như của thái độ chấp nhận  cùng kính trọng phẩm giá và tự  do của nhau, mà đối thoại với nhau.  Bởi hằng hướng về với những  thực tại tối thượng, và nhờ  thế mà có được khả năng  vượt lên trên những mầm chia  rẽ cùng những giới hạn phân  cách trong lịch sử nhân loại, cho nên  các tôn giáo được mời gọi  để đóng giữ một vai trò lãnh  đạo đặc biệt trong tiến trình đối  thoại giữa xã hội loài người.

0.2 Ðức Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh  rằng “hơn bao giờ hết, ngày nay tầm  quan trọng và vai trò thiết yếu mà công  cuộc đối thoại liên tôn đảm  nhận vì lợi ích của tất cả các  tôn giáo và hết thảy mọi tín đồ,  đòi hỏi phải biết chung sức hợp  tác với nhau để làm sao cho mọi người  đạt tới được cứu cánh  siêu việt của mình, và kiện toàn  quy trình tiến phát đích thực của  con người mình, cũng như để giúp  cho các nền văn hóa bảo toàn được  những giá trị tinh thần và tôn giáo  trước những đổi thay đang xảy  đến nhanh chóng ở giữa xã hội.”  (Bài ngỏ lời trong buổi tiếp kiến  các thành viên Văn Phòng Tòa Thánh  Ðặc Trách về các Anh Chị Em ngoài  Kitô giáo, ngày 3 tháng 3, năm 1984).

0.3 Cộng đoàn nội giới nơi Thiên  Chúa ba ngôi trong một bản tính duy nhất,  và mối hiệp thông trong Nước Ngài  -- nơi mà Ngài mời gọi hết thảy  mọi người quy tụ về, và là công  trình mà Giáo hội có sứ mạng  phục vụ -- giúp cho nhận rõ ra rằng  công cuộc đối thoại là một chiều  kích cấu thành trong toàn bộ sứ mạng  của Giáo hội. Lịch sử Dân Chúa  trong Kinh Thánh thực là nguồn gợi  hứng và cũng là bước khởi  đầu cho công cuộc đối thoại ấy.  Xét về nguồn gốc và đại để  về quá trình lịch sử cuộc sống,  thì Dân Ítraen trong Cựu Ước, cũng  như Dân (Cộng đồng tín hữu) Kitô  thuở ban đầu trong Tân Ước, cả  hai đều đã hình thành phức hợp  từ nhiều dân nước khác nhau.  Gặp gỡ và đối thoại với  những truyền thống văn hóa và tôn  giáo khác là một hiện tượng  thường thấy trong lịch sử của  Dân Ítraen cũng như của Giáo hội.

0.4 Trong vùng đất Palêtin, Dân Ítraen  đã phải đương đầu với  những thực tại mới, phải ứng  đối với những vấn đề mới  và, vì thế, đã không thể làm  gì khác hơn là phải dấn bước  đối thoại với Canaan cả về mặt  văn hóa lẫn tôn giáo. Kết quả là  trong tất cả mọi lãnh vực cuộc sống  của mình, Ítraen đã phải học hỏi  và vay mượn từ di sản của các  người Canaan. Cuộc gặp gỡ văn  hóa và tôn giáo ấy đã ảnh hưởng  một cách có lợi cho lòng tin của  Ítraen, như có thể thấy rõ được  qua cách thức tuyên tín, lề lối phụng  tự và phương thức thiết đặt  quy luật của Giao Ước. Và thành quả  quan yếu nhất mà cuộc gặp gỡ ấy  đã mang lại cho Ítraen, là có được  một kinh nghiệm mới về Ðấng Yavê,  và một lối nhận thức sâu sắc  hơn về các thực tại trần thế,  coi đó như là những thành tố  thực sự có phần ở trong toàn  bộ niềm tin họ đặt vào nơi Yavê.

0.5 Khi phải đối diện với Do thái  giáo và văn hóa Hy lạp, Kitô giáo  đã có cơ hội khai triển một lối  nhìn mới, có tính cách thâu thập  về biến cố Ðức Kitô và về  Giáo hội, như đọc thấy trong Tân  Ước, đặc biệt là trong các văn  bộ Phaolô và Gioan.

0.6 Phaolô đã ý thức rất rõ  là cần phải trở nên Do thái với  người Do thái để có thể chinh  phục được người Do thái, và  phải trở nên lương dân (sống  ngoài Lề Luật Cựu Ước) với  lương dân để có thể chinh phục  lương dân (x. 1Cr 9,19-23). Trong những bài  thuyết giảng tại Lystra (Cv 14,25-27) và ở  giảng đường Arêôpagô (Cv 17,22-31),  Phaolô đã khai trình về sứ điệp  kitô theo một cách kiểu khéo léo đến  độ qua dạng thức biểu đạt ấy,  sứ điệp kia được coi là điểm  đến, là lời tổng kết, là câu  kết luận lôgíc của toàn bộ lịch  sử tôn giáo lương dân. Cũng như  lịch sử Ítraen đã đưa dẫn tới  sự việc Ðức Giêsu Kitô đến  trong thế gian, thì hệt như thế, lịch sử  thế giới lương dân cũng đã  chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận  sứ điệp kitô bằng cách dành  một chỗ để trống cho Ðấng Thiên  Chúa mà họ còn chưa biết đến, Ðấng mà người kitô sẽ ra sức  dùng các nỗ lực hoạt động rao  truyền của mình mà đặt vào trong  chỗ trống ấy.

0.7 Phản ánh ngôn ngữ và tư tưởng  Hy lạp, ngôn từ của Gioan đã làm  nhịp cầu nối kết giữa truyền thống  Phúc Âm thuần túy của vùng Palêtin  và phần thế giới bao la còn lại  nằm trong cũng như ngoài ảnh hưởng  văn hóa Hy lạp. Phương cách đối  thoại Gioan dùng đến, đã hiện rõ  ngay từ trong Lời Tựa của Phúc  Âm thứ tư (Ga 1,1-18); trong đó, tác  giả đã miêu tả về biến cố Ðức  Kitô. Nếu trong nửa phần đầu của  Lời Tựa, để miêu tả biến  cố ấy, tác giả đã dùng những  từ thông dụng, như “lời,”  “sự sống,” ánh sáng,” “thế  gian,” v.v., là những từ mà các  tôn giáo quanh trong vùng cũng dùng đến  và cùng hiểu theo một nghĩa giống nhau,  thì trong nửa phần sau, cũng để miêu  tả cùng một biến cố ấy, tác giả  đã dùng đến những thuật ngữ  đặc thù kitô, như “Giêsu Kitô,”  “ân sủng,” “sự thật,” “Con  Một của Thiên Chúa,” v.v. Giới thiệu  Ðức Kitô là “Lời” làm  trung gian biểu đạt thực kiện Thiên  Chúa hiện diện một cách nhiệm mầu  ở giữa trần gian, là mặc nhiên  Gioan nhìn nhận rằng ở trong truyền thống  các tôn giáo khác cũng có sự  việc Thiên Chúa tự mạc khải chính  mình ra. Gioan giới thiệu biến cố Ðức  Kitô như là một kinh nghiệm không phải  chỉ thu hẹp ở trong phạm vi kinh nghiệm  của riêng cá nhân mình hay của cộng  đoàn Giáo hội mình mà thôi, nhưng  là vượt hẳn lên trên bất cứ  một khuôn khổ điễn đạt cá biệt  nào, và có thể cảm nhận ra được  ở bất cứ đâu trong thế giới  loài người, tức như là một  kinh nghiệm có tính cách phổ quát: làm  thế là Gioan cho thấy rằng cộng đoàn  Giáo hội của mình đã được  chuẩn bị để dấn bước vào  trong cuộc đối thoại với các truyền  thống tôn giáo khác.

0.8 Trong hai ngàn năm qua, với những  cấp độ thành công nhiều ít tùy  trường hợp, Giáo hội đã từng  gặp gỡ và đối thoại với  không biết bao nhiêu dân tộc, nền văn  hóa và tôn giáo khác nhau. Tuy nhiên,  ngày nay, đặc biệt là tại Châu Á,  là nơi có nhiều tôn giáo lớn  đang bừng dậy và đang chuyển mình  theo đà canh tân, Giáo hội ý thức  rõ mồn một là mình đang đứng  trước một trạng huống thật khác  hẳn. Không còn nữa chuyện đặt  vấn đề để xem Giáo hội phải  giữ quan hệ như thế nào với các  nền văn hóa và các tôn giáo khác.  Chuyện cần làm bây giờ là phải  nhận định cho ra chỗ đứng và vai  trò của Giáo hội ở trong một thế  giới đa dạng về mặt tôn giáo  cũng như văn hóa. Trạng huống đổi  thay ấy, đã khơi dậy nhiều loại nghi  ngờ và nhiều thứ câu hỏi về  căn tính và sứ mạng của Giáo  hội tại Châu Á ngày nay.

0.9 Những Luận đề -- với những  lời bàn đi kèm -- sau đây, không  mảy may có ý đề xuất một công  trình khảo cứu hoàn toàn đến  nơi đến chốn bao hàm hết mọi vấn  đề kể ra trên đây. Dù vẫn sẵn  sàng đưa ra khi cần những nhận định  liên quan đến các trào lưu nhân bản,  chúng tôi cũng chỉ xin đặc biệt dồn  hết chú tâm vào các tôn giáo; làm  thế, là để giúp cho cuộc bàn thảo  được thêm sáng tỏ và đi vào  chiều sâu nhiều hơn. Tuy nhiên, quan hệ  giữa hai tín đồ không cùng tôn  giáo thì không giống với quan hệ  giữa một tín đồ tôn giáo và  một người vô tín ngưỡng. Các  Luận đề sẽ cố gắng đề ra một  mô mẫu mới, một cách thế mới  để nghiên cứu toàn bộ vấn đề  cũng như để tìm hiểu về mối tương  quan liên đới giữa các nhân tố  khác nhau trong toàn bộ ấy. Chúng tôi  hy vọng rằng các Luận đề này sẽ  giúp cho công tác suy tư nhằm tìm ra một  lối nhận thức mới về căn tính  của Giáo hội giữa một thế giới  đa dạng về mặt tôn giáo như đang  thấy hiện nay, và nỗ lực canh tân  sứ mạng của Giáo hội thành tựu  dễ dàng hơn, để nhờ đó, Giáo  hội có thể dốc toàn lực mà  phục vụ Thánh Linh, là Ðấng hằng  đưa dẫn toàn thể thế giới đến  chỗ hiệp nhất.

LUẬN ÐỀ 1

Hiện diện ở giữa các xã  hội đa tôn giáo tại Châu Á ngày  nay -- những xã hội đang phát triển  mạnh và đang đấu tranh để đạt  tới cho được cảnh trạng giải  phóng và mức sống sung mãn -- hết  thảy các tôn giáo đều được  mời gọi để cùng nhau đưa ra những  nguyên tắc chung khả dĩ bổ sung cho nhau,  hầu làm nền tảng luân lý và tôn  giáo cho cuộc đấu tranh ấy, cũng như  để trở thành những lực lượng  đẩy mạnh đà thăng tiến và tinh  thần hiệp thông, chứ không phải  để làm mầm mống gây ra cảnh phân  cách và xung đột. Có đối thoại  và hợp tác thì các tôn giáo  mới thực hiện công tác ấy được.  Giữa cuộc sống chung trong xã hội, các  tôn giáo đóng giữ vai trò làm  tiên tri. Các tôn giáo cần tránh cho  khỏi trở thành nạn nhân của bất  cứ một phía nào: của phía những  người cố tìm cách cầm giữ  tôn giáo lại trong phạm vi phi chính trị  và thuần túy cá nhân riêng tư, cũng  như của phía những người ra sức  lèo lái để dùng tôn giáo làm  công cụ cho những mục tiêu chính  trị và công xã.

