SỐNG SỨ MỆNH LÀM GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á:

 CÙNG VỚI THẦN KHÍ ÐI VÀO SỰ  SỐNG SUNG MÃN

Bản đúc kết Hội nghị Thần  học Quốc tế do Liên Hiệp các Hội Ðồng Giám Mục Châu Á (FABC) tổ chức lần đầu tại Pattaya, Thái  Lan, trong các ngày từ 10 cho đến 16 tháng  4, 1994. [1]

DẪN NHẬP

1. Sự sống. Sự sống sinh động  đang sôi sục với sức năng phong  phú của Châu Á. Lời hứa và  niềm hy vọng về sự sống sung mãn  trong Kinh Thánh kitô. Sự sống trong Nước  Thiên Chúa. Ðức Giêsu đến là  để cho chúng ta được sống và  sống dồi dào (x. Ga 10,10). Sự sống:  một món quà nhưng cũng là một nhiệm vụ. Cuộc hành trình đi vào Sự  Sống ấy, cuộc đấu tranh như thế cho  Sự Sống là chủ đề chúng tôi  đã bàn đến trong các cuộc thảo  luận tại Hội nghị Thần học Quốc  tế do Ủy Ban Cố Vấn Thần học của  FABC tổ chức tại Pattaya, Thái Lan,  trong các ngày 12-6 tháng 4, 1994 [2]

2. Tụ họp nhờ tác động của Thần  Khí Thiên Chúa, chúng tôi đã cầu  nguyện và nhận định trong tinh thần của  Ngài, đã làm việc, suy nghĩ, giải  quyết và sống qua những giây phút  hân hoan trong cùng một Thần Khí. Chính  nhờ Thần Khí mà tuy đến từ  nhiều chủng tộc, ngôn ngữ, cảnh  sống và nhiều nền văn hóa khác  nhau tại Châu Á, chúng tôi cũng đã  đồng tâm nhất trí với nhau trong mối  quan tâm đối với Châu Á cũng  như đối với Giáo Hội. Sự  sống phát nguyên từ Thần Khí. Sự  sống được phục hồi và canh tân  --tái sinh-- trong Thần Khí.

3. Nhờ tin như thế vào Thần Khí của  Ðức Giêsu, chúng tôi mới cả  dám cố sức tìm hiểu về những  vấn đề phức tạp khó khăn. Làm  thế nào để Giáo hội có thể  là Giáo hội thực sự của Châu  Á và thực sự của Ðức  Giêsu? Dung mạo Ðức Giêsu tại Châu  Á là như thế nào? Là thiểu số  đếm đầu ngón tay, làm sao chúng ta  có thể chu tất nổi sứ mạng loan  báo cho từng cá nhân và cho hết  thảy mọi người biết rằng Ðức  Kitô là chính Ðấng trao ban sự sống,  và chính Ngài là Sự sống? Nền  thần học của chúng ta đóng góp được  gì để phát huy việc xây dựng  một đời sống công bằng và sáng  sủa hơn? Chúng ta có thể làm được  gì để cổ xúy một đời sống  nhân bản hơn tại một đại lục  bao la đang khổ đau ở khắp nơi, vô  số người đang bị gạt ra ngoài  lề xã hội và đang phải kéo lê  một cuộc sống túng quẫn trong nghèo  đói bần cùng? Trong tư thế là Giáo  hội phục vụ sự sống, chúng ta có  bổn phận phải chiếu tỏa niềm hy vọng  như thế nào cho các dân nước  Châu Á của chúng ta?

4. Có thể là những câu hỏi chúng  tôi đặt ra chưa bao gồm hết mọi khía  cạnh, và thậm chí không ứng đáp  thích đáng cho tình huống thực tế  nữa. Còn những câu trả lời chúng tôi đề ra, thì khó mà có  sức đào sâu được một  thực trạng bí nhiệm như là Châu  Á, và càng khó lòng hơn nữa  để có thể vén mở nổi mầu  nhiệm của Ðức Giêsu và của chính  cả chúng ta là những môn đồ  của Ngài. Chúng tôi ý thức rõ  về những điều đó. Nhưng, chúng  tôi cũng xin được đưa ra các  thành quả có hạn rút tỉa được  từ những suy tư chúng tôi đã  làm nhằm phục vụ Giáo hội tại Châu  Á, ngỏ hầu mọi người có cơ  may nhận biết Sự Sống và vươn  tới với Sự Sống.