1. Lời Bàn

1.1 Các giám mục Châu Á đã có  dịp nói rõ về tác vụ rao truyền  Phúc Âm tại trong vùng, coi đó là  một công cuộc đối thoại ba chiều:  đối thoại với người nghèo,  đối thoại với các nền văn hóa,  và đối thoại với các tôn giáo  [Kỳ họp khoáng đại lần đầu của FABC: xin xem tài liệu FABC I, tt.25-28].  Trong ba thành tố làm nên bộ mặt thực  trạng Châu Á, tôn giáo xem ra là thành  tố đáng được chú ý đặc  biệt, bởi vì Châu Á là chiếc  nôi của các tôn giáo lớn. Các  tôn giáo này vẫn sống mạnh và hoạt  động đắc lực, và hơn nữa,  còn đang bừng dậy cùng chuyển mình  trên đường canh tân, cố tìm cách  đối phó với những thách đố  phát sinh từ lối sống mới trong thời  hậu thuộc địa, là thời đã  từng phải đương đầu một đàng  với thách đố hai mặt đến từ  hai phía khoa học và kỹ thuật hiện đại,  và đàng kia là với việc tiếp  xúc với nền văn hóa Tây phương.  Tình trạng đa dạng tôn giáo ấy rồi  sẽ ảnh hưởng như thế nào đến  đời sống các dân nước Châu  Á?

1.2 Tôn giáo là nhân tố sâu đậm  nhất của văn hóa. Tôn giáo tìm cách  mang lại những câu giải đáp thỏa  đáng cho các vấn nạn tối hậu của  con người. Tôn giáo là nguồn gợi  hứng, có sức soi sáng cho những  mục tiêu và mang lại nghị lực cho  các cá nhân và các cộng đoàn  trong nỗ lực kiên trì theo đuổi tiến  trình đưa dẫn đến mức thành  tựu viên mãn cuộc sống của mình.  Hướng tầm nhìn của họ về với  nguồn gốc và cứu cánh của họ,  tôn giáo đặt con người trước  trách vụ làm người của mình là  phải tiến lên cho tới mức sung mãn  trong tất cả mọi lãnh vực cuộc sống  của mình. Tôn giáo vẽ đường  chỉ lối cho cả các cá nhân lẫn các  cộng đoàn nhận biết cung cách xử  sự về mặt luân lý đạo đức.  Như thế, tôn giáo đóng giữ vai  trò làm tiên tri cho cả đời sống  cá nhân riêng tư lẫn đời sống  công cọng giữa xã hội. Những  trào lưu tục hóa ngày nay cố tìm  cách để biến tôn giáo thành một  chuyện riêng tư, không có lấy một  vai trò nào trong đời sống công giữa  xã hội. Do đó, đời sống công,  tức là đời sống kinh tế, xã  hội và chính trị của con người,  phải khuôn rập theo những lý tưởng  đơn thuần thế tục, như là: hòa  bình, hạnh phúc, trật tự, hiệu năng,  v.v. Bởi nằm ngoài vòng chỉ đạo  của các nguyên tắc luân lý phát  nguyên từ trong gốc rễ tôn giáo,  nên chẳng bao lâu, các lý tưởng  thế tục ấy đều rơi dần vào tình  trạng thoái hóa để trở thành  ích kỷ, trục lợi cho cá nhân cũng  như cho tập thể, cạnh tranh vô kỷ cương  đưa đến chỗ mạnh được  yếu thua, tạo ra lối sống tiêu thụ và  tệ trạng chạy theo lợi lộc, v.v. Khi  không còn được coi là quan trọng  đối với đời sống công như  thế, thì không mấy chốc tôn giáo  sẽ không còn mang lại được một  ý nghĩa nào nữa, và trở thành  một nhân tố tha hóa. Ngược hẳn  lại, nếu cắt nghĩa theo quan niệm chính  thống quá khích, thì sức mạnh cảm  tính của tôn giáo có thể được  dùng để nắn đúc lên một dạng  bản sắc tập thể chỉ biết lo khư khư  giữa thái độ tự vệ, có hại  cho bản sắc của các tập thể khác.  Và như thế, tôn giáo trở thành  một thứ công cụ của chính trị,  của công xã chủ thuyết (communalism), của chủ nghĩa chính thống cực đoan,  v.v., hóa thành căn nguyên gây ra xung đột.  Ðể tránh cho khỏi rơi vào hai chủ  hướng cực đoan này, thì Giáo  hội cần phải bảo toàn cho trọn vẹn  vai trò vô song của mình ở giữa  đời sống công trong xã hội, là  làm nguồn gợi hứng và làm tiên  tri cho cả cuộc sống công ấy nữa  [Hiến chế  Vui mừng và Hy vọng (VMHV),  42-43]

1.3 Nếu đâu đâu trong các xã hội  ngày nay cũng hiện rõ khát vọng muốn  thấy nhân phẩm và tự do con người  được tôn trọng thật sự, thì  xét theo tư cách là cá nhân riêng  rẽ hoặc như là phần tử của một  tập thể, bất cứ con người nào  cũng đều phải được công nhận  là có quyền hưởng tự do, là  quyền không thể chuyển nhượng hay  bị tước đoạt đi được  [Tuyên Ngôn về Tự do tôn giáo Phẩm  giá con người (TDTG), 2; VMHV,  16-17). Lương tâm cá nhân của mỗi  người là linh thiêng, là bất khả  xâm phạm, và phải được tôn  trọng. Trong một xã hội đa tôn giáo  như trong các xã hội tại Châu Á,  nếu thái độ tương kính ấy chỉ  đơn thuần biểu hiện qua sự việc  khoan dung chịu đựng lẫn nhau không thôi,  thì chưa đủ, mà còn cần phải  tỏ hiện rõ qua sự kiện chấp nhận  lẫn nhau và tích cực hợp tác  với nhau nữa. Là một tập thể  đứng trước cùng một số phận  chung, và liên kết với nhau bằng những  mối giây kinh tế, xã hội và chính  trị chung, thì, nếu muốn tránh cho khỏi  rơi vào tình trạng tự biến mình  trở thành như là một thứ sinh  hoạt chỉ mang tính chất tư riêng, tất  các tôn giáo phải làm sao để thái  độ chấp nhận lẫn nhau và tinh thần  tích cực hợp tác kia thực sự  mang lại một ý nghĩa và đóng giữ  một vai trò thích đáng ở giữa  cuộc sống chung trong xã hội. Nếu thực  sự muốn đạt đến chỗ tôn  trọng niềm thâm tín về lòng tin của  nhau, thì chỉ có một cách là các  tôn giáo phải gặp gỡ và trao đổi  với nhau qua một tiến trình đối thoại  có sức nối kết làm nên cộng  đoàn, một cộng đoàn đặt cơ  sở trên những giá trị cơ bản  mà với tất cả tự do cá nhân,  mỗi người rút ra từ lòng tin  tôn giáo của mình, nhưng đồng thời  cộng đoàn ấy cũng tìm cách làm  sao để có được mối đồng  tâm nhất trí trong các giá trị ấy,  hầu lấy đó làm nền móng cho đời  sống công cũng như cho các thể chế  kinh tế, xã hội và chính trị của  cuộc sống chung ấy. Theo chúng tôi nhận  định thì một nền móng chung có qua  có lại như thế là một điều vừa  cần thiết, vừa không thể tránh né  được, nếu thực sự muốn  xây dựng một cộng đoàn đa tôn  giáo quyết tâm gánh vác vai trò tích  cực mà tôn giáo có sứ mạng  phải đóng giữ trong đời sống  tư cũng như công của con người,  và gánh vác làm sao để tránh cho  được hai thái cực sau đây:  một đàng là biến tôn giáo trở  thành như một chuyện đơn thuần cá  nhân riêng tư, rồi từ đó đưa  dần đến một thứ xã hội phi tôn  giáo và phi luân lý; và đàng khác  là đặt tôn giáo làm nhân tố  chính để mà đoàn kết cho được  một xã hội.

1.4 Tại Madras (5 tháng 2, 1986) ngỏ lời trước  một nhóm các vị lãnh đạo tôn  giáo, Ðức Gioan Phaolô II đã nói:  “Hoa trái nẩy sinh từ đối thoại  là đoàn kết giữa các con người  với nhau, và giữa con người với  Thiên Chúa, là nguồn xuất phát và  là Ðấng mạc khải mọi sự thật;  Thần Linh của Ngài chỉ hướng dẫn  được con người đi trong tự  do khi con người biết đem lòng chân  thành và tình yêu thương mà gặp  gỡ lẫn nhau. Qua đối thoại, chúng  ta để cho Thiên Chúa hiện diện ở  giữa chúng ta; bởi vì, mở rộng  tâm lòng của chính chúng ta ra để  đối thoại với nhau, là cùng lúc  chúng ta cũng mở rộng tâm lòng chúng  ta cho Thiên Chúa. Cần phải dùng đến  những phương thế chính đáng thường  thấy trong xã hội loài người, như:  tình bằng hữu, thái độ hiểu biết  lẫn nhau và xác tín nội tâm. Cần  phải tôn trọng những quyền lợi  cá nhân cũng như dân sự của  mỗi người. Theo tư thế là những  tín đồ thuộc các tôn giáo khác  nhau, chúng ta nên cùng nắm tay hợp tác  với nhau nhằm đẩy mạnh và bảo  vệ những lý tưởng chung trong các  lãnh vực tự do tôn giáo, tình  huynh đệ giữa loài người, giáo  dục, văn hóa, an sinh xã hội và trật  tự dân sự.”

1.5 Viễn ảnh ấy đòi phải có một  lối nhìn tích cực về vai trò tôn  giáo đóng giữ ở giữa xã  hội, tức không coi tôn giáo chỉ như  là một thứ thuốc phiện gây tác  hại tha hóa, hay như là một thứ thượng  tần cơ sở áp bức đè nén.  Hơn thế nữa, trong viễn ảnh ấy, các  tôn giáo sẽ không còn bị coi như  là chỉ biết chống đối lẫn nhau, làm  mất hết mọi hy vọng chung sống hòa hợp,  nhưng trái lại, được coi như là  cùng nhau hợp thành một cộng đoàn  cơ bản có sức đưa dẫn ước  vọng đối thoại và trao đổi đến  chỗ có thể thực hiện và thành  tựu được; một cộng đoàn  mang tính chất bổ sung giúp cho nhau phong phú  thêm, cũng như có khả năng tiến  dần trong tương lai, đến mức thành  toàn hoàn bị làm nẩy sinh nên nhu cầu  cần phải cùng nhau chung sức dấn thân  trong tinh thần tôn trọng những gì niềm  tin riêng của mỗi người nhất thiết  coi là cơ bản, chủ yếu. Kiểu mẫu  cộng đoàn và tính cách bổ sung lẫn  nhau như thế chỉ là những nhân tố  đặc thù của một nhóm các cá  nhân, của kinh nghiệm họ có và của  việc họ cùng nhau dấn thân giữa  xã hội; chứ đó không phải là  những gì nói lên đặc nét biểu  trưng giáo lý của các tôn giáo và  thể chế khác nhau của các tín đồ  thành viên trong nhóm.

1.6 Cuộc đấu tranh mà người dân  Châu Á đang theo đuổi để đạt  tới cho được cảnh trạng giải  phóng và mức sống sung mãn, chính  là nhân tố chủ chốt làm nên bối  cảnh của cuộc đối thoại nói trên  đây. Cuộc đấu tranh ấy gợi lên  viễn ảnh sinh động về một tương  lai cần phải được mọi người  dân cùng chung sức dựng xây. Không  phải là không biết đến vô số  những trở ngại và những hình  thức đàn áp cần được  khắc phục trong lãnh vực cá nhân  cũng như về mặt thể chế, tuy thế,  điều đáng lưu tâm hơn cả hiện  nay vẫn là việc cùng nhau tìm tòi, cùng  nhau tiến bước, cùng nhau hướng  lên vươn cho tới mức thành tựu  sung mãn của con người, được  thâm tín và biểu đạt bằng nhiều  cách kiểu khác nhau, như: moksha, nirvana (niết  bàn), pleroma (cõi sung mãn), thiên đàng,  v.v.

1.7 “Bởi vì cũng như Giáo hội,  các tôn giáo đều là để phục  vụ nhân loại; thế nên, không thể  đem cuộc đối thoại liên tôn đóng  khung vào trong phạm vi đơn thuần tôn  giáo được, nhưng phải để cho  nó bao trùm hết mọi chiều kích của  cuộc sống: kinh tế, xã hội chính trị,  văn hóa và tôn giáo. Có biết cùng  nhau dấn thân nhằm kiến tạo một cuộc  sống sung mãn hơn cho cộng đồng nhân  loại, thì các tôn giáo mới khám  phá ra được là mình cần phải  bổ sung cho nhau, và mới nhận thức  rõ được tầm thiết yếu cùng  mức khẩn trương của công tác  đối thoại trong hết mọi cấp bậc”  [Viện đối thoại liên tôn, thuộc  các giám mục (BIRA) III, 7].

LUẬN ÐỀ 2

Ðối thoại với các tôn giáo  khác là một chiều kích cấu thành  trong sứ mạng của Giáo hội, là bí  tích biểu trưng Nước Thiên Chúa  đã được Ðức Kitô tuyên  giảng; bởi vì, các tôn giáo là  những nhân tố quan yếu và tích cực  trong kế hoạch cứu độ của Thiên  Chúa. Tại Châu Á ngày nay, dù ở  nhiều nơi họ chỉ là một “đoàn  chiên nhỏ bé,” nhưng lại nhận được  sức năng động bởi Thánh Linh,  là Ðấng đưa dẫn mọi sự đến  chỗ hiệp nhất, nên người kitô  được kêu gọi để đóng  giữ vai phục vụ và xúc tác hầu  giúp cho việc hợp tác liên tôn hình  thành và tiến hành dễ dàng hơn.  Ơn gọi này là một lời cảnh tỉnh  gióng lên để giúp tất cả các  Giáo hội nhớ lại là mình có  bổn phận phải cùng nhau làm chứng  trong khi đang cùng đồng hành hướng  đến mức hiệp thông đại kết  ngày càng toàn vẹn hơn.

2. Lời Bàn

2.1 Công đồng Vaticanô II đã không  những khẳng định lại giáo lý  cổ truyền dạy rằng “bằng một cách  thế chỉ có Thiên Chúa mới biết,  Thánh Linh hằng ban cho mỗi người khả  năng dự phần vào trong mầu nhiệm  Phục sinh” [VMHV 22; x. ASMD16;  Thông điệp Ðấng Cứu Ðộ  Con Người (ÐCÐCN) 14], mà còn  có cả một lối nhìn tích cực về  các tôn giáo ấy nữa, bởi coi  đó là những cung cách nói lên  nỗ lực tìm kiếm Thiên Chúa, cung  cách đặc biệt phù hợp với  bản chất xã hội của con người  [Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo Ad Gentes (HÐTG) 3; TDTG 3]. Công  đồng cũng nhấn mạnh đến sự  kiện này là cùng có Thiên Chúa  làm nguồn gốc và cùng đích, tất  cả mọi người, mọi dân tộc đều  có chung cùng một ơn gọi [Tuyên ngôn  về quan hệ của Giáo hội với các  tôn giáo ngoài Kitô giáo Nostra Aetate  (NKTG)2]. Các giám mục Châu Á  “thừa nhận các tôn giáo ấy là  những nhân tố quan yếu và tích cực  trong kế hoạch cứu độ của Thiên  Chúa” và “nhìn nhận là qua các  tôn giáo đó, Thiên Chúa đã lôi  cuốn các dân tộc của chúng ta đến  với Ngài” (FABC I,14-15; x. ÐCÐCN 6 và 12).

2.2 Kinh nghiệm có về các tôn giáo khác,  đã dẫn đưa Giáo hội tại Châu  Á đến chỗ đánh giá tích cực  về vai trò mà các tôn giáo đóng  giữ trong kế hoạch cứu độ của  Thiên Chúa. Việc đánh giá ấy dựa  trên cơ sở những hoa quả do Thánh  Linh ban, và được nghiệm thấy ngay  trong đời sống của tín đồ các  tôn giáo khác, như: ý thức về  thánh thiêng, quyết tâm theo đuổi lý  tưởng trọn hảo, khát vọng thành  thân, yêu thích cầu nguyện và dấn  thân, ước vọng từ bỏ, ra sức  đấu tranh cho công lý, cổ xúy bản  tính hướng thiện nơi con người,  tham gia công tác phục vụ, hoàn toàn  phó mình cho Thiên Chúa, và gắn bó  với những gì là siêu việt qua  các biểu tượng, các nghi lễ và  qua cả chính cuộc sống của mình; nói  thế không có nghĩa là yếu đuối  và tội lỗi, là những nét cố  hữu của bản chất con người, không  còn có mặt nữa.

2.3 Việc đánh giá tích cực kia còn  bắt nguồn từ thâm tín của niềm  tin xác quyết rằng chương trình Thiên  Chúa cứu độ loài người chỉ  duy nhất có một, và bao trùm hết mọi  dân tộc: đó chính là Nước  Thiên Chúa, Nước mà qua đó, Ngài  tìm cách hòa giải mọi sự với  chính mình nơi Ðức Giêsu Kitô.  Giáo hội là bí tích của mầu nhiệm  này -- tức là một cách thức  thể hiện qua biểu tượng còn đang  trong thời tiến hành sứ mạng trên  đường hướng tới lúc hoàn thành (ASMD 1:5; BIRA IV/2). Nhận định  cho ra sự việc Thiên Chúa hoạt động  nơi các dân tộc để đưa dẫn  họ đến chỗ thành toàn là một  phần cấu thành trong toàn bộ sứ  mạng ấy. Ðối thoại là cách thức  duy nhất để có thể thực hiện  công tác nhận định đó trong tinh thần  tôn trọng một đàng là sự hiện  diện cùng hoạt động của Thiên Chúa,  và đàng khác là quyền tự do  lương tâm của tín đồ các tôn  giáo khác [x. ASMD 10-12; Thông điệp Ecclesiae Sanctae (ES), 41-42; ÐCÐCN 11-12].

2.4 Nhấn mạnh đến (tính cách nhất  quán) đường lối duy nhất trong phương  án Thiên Chúa đã đề ra cho nhân  loại và cho sứ mạng của Giáo hội  liên quan đến điểm nhận định trên  đây, Ðức Gioan Phaolô II đã nói:  “Nếu phương án dựa theo một quy  trình duy nhất đã có thể truy nguyên  ra được ngay từ trong công cuộc  tạo dựng và công trình cứu độ,  và do đó đã thực sự phát  nguyên từ Thiên Chúa, thì những  khác biệt kia -- ngay cả những điểm  dị đồng về mặt tôn giáo -- thực  ra cũng chỉ là những sự kiện  phát sinh từ Àcảnh trạng cuộc sống  loài người,' và vì thế, cần phải  được khắc phục trong khi tiến bước  trên đường thực hiện phương  án hùng vĩ với quy trình duy nhất  ấy, phương án quy hoạch toàn bộ công  trình tạo dựng. Không ai chối cãi  được là có những khác biệt  phản ánh tài năng và những giá  trị tinh thần phong phú Thiên Chúa đã  ban cho các dân tộc (x.HÐTG II).  Tôi không có ý nói đến những  khác biệt ấy; những khác biệt mà  tôi muốn đề cập đến ở đây  là những khác biệt để lộ rõ  những giới hạn, những đổi  thay và những sa sụp của tinh thần con  người từng bị thần dữ đục  khoét tận trong gốc rễ, như đã thấy  qua lịch sử loài người (x. ASMD16)... Giáo hội được kêu gọi  đem hết sức năng mình ra (rao truyền  Tin Mừng, cầu nguyện, đối thoại)  mà hoạt động làm sao để những  vết thương và những mối chia rẽ  giữa loài người -- tức là những gì phân cắt con người ra  khỏi Nguồn gốc và Cùng đích của  mình, và làm cho họ thù hằn lẫn  nhau -- được chữa lành; điều  đó cũng muốn nói rằng dù có  đi giữa một tiến trình lịch sử  vô cùng phức tạp, và sống với  những nền văn hóa rất đỗi khác  nhau của mình, thì toàn thể nhân loại  cũng đều được “mời gọi  làm thành Dân Mới của Thiên Chúa”  (ASMD13), trong đó, mối giây hồng  phúc kết hợp con người với  Thiên Chúa, và tình đoàn kết hiệp  nhất trong gia đình nhân loại được  phục hồi, được củng cố và  tăng cường” (Bài ngỏ lời  với Giáo triều Rôma, ngày 22 tháng  12, 1986, số 6).

2.5 Tại Châu Á ngày nay, người kitô  chỉ là một “đoàn chiên nhỏ bé.”  Ðiều này có thể đưa họ đến  chỗ giữ thế tự vệ. Chỉ khi họ  có kinh nghiệm về mầu nhiệm trong chính  cuộc sống cá nhân của mình, trong cuộc  sống bí tích và cộng đoàn, chỉ  khi họ biết giao tiếp sinh động với  tín đồ các tôn giáo khác trong tinh  thần cởi mở và tín nhiệm, và  biết ý thức sâu sắc về những  chiều kích phổ quát trong phương án  của Thiên Chúa, cũng như biết coi công  tác hoàn thành đời sống làm  người của chính mình là một sứ  mạng, thì lúc đó, người kitô  mới nhận ra được là mình có  nghĩa vụ phải đối thoại. Nghĩa vụ  ấy không mảy may giảm nhẹ đi, chỉ  vì tín đồ các tôn giáo khác không  tỏ ra quan tâm gì đến đối thoại  cho bằng người kitô; bởi lẽ,  đối thoại không phải đơn thuần  là việc thử đi tìm một cách chung  sống giữa các tôn giáo, mà là  một đòi hỏi do chính cuộc sống của  Giáo hội -- một cuộc sống được  hiểu theo ý nghĩa là sứ mạng --  đặt ra cho Giáo hội. Thái độ tha  thiết quan tâm và lòng quyết chí kiên  cường nẩy sinh từ ý thức  về nghĩa vụ đối thoại sẽ làm  cho Giáo hội có khả năng không những  đối thoại riêng rẽ với từng  tôn giáo, mà còn thực hiện được  công tác phục vụ cho lý tưởng  đoàn kết bằng cách tạo điều  kiện dễ dàng cho việc gặp gỡ và  hợp tác giữa các tôn giáo. Một  cách kiểu phục vụ như thế cho lý  tưởng đoàn kết nhất định sẽ  khơi dậy vấn đề cần phải giải  quyết về những mối chia rẽ đang còn  tồn tại ngay giữa các Giáo hội kitô  tại Châu Á, và sẽ mạnh mẽ thối  thúc các Giáo hội nhanh chân tiến bước  hướng đến chỗ hiệp thông đại  kết. Và thay vì cản ngăn, thì cuộc  hành trình hướng về hiệp thông  này càng cổ vũ các Giáo hội gia  công tích cực hơn nữa để cùng  nhau mạnh mẽ làm chứng cho niềm tin của  mình vào Ðức Giêsu và Nước  của Người.