PHẦN I.

THÁCH ÐỐ VÀ ÐE DỌA NƠI NHỮNG HIỆN TƯỠNG MỚI TẠI CHÂU Á

Chúng tôi xin bắt đầu suy tư với  một số nhận định tổng quát về  thực trạng Châu Á.

5. Trên đà chuyển di bước qua ngưỡng  cửa thế kỷ 21, các dân nước  Châu Á đang chứng kiến cảnh tượng  những đợt phát triển tân kỳ  và lý thú dồn dập ập phủ lên  trên cuộc sống của mình. Hiện tượng  phát triển trong thời đại kỹ thuật  quả đã biến toàn bộ thế giới  chúng ta đang sống trở thành một  ngôi làng toàn cầu. Một tia tự do  và công bằng chỉ mới chớm trổ  tại một nơi xa xăm hẻo lánh ở  Châu Á thì trong khoảnh khắc, qua các  phương tiện truyền thông, cũng đã  thu hút được ngay chú ý của các  nơi khác trong khắp năm châu bốn bể.  Thế giới bao la này đã trở thành  một ngôi làng trong đó, tinh thần khích  lệ và gây hứng cũng như niềm  hy vọng có thể được thông truyền  mau chóng đến với những người  lâm cảnh tai ương. Kiến thức đang  bùng phát ra ngoài giới mức của  óc tưởng tượng. Những bí  mật của vũ trụ được tiếp  thu vào trong những thiết bị điện  tử bỏ túi, và nhờ đó mà  việc học hỏi trở thành gần gũi  hơn với tầm tay con người, và  làm cho công tác phục vụ cùng thể  hiện tình thương đối với tha nhân  cũng được nhanh chóng hữu hiệu  hơn. Hiện tượng hình thành của  nhiều phong trào phụ nữ cũng là  một khía cạnh tích cực trong đà  phát triển chung. Các phong trào này đang  ngày càng lớn dần tại Châu Á,  giúp cho nữ giới ý thức rõ ràng hơn về những tiềm năng và  tài lực đặc thù của họ, đặt  vấn đề xét lại cảnh nữ giới  đã phải từ hàng thế kỷ nay,  gánh chịu thân phận lệ thuộc nam giới,  và tạo cho họ có cơ hội cùng điều  kiện thuận lợi mà lên tiếng đòi  hỏi những quyền lợi của mình,  chẳng hạn như là quyền tham gia đầy  đủ vào trong đời sống công giữa  xã hội. Thần Trí của Thiên Chúa  hằng có mặt ở trong các hiện tượng  phát triển ấy (x. Hiến chế Mục vụ Vui Mừng và Hy Vọng, 26). Nhìn theo  viễn ảnh Kinh Thánh về công cuộc tạo  dựng còn đang tiếp diễn, tất chúng  ta phải nhận ra rằng hết thảy những  điều kỳ diệu ấy đều là công  trình của Thiên Chúa, để rồi cùng  với Tác giả Thánh vịnh thốt lên:  “Ôi lạy Chúa! Công trình Ngài xiết  bao kỳ diệu!” (Tv 139,14).

6. Những bước phát triển trong các  lãnh vực khoa học, kỹ thuật và kinh  tế đang tạo điều kiện thuận lợi  cho nhiều phong trào khác nhau như FABC đã từng ghi nhận trong các kỳ họp  trước đây (x. FABC V, Bandung), chẳng  hạn như: phong trào đẩy mạnh việc  xây dựng cộng đồng tại các nước  Châu Á, phong trào cổ xúy việc tham  gia, và những nổ lực nhằm mài  dũa cho sắc bén hơn cảm thức về  những thực tại thần thiêng. Ðó  là những phong trào sinh động và  đầy hứa hẹn, những phong trào  nói lên cuộc đấu tranh của Châu  Á nhắm đến một cuộc sống đầy  đủ và tốt đẹp hơn.

7. Tuy nhiên, nói lên niềm lạc quan trên  đây không có nghĩa là bỏ sót,  không biết nhìn đến tính cách mập  mờ nước đôi không thể chối  cãi được của những đổi  thay đang xảy ra trước mắt. Thế nên,  chúng ta hãy thử cùng nhau nhìn cho sâu  hơn vào trong thực trạng của cuộc  sống tại Châu Á.

Ðà phát triển kinh tế và  quy trình công nghiệp hóa

8. Hiện tượng đọc thấy hay nghe nói  tới hầu như mỗi ngày, đi lại  rồi cũng không là gì khác ngoài  những chuyện xảy ra trong lãnh vực  kinh tế: là giấc mơ đẹp về đà  tiến phát kinh tế.

9. Một quy trình công nghiệp hóa khắc  nghiệt đang được áp dụng tại  Châu Á. Quy trình ấy nằm trong thế dính  chặt với và phụ thuộc vào quy trình  toàn cầu hóa toàn bộ nền kinh tế  thế giới. Như thác lũ, tư bản  nước ngoài từ Tây Phương cũng  như từ các nước phát triển  vùng Ðông Á, ồ ạt tràn tới  mang theo những phương thức sản xuất  và những kỹ thuật công nghệ vượt  quá tầm khả năng hiện có của một  số quốc gia Châu Á, nhằm trục lợi.  Chủ nghĩa thực dân mới càng được  củng cố kiên vững hơn.

10. Những đổi thay tận gốc trong cách  thức làm việc, trong cấu trúc cơ  bản của nền kinh tế, và trong chính bản  chất của những mối quan hệ giữa  các cá nhân và các cộng đồng,  đã biến con người thành những  bộ phận máy móc trong quy trình sản xuất;  và hậu quả là công việc làm trở  thành bóc lột phi nhân. Ðiều này  đặc biệt đúng đối với các  nữ công nhân. Càng ngày càng thấy  gia tăng những hành động ác độc  xúc phạm đến phụ nữ, đến  đời sống và công việc làm của  họ, cũng như đến các trẻ em. Phụ  nữ thường là những người  trước ai hết, nhận chịu hậu quả  của tình trạng sa sút kinh tế và lạm  phát. Và thường thì ngược  lại, họ là những người cuối  cùng được bảo vệ và quan tâm  đến.

11. Cho dù phần lớn các nền kinh tế  tại Châu Á đang ở trong giai đoạn  thôn dã và nông nghiệp, thì thái  độ trắng trợn lơ là đối với  lãnh vực này đã gây ra những  hậu quả tiêu cực với sức  tàn phá khốc liệt không ai chối cãi  được, phương hại đến cuộc  sống các cá nhân cũng như các tập  thể. Tình trạng ấy của các vùng  nông thôn vẫn mãi kéo dài, ở  trong thế giẫm chân tại chỗ.

Hiện tượng hiện đại hóa,  tục hóa và truyền thông đại chúng

12. Song song với quy trình công nghệ hóa,  thì có nhu cầu hiện đại hóa ngành  thương mại. Và quy trình hiện đại hóa này lại đẩy mạnh hơn nữa  những kiểu sống thiêu thân theo đà  tiêu thụ, đến độ ngay cả những  người nghèo túng cũng đang bị  cuốn hút để bắt đầu nhập cuộc  đua tranh. Qua việc thương mại hóa giáo  dục và kiểm soát các phương tiện  truyền thông đại chúng, kinh tế đã  trở thành đầu máy kéo truyền  lực chi phối đến tận hết mọi  lãnh vực cuộc sống. Nếu không có  ngành công nghệ nào là “không hàm  chứa một phán đoán giá trị”  cả, thì những phương tiện truyền  thông cũng hệt như vậy cả! Với  việc phổ biến tin tức và những  thứ giải trí đủ loại, các phương  tiện truyền thông đại chúng đang  tạo ra một hệ thống giá trị cả tốt  lẫn xấu, cũng như cả một lối nhìn  chưa bao giờ thấy, về cuộc sống.  Vì thế, cần phải biết cẩn trọng  phân định trước hiện tượng  đó. Các giới thiếu nhi và thanh niên  Châu Á là những giới bị ảnh  hưởng nhiều nhất bởi một thứ  khái niệm “ngoại lai” về ý nghĩa  của chính sự sống. Hình ảnh mà  truyền thông đại chúng trình họa  về phụ nữ, là chính hình ảnh  của quan niệm coi nữ giới kém thua  nam giới và chỉ như là “dụng cụ”  để tạo khoái lạc; và như thế,  quan niệm này càng đứng vững  và càng lan rộng thêm ra. Ði song đôi  với sức ép của đà hiện đại  hóa, là hiện tượng tục hóa.  Những mối quan hệ gắn bó keo sơn  trong truyền thống gia đình Châu Á đang  bắt đầu lóc lở dần mòn đi;  thay vào đó thì lại có những  hình thức mới trong quan hệ thân tình  hiện đang được thử nghiệm  và khuyến khích. Quả vậy, cảm thức  sâu sắc về cộng đồng và về  tôn giáo, là nét tiêu biểu đặc  trưng nhất của các dân tộc Châu  Á, hiện đang bị tiêu tán dần mòn  đi.