LUẬN ÐỀ 3

Ðối thoại liên tôn là một  nghĩa vụ đối với tất cả chúng  ta, những người kitô tin vào mầu  nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi; vì lẽ, đó  là mầu nhiệm hiệp thông trong đối  thoại liên ngôi vị. Ðưa dẫn hết  thảy chúng ta đến chỗ hiệp nhất  là hoạt động duy nhất và chung quyết  Thiên Chúa Cha tiến hành nhằm cứu  độ mọi người, là những tạo  vật bắt nguồn từ Ngài và đang  quy hồi về với Ngài. Trong Ðức  Kitô, Thiên Chúa giao hòa mọi sự  với chính mình; bởi thế, Ðức  Kitô hằng thúc đẩy Giáo hội phục  vụ cho thật đắc lực công trình  xây dựng hiệp thông toàn diện ấy.  Thánh Linh hiện diện và hoạt động  khắp nơi, cũng không ngừng mời  gọi mọi người góp sức thực  hiện công trình nhất thống Nước  Chúa. Hiểu theo nghĩa chỉ về một cung  cách ứng đáp đối với mầu  nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, đối thoại  là một tiến trình lớn lên trong đời  sống sung mãn của Thiên Chúa. Ðối  thoại là tham dự vào trong nỗ lực  chung của mọi người đang cố tìm  cách để thể hiện Chân Lý cho toàn  vẹn. Ðối thoại là chính TÌNH THƯƠNG cho những ai đang đi tìm hiệp thông  trong Thiên Chúa Ba Ngôi.

3. Lời Bàn

3.1 Cơ sở trên đó chúng ta xây  dựng công trình đối thoại liên  tôn, là chính đức tin của chúng  ta: niềm tin vào quyết định cứu độ  phổ quát của Thiên Chúa, Ðấng hằng  đưa dẫn bằng một lối ngõ nào  đó, mọi người đến với  hiệp nhất, và cơ sở ấy cũng  chính là những nỗ lực chúng ta  đưa ra nhằm nhận diện cho rõ những  hệ lụy mà việc tuyên xưng niềm tin  ấy có đối với cách kiểu chúng  ta hiểu về lịch sử và về vai trò  của cá nhân chúng ta ở trong lịch  sử. Ðiều đó còn quan yếu hơn  cả việc cần phải cùng chung sống trong  cuộc sống thực tế giữa một xã  hội có nhiều tín đồ thuộc các  tôn giáo khác nhau. Và đó cũng chẳng  phải là hệ quả của quan điểm hiện  tượng học cho là mọi tôn giáo  đều giống như nhau, ít ra là về mặt  chức năng.

3.2 Có một lối quan niệm cổ truyền về  lịch sử cứu độ, cho rằng diễn  tiến của lịch sử này là một  quá trình thu hẹp dần phương án và  hoạt động của Thiên Chúa, đi từ  muôn dân muôn nước cho đến Dân  Do thái, rồi đến Ðức Giêsu, để  sau đó lại rộng mở ra cho toàn thế  giới qua Giáo hội và sứ mạng  của Giáo hội. Thái độ coi trọng  các tôn giáo khác, nhận đó là  những nhân tố quan yếu và tích cực  trong kế hoạch cứu độ của Thiên  Chúa, đã đưa ra một mô mẫu mới  lấy Nước Thiên Chúa làm trung tâm,  quy hướng về tương lai và mang tính  chất tam vị (Ba Ngôi). Phương án Thiên  Chúa đưa ra nhằm cứu độ muôn  dân là một phương án đơn thuần  có một. Thiên Chúa Cha, Ngôi Lời  và Thánh Linh hằng không ngừng hoạt  động trong thế giới. Thiên Chúa Cha  đã thiết kế phương án cứu  độ phổ quát từ trước cả  khi tạo thành vũ trụ (Ep 1,3-6); và Ngài  đã vén mở cho chúng ta biết về  thiên ý nhiệm mầu: đó là khi đã  đưa thời gian tới hồi viên mãn,  Ngài sẽ quy tụ mọi sự về một  mối trong Ðức Kitô (Ep 1,9-10). Ðức  Kitô, Lời mà nhờ đó mọi  sự được tạo dựng, đã  trở thành xác thể và biểu hiện  mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa  qua cuộc tử nạn và phục sinh của  mình (Cl 1,14-16). Thiên Chúa Cha đã muốn  làm cho tất cả sự viên mãn hiện  diện ở nơi Người; và, sau khi  đã đem lại bình an nhờ máu Người  đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa  giao hòa muôn vật với chính mình (Cl  1,19-20). Qua sự hiện diện cùng tác động  của một Thánh Linh duy nhất, mối giao hòa  và niềm bình an ấy đã được  dành để cho tất cả mọi người  và tỏa lan đến tận mọi dân mọi  nước gần xa (Ep 2,17-18), bằng những  cách thế không ai biết nổi. Cho dù tất  cả các tôn giáo đều đóng giữ  một vai trò trong phương án nhiệm mầu  của Thiên Chúa, thì Giáo hội cũng  ý thức rõ là mình đang tiếp tục  tiến hành mầu nhiệm của Ðức  Giêsu ở giữa thế giới, cũng  như đang làm dấu chỉ, làm bí tích  của Nước Thiên Chúa. Nước  Chúa sẽ chỉ đạt đến mức sung  mãn chung cục trong ngày cuối cùng. Trong  thời gian trước ngày cánh chung, qua  nhiều trung gian khác nhau, Thiên Chúa hằng  không ngừng kêu gọi tự do con người  tuân phục ý của Ngài, và thực  sự con người đang lấy lòng tin cùng việc lành mà đáp lại lời  kêu mời ấy. Vậy, nên cẩn trọng,  đừng tách biệt hai chiều kích trong  cuộc sống đức tin ra khỏi nhau: một  bên là việc dấn thân vì đức  tin, và bên kia là các tín điều,  các biểu tượng, các nghi lễ cùng  hành động làm trung gian biểu đạt,  tán tụng và thể hiện niềm tin ấy  ra trong cuộc sống. Trong thân phận làm người  mang xác thể của chúng ta, không có  một niềm tin nào là vô tôn giáo  cả; như thế, không những bởi  vì Ngôi Lời đã trở thành  xác thể, mà còn vì lẽ chúng ta là  những “tinh thần-trong-xác thể.”

3.3 Thế thì, nền móng của công trình  đối thoại nằm ở nơi chính Thiên  Chúa, nơi Thiên Chúa Ba Ngôi: ở trong  quyết định sáng tạo và cứu độ  của Thiên Chúa Cha, ở trong hành động  cứu chuộc với tầm hữu hiệu  hoàn vũ của Ðức Giêsu, Ðấng  Kitô, và ở trong mầu nhiệm tái tạo  với sức năng kiện toàn vô song  của Thánh Linh. Ðối thoại là công  trình của lịch sử: vì đó là  bước đường tiến dần lên  trong công cuộc hợp nhất mọi sự,  do tác động của Thiên Chúa vào trong  lịch sử, cũng như do nỗ lực hợp  tác của tự do con người vào trong  việc xây dựng tương lai của chính  mình. Ðối thoại là công trình của  loài người: vì đó là dạng  thức biểu hiện tập thể của cuộc  hành trình chung mà muôn dân đang hăm  hở thực hiện nhằm đạt tới  mức hoàn bị. Ðối thoại là công  trình của Giáo hội: vì đó chính  là bản chất, là cuộc sống của Giáo  hội, hiểu theo nghĩa là sứ mạng.

3.4 Sự thật và tình yêu là những  giá trị phổ quát và tuyệt đối:  chính những giá trị này đang mạnh  mẽ thúc đẩy chúng ta hăng hái tiến  bước trên con đường đối  thoại, bởi vì bao lâu chỉ mới  được sống có một phần, thì  bấy lâu các giá trị ấy vẫn còn  gào thét đòi phải được thực  thi cho trọn vẹn. Là Ðấng vén mở  cho thấy và thực hiện trọn vẹn phương  án cứu độ nhiệm mầu của Thiên  Chúa, Ðức Giêsu đã sinh ra để  làm chứng cho Sự Thật (Ga 18,37) và  đồng thời cũng chính là “Sự  Thật” (Ga 14,6). Nơi Ngài, là Lời  nhập thể của Thiên Chúa, các Tông  đồ và Giáo hội thời sơ khai đã  chiêm ngưỡng thấy vinh quang của Con Một  Thiên Chúa, đầy tràn ân sủng và  sự thật. Niềm tin của chúng ta vào  Ðức Kitô là do Thánh Linh làm cho  nẩy sinh nên, được chính Ngài  nuôi dưỡng và củng cố: chính  Ngài là Thần Khí sự thật, là  Ðấng sẽ đưa dẫn chúng ta đến  tận Sự Thật toàn vẹn (Ga 16,13). Vì  vậy, niềm tin của chúng ta vào Ðức  Giêsu Kitô thối thúc chúng ta mạnh mẽ  dấn bước vào trong công cuộc đối  thoại với các tôn giáo khác, ngõ  hầu qua những nỗ lực tìm kiếm  chung, nhận cho ra và đạt cho tới được  Sự Thật toàn vẹn. Ðức Phaolô  VI đã nhận định là: “Trước  khi phát biểu, cần phải lắng nghe: không  những lắng nghe tiếng của một người,  mà còn lắng nghe cả con tim của người  ấy nữa... Tinh thần của đối thoại  là tình bằng hữu và, còn hơn  thế nữa, là hành động phục vụ”  (Ecclesiam Suam 87). Ðối thoại khởi  xuất từ “đà năng động nội  tâm của bác ái” (ES 64). Ðức Gioan Phaolô II coi đối thoại như là một  cuộc tìm kiếm sự thật: “Ðối  thoại là một phương cách tìm kiếm  sự thật và chia sẻ sự thật với  người khác. Bởi vì sự thật  là ánh sáng, là sự mới mẽ  và là sức mạnh” (Bài ngỏ lời  với Các Vị Lãnh đạo Tôn giáo  tại Madras, ngày 5 tháng 2, năm 1986, số  4).

LUẬN ÐỀ 4

 Công cuộc đối thoại liên tôn  là một cách thức truyền thông cũng  như chia sẻ sự sống, kinh nghiệm, quan  điểm và cảm nghĩ giữa tín đồ  các tôn giáo khác nhau, cố cùng nhau  tìm cách khám phá cho ra những gì  Thánh Linh đang thực hiện ở giữa  họ. Xóa tan thành kiến, đối thoại  tiến dần đến chỗ hiểu biết lẫn  nhau và làm cho nhau phong phú thêm, tiến  dần đến chỗ cùng nhau làm chứng  trong tinh thần nhận định sáng suốt, cũng  như cùng nhau dấn thân trong công tác  cổ xúy và bảo vệ những giá  trị nhân bản và tinh thần có sức  đưa dẫn đến những mức độ  kinh nghiệm thiêng liêng sâu sắc hơn.  Ðó là một cuộc đồng hành trong  niềm hiệp thông của lòng trí và  tâm can, hướng tới tụ điểm  tiêu đích, về nơi Thiên Chúa hằng  kêu gọi mọi người, mọi dân nước  tiến đến, tức là Nước Chúa.

4. Lời Bàn

4.1 Ðối thoại liên tôn trước  tiên, không phải là một mối quan hệ  giữa hai tôn giáo hiểu theo nghĩa là  những cơ chế xã hội, cũng không  phải là một cách đối chiếu giữa  hai tín ngưỡng hay hai dạng thần học,  và cũng chẳng phải là một loại  liên minh chiến thuật để tiếp tay cho  hoạt động chính trị. Ðối thoại  là mối liên hệ giữa những người  có lòng tin, thâm tín về và sống  chết cho niềm tin của mình, nhưng đồng  thời lại cởi mở với các  tín hữu khác và với Thánh Linh,  bởi ý thức rằng hết thảy mọi  người đều có chung cùng một nguồn  gốc và cùng một cùng đích. Do đó,  việc chia sẻ xác tín và kinh nghiệm thì  quan trọng hơn là việc bàn cãi về  các quan điểm tư tưởng.

4.2 Cách kiểu đối thoại như thế tất  không phải chỉ dành cho các chuyên gia,  mà là cho tất cả mọi người:  từ tín hữu “thường” cho  đến các nhà thần học, các nhà  tu hành. Nó tiến hành ở mọi mức  độ: trong cuộc sống chung hằng ngày thể  hiện qua những sinh hoạt kinh tế, xã  hội và chính trị, là những sinh hoạt  mang tinh thần và nằm trong tầm tác động  của tôn giáo; trong việc chia sẻ kinh nghiệm  tôn giáo, mà đôi lúc đưa tới  chỗ có những hành động cụ thể  như là cầu nguyện chung; trong nỗ lực  đưa ra một nhãn quan chung về một mẫu  xã hội mới cho nghệ thuật, cho cung cách  dùng biểu tượng và cho tổ chức  các lễ mừng; trong việc chia sẻ suy tư  thần học theo ánh sáng của niềm tin,  về những kinh nghiệm và những thách  đố mà mỗi cá nhân hay toàn thể  cộng đoàn đã sống qua.

4.3 Có thể dựa theo thứ tự tầm  mức trọng yếu tăng dần mà liệt  kê những tiêu đích đối thoại  nhắm tới, như sau: hiểu biết lẫn  nhau, thành quả này giúp đánh tan những  thành kiến và đẩy mạnh nỗ lực  tìm hiểu cũng như quý trọng lẫn nhau;  làm cho nhau thêm phong phú, bởi mỗi  bên đều tìm cách để hòa nhập  vào trong di sản của mình những giá  trị và kinh nghiệm đặc thù của các  tín đồ khác, hoặc là đã được  khai triển trong một cung cách tốt đẹp  hơn bởi các tín đồ khác nhờ  có được những điều kiện  văn hóa, lịch sử hay quan phòng đặc  biệt; cùng nhau dấn thân làm chứng  và cổ xúy cho những giá trị nhân  bản và tinh thần -- như là: hòa bình,  thái độ tôn trọng sự sống con  người, phẩm giá con người, bình  đẳng và tự do, công lý, cộng  đoàn và tự do tôn giáo -- bằng  cách gây ý thức, cầu nguyện và  đặt ra những chương trình hoạt  động cụ thể; chia sẻ kinh nghiệm tôn  giáo theo một quá trình liên tục và  ngày càng tiến thêm vào chiều sâu  để vươn cho tới sự tuyệt đối.

4.4 Sống đời tín đồ thuộc một  tôn giáo trong một xã hội đa tôn  giáo là ở vào một trạng huống  phức tạp. Ðối với một tín  hữu, cộng đoàn tôn giáo đầu  tiên dĩ nhiên là cộng đoàn gồm  những người chia sẻ cùng một  niềm tin với mình. Ðối với tín  hữu kitô, cộng đoàn đầu tiên  ấy rõ ràng là chính cộng đoàn  Thánh Thể. Nhưng cùng lúc, những  người sống trong một xã hội đa  tôn giáo cũng là thành phần của  cộng đoàn nhân loại, và cộng đoàn  này thì không chỉ giới hạn ở  trong khuôn khổ các lãnh vực kinh tế,  văn hóa, xã hội và chính trị mà  thôi. Còn có cả một cộng đoàn  ở trong lãnh vực tôn giáo nữa,  với những khác biệt tiềm ẩn  còn cần phải được thăm dò  và nghiệm xét cho ra qua đối thoại. Do  đó, muốn xây dựng một lối sống  hợp với lẽ thường và một  đơn vị tổ chức có khả năng  sinh tồn trong một xã hội đa tôn giáo,  thì xem ra cần phải chọn mẫu dạng cộng  đoàn cơ bản nhân đạo, trong đó,  các tôn giáo không mảy may làm cớ  sinh khác biệt và gây chia rẽ, nhưng  ngược lại, có sức dùng đối  thoại mà giúp cho nỗ lực chung của  con người đạt tới được  cảnh trạng giải phóng và mức thành  tựu trọn vẹn. Sống giữa một  xã hội đa tôn giáo, nhận mình là  phần tử của cộng đoàn nhân đạo  như thế kia là điều xem ra hiển nhiên  đối với những người kitô  biết ý thức về sứ mạng mình  đang có bổn phận thực thi. Một cộng  đoàn như thế là một cộng đoàn  có sức làm biểu tượng theo cung  cách riêng của nó, cho Nước Thiên  Chúa.

LUẬN ÐỀ  5

Cuộc đối thoại liên tôn diễn  ra trên những bình diện khác nhau, và  liên hệ đến cả các cá nhân  lẫn các cộng đoàn. Ðược Thánh  Linh tác động và đi từ những  khía cạnh bên ngoài để tiến dần  đến những khía cạnh bên trong của  cuộc sống, cuộc đối thoại ấy dẫn  tới những mức hiệp thông ngày  càng sâu thẳm hơn trong Thánh Linh, mà  chẳng những không mảy may phương hại  đến kinh nghiệm tôn giáo đặc thù  của mỗi cộng đoàn, nhưng còn giúp  đào sâu thêm kinh nghiệm ấy. Mối  hiệp thông ấy biểu hiện qua nhiều hình  thức khác nhau, như: cầu nguyện chung,  cùng nhau đọc Kinh Thánh và các Sách  Thánh, cũng như cử hành những  lễ mừng, và cùng ra sức thực  hiện những hoạt động giải phóng  theo một mục tiêu chung, tức là nhằm  linh động hóa cùng cải hóa tinh thần  của văn hóa và cục diện của xã  hội. Có thể là bởi có chung cùng  một lịch sử hoặc là vì những  lý do khác, các tôn giáo cảm thấy  gần gũi với một số tôn giáo  hơn là với những tôn giáo khác.  Do thực trạng bất toàn và tội lỗi  của thân phận làm người, tất  cả các tôn giáo đều được  mời gọi để liên tục thực  thi công tác cải hóa canh tân, căn cứ  theo phán định của Thánh Linh và những  nhận định phê bình xây dựng của  nhau. Nỗ lực canh tân này tất sẽ  bao hàm cả việc tha thứ cho nhau và hòa  giải với nhau nữa.

5. Lời Bàn

5.1 Cuộc đối thoại liên tôn là một  việc làm tương đối dễ thực  hiện giữa các cá nhân và giữa  các nhóm nhỏ. Còn trên bình diện  những cộng đoàn rộng lớn hơn,  thì đó là một việc khó thực  hiện hơn nhiều. Trước hết, các  cộng đoàn chỉ có thể tham gia cuộc  đối thoại liên tôn qua một vài hoạt  động hay dự án chung, như là: cầu  nguyện chung, mừng lễ chung, hay hoạt động  chung nhằm cổ xúy hoặc bảo vệ các  giá trị nhân bản và tinh thần. Ngay cả  khi chỉ hoạt động có như thế, thì  cộng đoàn cũng phải được  chuẩn bị trước, đặc biệt là  bằng cách xóa bỏ đi những thành  kiến do thiếu hiểu biết mà có từ  ngày trước, và bằng cách giúp  cho làm quen với những kiến thức  nhập môn về một lối quan niệm mới  mẽ trong cách suy tư thần học và tu đức,  khả dĩ đưa các phần tử trong cộng  đoàn đến chỗ biết nhìn các tín  đồ khác với một cặp mắt không  phê phán, mà vẫn giữ được  cho thâm tín mình có về căn tính của  mình khỏi bị đe dọa. Cũng cần phải  ý thức cho họ biết đặt ích chung  lên trên những lợi ích chỉ tích  lũy cho riêng nhóm mình. Họ cũng còn  cần phải được chuẩn bị để  sẵn sàng và đủ sức đương  đầu chống lại sức ép đến  từ phía những người theo chủ  trương công xã và những người  duy chính thống quá khích, cũng như từ  phía những người theo trào lưu  tục hóa.

5.2 Ðối thoại không có nghĩa là cố  cùng nhau tìm cho ra mẫu số chung nhỏ nhất,  và cố lờ đi để khỏi biết  đến những gì có thể gây ra bất  đồng. Ðối thoại sẽ không đem  lại ích gì, nếu không biết trung thành  cho trọn vẹn với kinh nghiệm đức  tin của chính mình. Thực tế cho thấy  rằng mở lòng ra trước kinh nghiệm  của người khác, là một cách  thế giúp làm sáng tỏ và đào  sâu thêm kinh nghiệm riêng của mình.  Tìm cách giải thích cho một tín đồ  khác về niềm tin của mình, cũng là  một cách thế tốt để làm sáng  tỏ cho cả chính mình những gì mình  tin. Theo cách ấy, đối thoại sẽ dẫn  đến chỗ làm cho nhau nên phong phú thêm,  chứ không phải là ra nghèo nàn đi.