Chính trị và phần tham gia của  dân chúng

13. Chúng tôi nhận ra rõ vai trò thống  trị của những khối tập đoàn công  nghiệp và thương mại. Vai trò này  kiểm soát hầu hết những bộ phận  chủ yếu của nền kinh tế, đặc biệt  là các bộ phận đi liền gắn chặt  với những nhóm chúa trùm có  từ lâu đời, với các nhà  công nghiệp thời nay nằm trong vòng thân  cận của các thế lực chính trị,  cũng như với các lực lượng  quân đội như thường thấy trong  hầu hết các quốc gia của chúng ta. Một  hình thức đàn áp tinh vi đang được  dùng đến để dã tâm tước  đoạt khỏi các cá nhân cũng như  các tập thể, quyền tham gia một cách  có ý nghĩa, vào trong tiến trình hình  thành các quyết định. Viện cớ  an ninh quốc gia và ổn định chính trị,  người ta đang hạn chế hay cắt giảm  đi các quyền con người. Những  hình thức độc tài và thống trị  theo một kiểu mới đang ló dạng mọc  dần. Ðáng buồn là chính trị chỉ  biết chăm lo làm sao cho có quyền hành  mà thống trị, chứ chẳng để ý  gì đến công tác phục vụ cho đại  đa số nhân dân. Nhiều nước Châu  Á hiện đang chứng kiến việc hồi  sinh của tinh thần tôn giáo đạo đức,  và trào lưu hồi sinh ấy thường  cho thấy là rất tích cực. Nhưng, lập  trường tôn giáo cực đoan cọng  với não trạng chủng tộc hẹp hòi,  đang làm dấy lên theo một kiểu mới,  những hình thức bạo lực, hận  thù và chia rẽ giữa các dân nước.

Ảnh hưởng của các hiện  tượng mới

14. Chắc chắn là những đổi thay dự  kiến sắp xảy đến trong hầu hết mọi  lãnh vực cuộc sống của thế kỷ  21, song song với và cũng có thể là  nhờ những bước tiến bộ trong  các ngành khoa học, công nghệ học và  truyền thông đại chúng, rồi sẽ ảnh  hưởng sâu rộng theo chiều hướng  tốt hoặc xấu, đến các nền văn  hóa và các dân tộc Châu Á. Nếu  muốn giữ cho được bản chất  đích thực của mình, thì con người  cần phải biết đâm rễ vào trong những  ý nghĩa sâu sắc hơn nữa của cuộc  sống. Nếu chẳng may các gốc rễ ấy  suy yếu (hay tệ hơn nữa, bị hủy hoại)  đi, thì sẽ xảy ra tình trạng phân  hóa văn hóa và phi nhân hóa.

15. Nhờ có nền công nghệ cao, việc  sản xuất hàng loạt đã trở thành  chuyện thông thường, và sẽ đặt  vào trong tầm tay bỡ ngỡ của đại  chúng, vô số những hàng hóa muôn  hình thái và những dịch vụ đa  dạng. Những phương tiện truyền thông  tinh vi sẽ cung cấp những khả năng mới  cho việc trao đổi, chia sẻ với nhau và  gặp gỡ nhau giữa các dân tộc  thuộc những nền văn hóa và tôn  giáo khác nhau. Tuy nhiên, một xã hội  “đại chúng” như thế tất sẽ  khó mà tránh cho được tình trạng  đánh mất đi những mối quan hệ  kết liên truyền thống, trở thành  vô danh, mất gốc và phải đứng  riêng lẻ ra ngoài môi trường sống.  Ðó là điều cần phải được  lượng định cho nghiêm túc trong ánh  sáng của tự do và của bản sắc  văn hóa các dân tộc.