5.3 Ðối thoại là một tiến trình.  Thường thì tiến trình ấy khởi  đầu với thái độ khoan dung và  chung sống hòa bình. Sau đó, nó sẽ  đi dần đến bước đối thoại  trong cuộc sống bằng cách đẩy mạnh  thái độ chấp nhận lẫn nhau, và có  khi cả lòng cảm phục lẫn nhau nữa.  Bước kế tiếp có thể là việc  cùng hợp tác vào những kế hoạch  chung trong các lãnh vực xã hội và  văn hóa, tựa như là trường  hợp các đảng phái chính trị khác  nhau cùng đồng ý về một chương  trình làm việc chung với nhau. Việc chia  sẻ những kinh nghiệm thiêng liêng một  cách sâu xa hơn, cũng sẽ dễ dàng,  đặc biệt là đối với những  người đã thành thạo trong lãnh  vực ấy, như các nhà tu hành chẳng  hạn (DM 29-35). Ðối thoại sẽ thực  sự đối diện với thử thách,  khi một phía gặp phải bất đồng với  phía bên kia trong những gì một hoặc  cả hai phía coi là giá trị căn bản,  mà hai bên vẫn tiếp tục cùng sống  và làm việc với nhau. Tình trạng  mâu thuẫn về những giá trị tuyệt  đối bao giờ cũng là một cảnh  trạng khó khăn. Trong bình diện các tín  điều, ít là về mặt thực tế,  có thể cố gắng để tạm ngưng  chú ý đến các điều ấy và  để dồn cả tâm trí vào những  gì là chung của cả đôi bên, và  những gì khả dĩ giúp cho việc hợp  tác trong thực tế tiến hành được.  Tuy nhiên, khi vì một giá trị tuyệt đối  mà phải quyết định một sự lựa  chọn cụ thể về mặt luân lý, mà  theo lương tâm không thể chấp nhận  được, thì lúc đó đối thoại  trở thành hết sức khó khăn.  Lý tưởng mà nói, thì ngay cả  trong trường hợp ấy, cũng vẫn  có thể giữ được lòng tôn  trọng -- tôn trọng lương tâm --  đối với nhau. Tuy nhiên, đã đến  mức đó, thì đơn thuần giữ  thái độ chấp nhận và chung sống  là chuyện xem ra thực tế hơn, cho dù  vẫn phải cố gắng tiếp tục đối  thoại.

5.4 Trọng tâm của một cuộc đối thoại  xứng với danh nghĩa đó, là công  trình chung xây một cộng đồng nhân  loại mới. Tất nhiên, công tác này  phải tiến hành qua một quá trình hội  nhập văn hóa, trong đó, các tôn  giáo “nhập thể” vào giữa lòng  một nền văn hóa, và biến cải nó  từ bên trong bằng cách đặt nó  vào thế phải trực diện với một  hệ thống giá trị mới. Trong bước  đường đối thoại, các tôn  giáo có thể cùng nhau tiến hành công  tác hội nhập ấy giữa nền văn  hóa của một dân tộc nhất định.  Nếu không, thì sẽ xảy ra tình trạng  hoặc là một tôn giáo nào đó  nắm giữ địa vị bá chủ và  thực sự đóng vai trò làm động  lực toàn diện của nền văn hóa  quốc gia, hoặc là một thứ tôn giáo  “đời” (civil) được khai  triển để hỗ trợ cho xã hội dân  sự, còn các tôn giáo chân chính  thì bị giam chặt vào trong khuôn khổ của  phạm vi cá nhân riêng tư.

5.5 Nhưng thử hỏi các tôn giáo có  đóng giữ cho hữu hiệu và cho  trọn vẹn được vai trò kia mà  không cần phải, một cách nào đó,  tích cực tham dự như là một phần  tử, vào trong lãnh vực đời  sống công giữa xã hội hay không?  Nhà nước -- tức là guồng máy  chính trị -- tự bản chất, thì không  được mang đầu óc đảng phái,  thiên vị. Thế nhưng, cộng đoàn xã  hội cũng không được giữ thái  độ hoặc là vô tôn giáo hay là  bài tôn giáo. Trong trường hợp  đó, ngoài việc nói lên sự có  mặt của mình qua các hoạt động chung  về phương diện chính trị, mối thông  hiệp giữa các tôn giáo còn cần  phải tìm cho ra những cách thức diễn  đạt chung khác nhằm biểu hiện sự  có mặt của mình rõ ra trong đời  sống công ở giữa xã hội, như  đã từng đề cập đến ở  trên kia (chẳng hạn: cầu nguyện chung, cùng  nhau đọc Kinh Thánh, mừng lễ chung...  x. supra 4.2-3; 5.2,3). Chỉ mới nghe nói đến  những hình thức kia không thôi, thì  một số người cũng đã cảm  thấy sợ phải rơi vào cảnh hỗn  hợp tôn giáo. Một khi đã biết  vượt hẳn ra ngoài những kiểu  phân biệt hời hợt đúng/sai trong  lãnh vực tôn giáo, tất phải nhận  rằng hoạt động chung là một việc  khả thi, để không nói là một nghĩa  vụ. Nếu biết nhận ra rằng các tôn  giáo khác là những nhân tố tích  cực trong phương án cứu độ  của Thiên Chúa, thì dĩ nhiên là có  thể nghĩ đến chuyện cầu nguyện chung  trong những gì các tín ngưỡng đều  nhất trí tán đồng. Cần phải cẩn  trọng nhận diện cho rõ các điểm  cùng được tán đồng này, nhưng  phải nhận diện bằng cách nào nếu  không phải là bằng chính công tác  đối thoại liên tôn. Những biểu  tượng mang cùng một ý nghĩa chung  đối với mọi bên tham gia đối  thoại, thì có thể dùng chung được.  Nếu những biểu tượng tự nhiên  như: ánh sáng, lửa và nước,  cùng những biểu tượng xã hội  như: những hình thức chào hỏi,  chào mừng, chia sẻ của ăn, v.v. thường  được mọi bên hiểu như nhau, thì  ngược lại, bởi có một quá  trình lịch sử hay huyền thoại hoặc  truyền thống riêng, cho nên mỗi tôn  giáo đều có những biểu tượng  đặc thù của riêng mình; do vậy, các  biểu tượng này không thể được  dùng vào trong những cuộc lễ cùng  mừng chung.

5.6 Ở đây, không có ý bàn đến  việc một tôn giáo sử dụng hay thâu  nhận hoặc giải thích lại (hiểu theo một  ý nghĩa mới) các biểu tượng  của một tôn giáo khác trong một bối  cảnh tín ngưỡng tương tự. Những  biểu tượng có tính cách đa dụng  và từ căn bản đã mang sẵn một  ý nghĩa tự nhiên hay nhân bản hoặc  xã hội trước khi được một  tôn giáo lồng cho một ý nghĩa đặc  biệt, thì đều có thể được  giải thích lại, tức là hiểu theo  một ý nghĩa mới, trong một bối cảnh  tôn giáo khác.

5.7 Một vấn đề tương tự cũng  được đặt ra đối với việc  tham dự vào các nghi lễ của một  tôn giáo khác. Vì các nghi thức tôn  giáo là những hành động mang tính  chất biểu tượng đặc thù của  một cộng đoàn, thế nên một người  không thuộc cộng đoàn ấy, thì không  thể tham dự tích cực và đầy  đủ vào trong các nghi thức kia được.  Dĩ nhiên là có thể hiện diện với  tất cả lòng thành kính. Và nếu được  xác định cho rõ tùy theo hoàn cảnh  cụ thể, thì việc thông hiệp thực  sự tới một mức độ nào  đó giữa các tín hữu cũng  là việc xem ra có thể được. Tuy  nhiên, cần phải tránh thái độ khinh  suất đối với các biểu tượng  tôn giáo, coi đó “chỉ là biểu  tượng,” và chủ trương cho là  có thể phớt lờ chúng đi để  vượt lên cao hơn hầu đạt thẳng  tới chính thực tại đức tin  mà chúng biểu trưng. Các biểu tượng  thì có liên hệ với thực tại  chúng biểu trưng. Tuy nhiên, có thể là  chúng mang một ý nghĩa tuyệt đối  đối với tín đồ của một tôn  giáo, đặc biệt là trong các nghi thức  quá độ.

5.8 Mối liên quan thân cận giữa các  tôn giáo thì khác nhau tùy các tôn  giáo liên hệ: Kitô giáo thường  cảm thấy đặc biệt gần gũi với  Do Thái giáo, và ngay cả với Hồi  giáo; Ấn Ðộ giáo và Phật giáo  thì có những nguồn gốc chung và cảm  thấy có một mối tình huynh đệ đặc  biệt đối với nhau; còn Phật giáo  thì đã từng trải qua một kinh nghiệm  chung sống lâu dài với Khổng giáo  và Thần giáo.

5.9 Có thể cùng nhau cầu nguyện cho hòa  bình chẳng hạn, nếu biết ý thức  tất cả mọi người đều là  phần tử trong cộng đoàn đang ở  trước sự hiện diện của sự  tuyệt đối. Vì là những tài liệu  cơ bản ưu thế của một tôn giáo,  nên các Kinh sách (thánh) cũng được  chúng ta coi trọng với cùng một lòng  trọng kính chúng ta có đối với  các tôn giáo khác. Nếu bằng một  cách thức nào đó, Thiên Chúa  đã dùng các Kinh sách ấy mà nói  với một dân tộc, tất chúng cũng  chứa đựng một sứ điệp  cho hết mọi dân tộc. Khi tìm hiểu ý  nghĩa của sứ điệp ấy trong bối  cảnh kinh nghiệm niềm tin của mình, mọi  tín hữu đều có thể cảm nhận  ra những thách đố sứ điệp  ấy đặt ra cho chính mình, hay ít ra là  có thể ý thức sâu đậm hơn  về niềm hiệp thông với tín đồ  các tôn giáo khác, bởi có dịp  khám phá ra những kinh nghiệm tương  tự như kinh nghiệm mình đã sống  qua. Các dịp cùng nhau mừng lễ theo mùa  hay theo những biến cố trong cuộc sống  xã hội, như mừng Xuân, mừng mùa  gặt, mừng lễ tạ ơn, v.v. trong khung cảnh  tôn giáo hoặc là cả liên tôn nữa,  sẽ làm cho cảm thức về sự việc  mọi người đều cùng có một  cuộc sống và một định mệnh chung,  càng kiên vững thêm.

5.10 Nhận định về các truyền thống  tôn giáo Châu Á, các giám mục trong  vùng đã nói rằng: “Trường  kỳ và biết cẩn trọng cân nhắc,  thì cuộc đối thoại với các truyền  thống ấy về cầu nguyện (là một  việc, như sẽ thấy, khả thi, hữu ích  và sáng suốt trong nhiều hoàn cảnh khác  nhau), sẽ vén mở cho chúng ta thấy những  gì Thánh Linh đã dạy cho những người  khác để họ biết cách biểu đạt  (tâm tình) bằng nhiều phương thức  kỳ diệu và khác nhau. Có thể là  các phương thức này khác với  lề lối của chúng ta, nhưng qua chúng,  cả chúng ta nữa, cũng có thể nghe  được tiếng của Ngài mời gọi  chúng ta nâng cao tâm hồn lên cùng Chúa  Cha” (FABC II, 35). Bình luận về ngày  cầu cho hòa bình tại thành phố Assisi,  với sự hiện diện của nhiều vị  lãnh đạo tôn giáo khác nhau, Ðức  Gioan Phaolô II đã nhận định là: “Không  thể nào có được hòa bình,  nếu không cầu nguyện: lời nguyện  cầu của mọi người; mỗi người  cầu theo bản sắc riêng của mình và  trong tinh thần kiếm tìm sự thật... quả  thế, có thể xác nhận được  rằng mọi lời cầu chân chính đều  là do Thánh Linh phát động, Ngài là  Ðấng hằng hiện diện một cách nhiệm  mầu trong tâm hồn của mỗi người.  Ðó cũng là điều thấy rõ được  tại Assisi đây: thấy rõ ở trong mối  hợp nhất biểu hiện qua sự kiện  mọi người nam cũng như nữ, đều  có khả năng cầu nguyện, tức là  có khả năng phó thác trọn vẹn con  người của mình vào trong bàn tay của  Thiên Chúa, và nhìn nhận mình chỉ  là một tạo vật nghèo hèn trước  nhan thánh Ngài. Cầu nguyện là một trong  những phương thế để thực hiện  kế hoạch Thiên Chúa đã đề ra  cho loài người (x.HÐTÐ 3)”  (Tháng 12, 1986, số 11).

5.11 Các tôn giáo bổ túc cho nhau không  phải là trong mối quan hệ với Ðấng  Tuyệt đối mà tôn giáo nào cũng  cảm thấy cần phải tận tình phụng  sự, nhưng là trong những cung cách  mang tính chất lịch sử và văn hóa  qua đó, loài người lữ hành  đã cảm nghiệm ra cùng biểu đạt  lên mối quan hệ của mình đối với  Ðấng Tuyệt Ðối, và ý nghĩa trọng  yếu Ngài mang lại cho đời sống mình.

5.12 Từ “tôn giáo” bao hàm một  ý nghĩa rộng rãi, và vì thế mà  có thể bị tiếm dụng bởi bất  cứ một nhóm duy công xã hay cực  đoan nào. Những nhóm như thế có  thể tìm thấy ở ngay trong các tôn  giáo lớn, kể cả Kitô giáo. Dù  sứ mạng kitô có đưa chúng ta  đến chỗ liên hệ với mọi người,  và dù chúng ta có bổn phận phải  tôn trọng phẩm giá và tự do của  mỗi người, thì mối quan hệ chúng  ta có đối với những nhóm như  thế cũng không thể và không cần  phải được giới hạn vào phương  thức đối thoại như được  trình bày trong các trang viết này. Vì  thế, cần phải nhận định, đã đành  là với thái độ cởi mở,  nhưng vẫn phải luôn luôn dựa theo  đường hướng của quyết tâm  rao truyền và xây dựng Nước Thiên  Chúa, là món quà Ngài ban tặng cho mọi  dân nước, cho mọi người.

5.13 Thánh Linh đối thoại không phải  bao giờ cũng hiện diện ở trong các  mối quan hệ giữa các tôn giáo. Nhiều lúc, các quan hệ này đã làm cớ  gây ra xung đột giữa các dân tộc.  Vì vậy, hòa giải và tha thứ cho những  vết thương gây ra do thiếu hiểu biết,  do thành kiến hoặc là do cả ác ý  nữa, cũng là một chiều kích chủ  yếu trong công tác đối thoại.

LUẬN ÐỀ 6

Ðối thoại và công bố là  những chiều kích không thể thiếu,  tức là những chiều kích cấu thành  -- nhưng đồng thời lại có tính  cách biện chứng và bổ túc cho lẫn  nhau -- trong sứ mạng rao truyền Phúc Âm  đã được trao phó cho Giáo hội.  Ðối thoại chân chính thì bao hàm việc  làm chứng cho đức tin toàn diện  của mình, trong tinh thần cởi mở sẵn  sàng đón nhận chứng cử tương  tự của tín đồ các tôn giáo  khác. Công bố là nói lên lời  mời gọi làm môn đồ của Ðức  Kitô và thi hành sứ mạng của Ngài.  Công bố là phục vụ mầu nhiệm của  Thánh Linh, Ðấng hoàn toàn tự do  kêu mời con người hoán cải, và  phục vụ mầu nhiệm của con người  có tự do để ứng đáp lời  mời gọi ấy; do vậy, công bố là  một tác vụ mang tính chất đối thoại.

6. Lời Bàn

6.1 Luận đề này và lời bàn đi  kèm theo đây, chỉ đơn thuần nhằm  vào việc làm cho sáng tỏ mối tương  quan phối kết giữa công tác đối thoại và tác vụ công bố Tin mừng,  xét theo tư thế là những chiều kích  cấu thành của sứ mạng rao truyền  Phúc Âm đã được trao phó  cho Giáo hội. Thế nên, chúng tôi sẽ  không đi sâu vào trong những vấn  đề phức tạp và khó khăn đã  từng được đặt ra qua nhiều  vấn nạn, chẳng hạn như là những  vấn nạn liên quan đến: sự việc  Ðức Kitô là Ðấng Cứu tinh  duy nhất, nhưng tôn giáo thì lại có  nhiều; việc phối kết giữa đối  thoại và lập trường dấn thân  tuyệt đối trong đức tin, giữa  khoa học luận về sự Tuyệt đối  và sự tương đối đối với  sự thật; việc ứng dụng tính chất  quy phạm của mạc khải kitô trong bối  cảnh đa tôn giáo, v.v.

6.2 Quan hệ giữa công tác đối thoại  và tác vụ công bố là một mối  tương quan phức tạp. Ðể thử  gia công tìm hiểu cho được về  mối quan hệ ấy, thì ngay từ đầu,  cần phải tránh đừng nhắm triệt  tiêu một trong hai, để khỏi rơi vào  tình trạng lẫn lộn việc này với  việc kia. Một số người có khuynh  hướng cho rằng đối thoại là hình  thức duy nhất chân chính của tác  vụ công bố, bởi vì Giáo hội  chỉ là một giữa nhiều con đường  đưa đẫn đến ơn cứu độ;  một số người khác thì có khuynh  hướng cho rằng dù có căn tính  riêng của mình, đối thoại cũng chỉ  là một giai đoạn trong toàn bộ tiến  trình dẫn tới tuyệt đỉnh là việc  công bố. Nếu quan niệm thứ nhất  làm cho tác vụ công bố mất hết  ý nghĩa đặc thù, thì quan niệm thứ  hai lại cố lèo lái hầu biến đối  thoại trở thành một thứ công  cụ phục vụ cho việc công bố.

6.3 Trọng tâm của sứ mạng rao truyền  Phúc Âm mà Giáo hội đã lãnh  nhận, là xây dựng Nước Thiên  Chúa và xây đắp Giáo hội cho mãi  có đủ khả năng mà phục vụ Nước  Thiên Chúa. Do đó, Nước Thiên  Chúa thì quảng bác mênh mông hơn  Giáo hội. Giáo hội là bí tích của  Nước Thiên Chúa, tức là làm  biểu trưng, làm động lực cổ xúy  cho Nước ấy, cũng như quy hướng  về với Nước ấy; tuy nhiên, không  bao giờ Giáo hội đặt mình ngang hàng  với Nước ấy.

6.4 Các giám mục Châu Á đã hiểu  rằng công cuộc rao truyền Phúc Âm là  chính công cuộc xây dựng Giáo hội  địa phương qua một công trình đối  thoại ba chiều: với các nền văn hóa, với các tôn giáo và với  người nghèo tại Châu Á. Hội  nhập văn hóa, đối thoại liên tôn  và công cuộc giải phóng là ba chiều  kích của tác vụ rao truyền Phúc Âm.  Việc công bố không phải là một  chiều kích thứ tư cần được  ghép thêm vào ba chiều kích kia, mà là  tác vụ làm chứng, tức là một  khía cạnh làm thành tố của cả ba  chiều kích vừa nói. Vì thế, khi tìm  hiểu về mối quan hệ giữa công cuộc  đối thoại và tác vụ công bố,  chúng tôi muốn giới hạn để chỉ  bàn thảo về cách phối kết nội bộ  giữa các khía cạnh biện chứng  của một chiều kích mà thôi trong tác  vụ rao truyền Phúc Âm, tức là của  công cuộc đối thoại liên tôn.

6.5 Phương án duy nhất của Thiên Chúa  đề xuất nhằm cứu độ mọi  người, thì ôm trọn toàn bộ vũ  trụ. Sứ mạng của Giáo hội cần  phải được hiểu theo bối cảnh  của phương án ấy. Giáo hội không  giữ độc quyền về hoạt động  của Thiên Chúa trong vũ trụ. Dù phải  ý thức rõ về sứ mạng đặc  biệt Thiên Chúa đã ủy thác cho mình  trong thế giới, thì Giáo hội cũng  còn có bổn phận phải chăm chú để  ý đến hoạt động Thiên Chúa triển  khai ra trong thế giới, như thấy được  cả ở nơi các tôn giáo khác nữa.  Tư thế ý thức hai chiều ấy tạo  nên hai cực trong cung cách Giáo hội  thi hành tác vụ rao truyền Phúc Âm giữa  bối cảnh tương quan với các tôn  giáo khác. Nếu việc công bố nói  lên sự kiện Giáo hội ý thức  là mình đang thực thi sứ mạng  của mình, thì cũng tựa như thế,  việc đối thoại nói lên sự kiện  Giáo hội ý thức là Thiên Chúa  đang hiện diện và hoạt động rộng  cả ra ngoài biên cương của Giáo hội  nữa. Hoạt động của Giáo hội  diễn ra ở trong lãnh vực các sức  mạnh nằm dưới tầm điều khiển  của hai cực trong tác động của Thiên  Chúa. Công bố là khẳng quyết và  làm chứng về tác động của Thiên  Chúa nơi chính mình. Ðối thoại là  mở lòng ra cho và chăm chú để  ý đến tác động nhiệm mầu của  Thiên Chúa ở nơi tín đồ (kia)  đang đối thoại với mình. Nhìn theo  nhãn quan đức tin, thì sẽ thấy rằng  không thể bàn đến một trong hai --  hoặc là công bố hoặc là đối  thoại -- mà không nói chi tới hoạt  động kia.

6.6 Thánh Linh mời gọi hết thảy mọi  dân tộc, mọi người hoán cải,  tức là trước tiên, sử dụng  tự do mà hướng lòng mình về  với Thiên Chúa và Nước của  Ngài trong tinh thần tuân phục lời Ngài  dạy. Là một thách đố (các phía)  đặt ra cho nhau trong nỗ lực vươn lên  cho tới mức hoàn thiện sung mãn,  đối thoại tất phải gồm hàm cả  lời mời gọi hoán cải ấy. Tuy  nhiên, đối thoại không nhằm vào  việc hoán cải “trở lại,” hiểu  theo nghĩa gia nhập một tôn giáo khác.  Còn việc công bố thì bao hàm một  lời mời gọi đi xa hơn, lời  mời gọi làm môn đồ của Ðức  Giêsu Kitô trong Giáo hội. Ðó không  phải là hành động xảo quyệt chiêu  mộ tín đồ, nhưng là lời mời  gọi nhiệm mầu của Thánh Linh và đồng  thời cũng là lời đáp trả  của tự do con người. Chính vì sinh  hoạt sánh đôi ấy của tự do trong  Thánh Linh, mà tự nó, việc công  bố là một tác vụ mang tính chất  đối thoại [Evangelii Nuntiandi/Công bố  Tin Mừng (=CBTM), 75; ÐCÐCN 14].

6.7 Việc khẳng định niềm tin bao giờ  cũng đi đến điểm kết là Ðấng  Tuyệt Ðối. Tuy nhiên, không nên quên  rằng tín đồ kia cũng có một viễn  ảnh tương tự. Nếu thực sự  là chân chính, thì cuộc đối thoại  sẽ không bỏ lẫn chung vào giỏ hoặc  bỏ qua mà không cần biết đến những  viễn ảnh tuyệt đối ấy, nhưng sẽ  biết tiến hành trong “khoảng trống”  mà thái độ tôn trọng tự do và  lương tâm của lẫn nhau đã vạch  ra giữa các phía, dựa theo bầu khí  tự do tối thượng của Thánh Linh,  là Ðấng “muốn thổi đâu thì  thổi.” Ðiều đó muốn nói rằng  dù chúng ta biết rõ về ý muốn cứu  độ phổ quát của Thiên Chúa và  về sự việc Thiên Chúa đã dùng  trung gian môi giới nào để ban ơn  cứu độ xuống cho loài người  chúng ta, thì chúng ta cũng chưa biết  gì rõ được về cách thức  qua đó, cùng một ơn cứu độ  ấy đi đến với các tín đồ  khác đang đối thoại với chúng  ta. Ðây là lúc chúng ta phải đối  diện với thực trạng giao thoa nhiệm  mầu giữa tự do của Thánh Linh và  tự do của các tín đồ khác. Ðó  là mầu nhiệm cần phải lưu ý đến,  khi chúng ta làm chứng cho đức tin  của mình. Như vậy, thử hỏi có  thể coi đối thoại là điểm gặp  gỡ giữa hai thể dạng công bố  hay không, bởi vì mầu nhiệm đặt  ra trước mắt chúng ta cũng chính là  mầu nhiệm đang được các tín  đồ khác làm chứng?