16. Tại Châu Á, giới quyền thế về  mặt chính trị thường chỉ là một  thiểu số, và giữ một nền văn  hóa riêng của họ. Những thành phần  đại chúng cũng giữ những nền  văn hóa riêng tư, là những người  nghèo và những người bị gạt  ra ngoài vòng sinh hoạt chính trị. Có  lẽ những đổi thay như đã được  dự đoán về mặt xã hội đưa  dần tới tình trạng toàn cầu hóa  trong thế kỷ 21, rồi sẽ dồn những  người nghèo vào các nền văn  hóa riêng tư và càng nghèo nàn hơn.

17. Hiện nay, thực tế đang cho thấy những  dự đoán trên đây là đúng.  Chúng tôi nghĩ rằng những tiến bộ  và những bước đi lên của  một thiểu số đã làm cho người  dân có ảo vọng tưởng là cảnh  “phồn vinh” ấy rồi sẽ từ từ  lan rộng ra cho toàn bộ cộng đồng con  dân Châu Á.

18. Các nền kinh tế tự túc tự  cường và các cộng đồng nông  thôn, có tính cách vừa truyền thống  vừa bộ tộc, là phải gánh chịu  nhiều nhất những hậu quả khốc hại  do các trào lưu kia gây ra. Sự việc  nền kinh tế nông thôn bị sụt giá  và tình trạng lệ thuộc vào những  món nhu yếu phẩm nước ngoài đưa  vào qua quy trình trao đổi, tất sẽ kéo  theo những hậu quả khốc hại cho tương  lai của các tập thể nông thôn.

19. Nếu các cá nhân và hàng loạt  tập thể toàn bộ đều trở thành  nạn nhân của quy trình ấy, thì môi  sinh và thiên nhiên cũng không thể thoát  khỏi được những hậu quả tàn  phá khốc hại. Chỉ xin nhắc tới hai  trong những hậu quả khốc hại đó,  là việc phá hoại những khu rừng  mưa nhiệt đới, và tình trạng ô  nhiễm môi sinh.

20. Những công việc làm ở trong các  lãnh vực công nghiệp hiện đại  cũng ảnh hưởng lớn đến đời  sống gia đình và sức khỏe. Những  quan hệ theo kiểu mới trong công ăn việc  làm đang phá đổ dần mối hiệp  nhất và tính chất bền vững của  gia đình. Phụ nữ và trẻ em là  những nạn nhân hàng đầu. Ðã  từng là nạn nhân của huyền thoại  trọng nam hơn nữ, ngày nay, phụ nữ  vẫn còn phải làm nạn nhân của những  hình thức bạo hành mới và phải  sống qua cảnh vong thân về mặt văn hóa.

21. Nếu chỉ biết cố dùng cho hết sức  năng một cách ám ảnh để đạt  cho được những thành tựu vật  chất và kinh tế, nếu chỉ biết tìm  cách để thỏa mãn những nhu cầu  do truyền thông đại chúng và văn  hóa công nghệ học kiểu mới tạo  ra, thì con người sẽ bị, qua những  phương cách tinh xảo, kéo lôi dần  đến một đời sống không còn  có gốc rễ luân lý và tôn giáo.

Viễn ảnh cơ bản và đường  hướng của Giáo hội tại Châu  Á

22. Trong ánh sáng của bối cảnh sơ phác  trên đây, Giáo hội tại Châu Á  nhận ra rõ là cần phải tìm hiểu  thêm và trình bày trở lại về  vai trò mình phải đóng giữ tại  vùng này. Cần phải có một nhãn  quan đổi mới và một cảm thức  đầy sức sống mới về sứ  mạng, một ý thức sâu đậm hơn  về những nguồn sức năng nhân  bản của mình, thì Giáo hội mới  thực hiện được công tác ấy.  Giữa các nguồn sức năng ấy thì  có:

 a) Con người: với phẩm giá  nhận được từ tay Thiên Chúa  ngay từ giây phút đầu cuộc sống,  và với những tiềm năng khôn  lường được phú bẩm cho để  không ngừng thăng tiến sự sống,  con người là nguồn sức năng số  một.