6.8 Như Ðức Gioan Phaolô II đã nói:  “Ðối thoại chân chính sẽ trở  thành hành động làm chứng, còn  việc rao truyền Phúc Âm đúng với  danh nghĩa của nó, thì phải được  thực thi trong tinh thần tôn trọng và  lắng nghe lẫn nhau” (ÐCÐCN 12; Bài  ngỏ lời với Văn phòng thư ký  đặc trách về các Anh Chị Em không  kitô, ngày 3 tháng 3, 1984). Ðại Hội  Quốc Tế về Truyền Giáo tổ chức  tại thủ đô Manila (tháng 12, 1979) đã  nêu rõ là “công cuộc liên tục  xây dựng Giáo hội địa phương  là trọng tâm của tác vụ rao truyền  Phúc Âm giữa thời đại ngày  nay, cọng thêm vào đó là việc đối  thoại, một thể dạng chủ yếu của  tác vụ ấy” (Tuyên ngôn, số 19).

6.9 Không thể có được một cuộc  đối thoại không đi đôi với  nỗ lực công bố cho lẫn nhau, mà  lại có khả năng tiến xa hơn giai đoạn  hiểu biết lẫn nhau và hợp tác với  nhau, để đi đến chỗ chấp nhận  thách đố lẫn nhau và làm cho nhau phong  phú thêm ngõ hầu cùng nhau trở thành  sức sinh động cho cuộc sống con người  và cho nền văn hóa các dân tộc.  Ðó chính là điều cho thấy rằng  cuộc đối thoại liên tôn và tác  vụ công bố là những chiều kích  hay khía cạnh biện chứng của cùng  một tiến trình duy nhất.

6.10 Cho đến đây, chúng tôi cũng  chưa đề cập gì đến mầu nhiệm  về Ðức Giêsu Kitô và về vai  trò làm trung gian độc nhất cùng phổ  quát của Người. Tuy nhiên, vẫn có  thể hiểu ra được rằng quan hệ  mà mầu nhiệm ấy có đối với  những sự kiện lịch sử về  cái chết và cuộc sống lại của Ðức  Giêsu, cũng như tính chất độc nhất  và phổ quát của mầu nhiệm ấy đặt  nó nằm ngay vào trong mối tương quan biện  chứng giữa Giáo hội và Nước  Thiên Chúa. Hễ cứ cố độc chiếm  mầu nhiệm ấy cho riêng một mình Giáo  hội, thì sẽ làm cho nó trở thành  tương đối và mất đi tính chất  phổ quát. Có thể là chúng ta không  có đủ sức để thấu đạt  cho đầy đủ về những chiều kích  sâu thẳm của mầu nhiệm ấy, một  mầu nhiệm nằm ở điểm gặp gỡ  giữa những gì là vũ trụ và  những gì là lịch sử, giữa  những gì là trường cữu và  những gì thuộc thời gian, giữa  những gì là thần linh và những  gì thuộc thế giới loài người.  Thế nên, không được quyền thu  nhỏ mầu nhiệm ấy vào trong giới  mức hữu hạn của Giáo hội lữ  hành, bởi vì Giáo hội đã được  mời gọi để phục vụ mầu nhiệm  ấy, chứ không phải để biến nó  trở thành sở hữu độc quyền  của riêng mình.

6.11 Ðức Gioan Phaolô II đã nhận định  rằng: “Con người -- mọi người  không trừ một ai, đều -- đã  được Ðức Kitô cứu chuộc,  và bởi vì bằng một cách nào  đó, Ngài đã kết hợp với  con người -- với mỗi một người  không trừ một ai -- ngay cả khi con người  không ý thức ra hoặc không biết  đến điều đó. Là chính Ðấng  đã chết và đã sống lại cho mọi  người, Ðức Kitô cung ứng cho  con người -- cho mỗi người và  cho mọi người -- ánh sáng và sức  mạnh để có đủ khả năng mà  đáp lại thiên chức cao cả của  mình” (ÐCÐCN 14). Còn Thánh Linh  thì triển khai hoạt động của mình  ra cả “ngoài biên cương hữu hình  của Thân Mình Mầu Nhiệm nữa”  (ÐCÐCN 6).

6.12 Giáo hội lữ hành làm chứng  không phải cho chính mình, nhưng là cho  mầu nhiệm; và những lời kêu  gọi hoán cải, kêu mời làm môn  đồ Ðức Kitô là nhằm trước  tiên chỉ về mối liên hệ giữa  Thiên Chúa là Ðấng kêu gọi và  con người là chủ thể đáp trả  lời mời gọi. Chỉ sau đó, các  lời kêu mời kia mới nhằm vào  cộng đoàn Giáo hội. Căn tính của  Giáo hội không nằm ở nơi sự  việc chỉ một mình được trao phó  cho vai trò làm “con tàu cứu độ,”  nhưng là ở nơi sự việc đang  trên đường thực thi sứ mạng  biến đổi thế giới từ bên  trong, tựa như men trong bột, dù không  hoàn toàn biết rõ trước về những  dạng thể mà việc biến đổi ấy  sẽ mặc lấy.

LUẬN ÐỀ 7

Tiến hành một cuộc đối thoại  thật sự với các truyền thống  tôn giáo khác là phận vụ của Giáo  hội địa phương, bởi vì Giáo  hội địa phương phải sống liên  hệ hoàn toàn chặt chẽ với đời  sống và những nỗ lực đấu  tranh của người dân, đặc biệt  là của người nghèo. Ngoài ra, việc  đối thoại như thế cũng là một  thành tố không thể thiếu được  trong tiến trình xây dựng các Giáo  hội thật sự địa phương tại  Châu Á.

7. Lời Bàn

7.1 Hơn một lần, chúng tôi đã có  dịp nhắc đến việc các giám mục  châu Á nhận định rằng tác vụ  rao truyền Phúc Âm phải được  thực thi qua công cuộc xây dựng Giáo  hội địa phương, và một nhân tố  chủ yếu trong tác vụ này là cuộc  đối thoại ba chiều: với các nền  văn hóa, với các tôn giáo và  với người nghèo tại Châu Á.  Có thể có khuynh hướng coi việc hội  nhập văn hóa, cuộc đối thoại liên  tôn và nỗ lực giải phóng là  những hoạt động riêng rẽ, không  liên hệ gì với nhau. Nhìn vào thực  tế, thì có thể nói rằng cuộc đối  thoại liên tôn ngày nay thường diễn  ra giữa những người “giáo  hữu” ở bình diện cá nhân  riêng tư. Nhưng chính qua việc cùng nhau  tìm cách ứng đối cho thỏa đáng  với những thách đố gặp phải  trong các nỗ lực hội nhập văn hóa  và giải phóng như thế, mà cuộc đối  thoại liên tôn trở thành việc làm  cụ thể và thích đáng. Vì vậy,  cần phải dựa theo viễn ảnh toàn  diện ấy mà nhìn về công cuộc đối  thoại liên tôn. Nếu không, việc đối  thoại liên tôn, cũng như cả chính  tôn giáo nữa, sẽ trở thành những  hoạt động tha hóa.

7.2 Như ngay từ đầu chúng tôi đã  nhắc đến, một trong những đặc  nét chính của Châu Á là tình trạng  đa tôn giáo. Thế nên, không thể  xây dựng được những Giáo  hội thực sự địa phương tại  Châu Á với một nền linh đạo,  một nền thần học, một kiểu mẫu  phụng vụ, một lề lối tổ chức  giáo hội và những phương thức  giải phóng thích hợp với đời  sống cũng như với sứ mạng của  các Giáo hội ấy, nếu không biết  thật sự nhìn thẳng vào vấn đề  mà các tôn giáo khác đặt ra cho  sứ mạng của Giáo hội, và nghiêm  túc đối thoại với họ. Ðiều  đó chỉ có thể thành tựu được,  nếu các Giáo hội địa phương tại  Châu Á cảm nhận ra được mình  có trách nhiệm dối với số phận  và sứ mệnh của mình, lấy tinh thần  tự do mà cả dám hành động và  thử nghiệm, sáng tạo và học hỏi  từ những nhầm lẫn đã từng  vấp phải.

7.3 Các Giáo hội địa phương có  tăng trưởng như thế, thì Giáo  hội mới trở thành thực sự  là Công giáo, tức là phổ quát  (hoàn vũ). Bởi vì Giáo hội Hoàn  vũ là cộng đồng hiệp thông các  Giáo hội địa phương, với đặc  nét này là: mỗi Giáo hội đâm  rễ vào một nơi chốn, một nền văn  hóa và một truyền thống cá biệt,  nhưng đồng thời lại mở rộng  đối với tất các Giáo hội khác,  hiệp nhất trong đức tin với tất  cả và đóng góp cho toàn thể cộng  đồng những tư năng đặc thù  của mình. Theo sát chính đường  hướng đó, “Giáo hội Công  giáo hằng không ngừng ra sức hoạt  động bằng một phương thức hữu  hiệu, nhằm quy tụ toàn thể nhân loại  với tất cả những giá trị tốt  đẹp có mặt ở giữa loài người,  về dưới quyền một thủ lãnh là  Ðức Kitô, trong niềm hiệp nhất với  Thánh Linh của Người” (ASMD13;  x. Ep 1:3-13).

 

                                   Phạm Văn Vượng & NTM trình dịch


[1] Các “Luận  đề về công cuộc đối thoại liên  tôn” là do Ủy Ban Cố Vấn Thần Học  của Liên Hiệp các Hội Ðồng Giám  Mục Châu Á (FABC) soạn thảo. Tất cả  các Hội Ðồng Giám Mục thuộc FABC  đều có đại diện làm thành viên  trong Ủy Ban này. Tài liệu đúc kết  sơ khởi này là thành quả của  công tác nghiên cứu và bàn thảo  mà thành viên của Ủy Ban và nhiều  nhà thần học khác đã tiến hành  suốt trong hơn hai năm, và cuối cùng  đã được chấp thuận trong lần  Ủy Ban họp tại Singapore hồi tháng tư  năm 1987. Các luận đề này chỉ nhằm  đề xuất một số điểm căn bản  làm cơ sở chung cho các cuộc tiếp  tục trao đổi và bàn thảo rộng lớn  hơn với đoàn thể các chủ chăn  và các nhà chuyên môn. Các thành  viên của Ủy Ban Cố Vấn Thần Học  tha thiết mời gọi quý vị đọc  Luận đề, chia sẻ với Ủy Ban những  nhận xét và phê bình của mình, nhằm  góp sức đẩy mạnh làm cho đà  ưu tư đối với công cuộc đối  thoại liên tôn lan rộng và tiến xa hơn  nữa. Xin gửi các ý kiến nhận định về FABC, G.P.O. 2984, Hong Kong.