b) Gia đình: gia đình truyền thống  Châu Á có đặc tính là gắn bó  keo sơn với nhau, chăm lo và giúp đỡ  cho nhau, hiếu khách và đạo đức.  Ðó là niềm hy vọng cơ bản nhất  cho những gì Giáo hội đang chờ  mong.

c) Giới trẻ: giàu nghị lực,  đầy lý tưởng, có khả năng  cao để dấn thân hoạt động cho công  lý và tự do, họ là những nguồn  lực chưa được tận dụng nhằm  phục vụ sứ mạng và sự sống.

d) Nữ giới: cùng với nam  giới, họ đứng ngay ở nơi con  tim của gia đình Châu Á, gánh vác  sứ mạng nói lên lòng xót thương  và chăm lo, niềm hòa hợp và tình  thương mến; cùng hợp tác với  nam giới trong việc sinh thành và dưỡng  dục sự sống, ngày nay họ còn đứng  ngay cả ở tuyến đầu trong cuộc đấu  tranh cho công lý và tự do.

Giáo hội có sứ mạng phải dùng  đến các nguồn lực nhân bản như  thế cọng với bao nhiêu nguồn lực  khác nữa, mà đối phó với  tình trạng mập mờ nước đôi  trong các thực tại ngày nay tại Châu  Á, cũng như để đưa dẫn những  nhân tố tích cực đi vào lối ngả  phục vụ cho công cuộc phát triển con  người.

23. Giữa những đổi thay tầm cỡ  lớn tại Châu Á, Giáo hội có  bổn phận phải loan báo về ý nghĩa  Thiên Chúa đã mang lại cho sự sống,  và về một mô mẫu khác cho đời  sống và đường hướng hoạt  động của con người, trong một cách  thức đổi mới và năng động  hơn, bằng chính ngôn từ, hành động  và lối sống của mình. Công trình  Nhập thể của Tin Mừng đòi hỏi  phải có một đời sống đổi  mới về phẩm chất, tức là không  phải chỉ lo để “có cho nhiều hơn,”  nhưng là để “sống cho xác thực  hơn” và để biết “chia sẻ nhiều  hơn”.

24. Ðối với chúng ta, là những  người đang sống trong hiện tình Châu  Á, điều đó có nghĩa là cần  phải biết ý thức sâu xa hơn về ý nghĩa và tầm trọng yếu của Giáo  hội. Chúng ta chỉ là một “đoàn  chiên nhỏ,” một cộng đoàn ít  ỏi giữa tập thể đông đảo  vô kể tại Châu Á mênh mông đang  tiến bước đi dần đến với  sự sống sung mãn. Phần đóng góp  đặc thù của chúng ta là dồn hết  sức năng để nỗ lực xây dựng  một “mối hiệp thông giữa các  cộng đồng” bắt đầu từ gia  đình, một mẫu thức mới trong cách  sống sứ mạng làm Giáo hội, có  đủ khả năng biểu thị theo một cung  cách mới, dung mạo của Ðức Kitô  ra ở giữa các lãnh vực sinh hoạt  của xã hội Châu Á.

PHẦN II.

A. DUNG MẠO CỦA ÐỨC GIÊSU TẠI CHÂU  Á

25. Cách thức Giáo hội ứng đáp  với các thách đố do những đổi  thay mới xảy đến đặt ra, thì chủ  yếu tùy thuộc vào cách thức Giáo  hội hiểu về cương vị làm môn  đồ (của Ðức Giêsu). Nhưng để  nhận ra cách thức ứng đáp thích  đáng, thì trước tiên Giáo hội  cần phải tìm hiểu Ðức Giêsu là  ai trong bối cảnh Châu Á.

Ðức Giêsu là Ðức Chúa

26. Nếu ngày nay Ðức Giêsu hỏi chúng  ta là những người đang sống tại  Châu Á: “Các bạn nghĩ tôi là  ai?” chúng ta sẽ hiên ngang tuyên xưng  giống như Giáo hội thời sơ khai rằng:  “Thầy là hình ảnh của Thiên Chúa  vô hình, là trưởng tử giữa  mọi loài thọ tạo” (x. Cl 1,15); Thầy  là Ðấng Mêsia, Ðấng Cứu độ,  là Ðức Chúa! “Thầy là Lời  từ nguyên thủy, Thầy ở nơi Thiên  Chúa, Thầy là Thiên Chúa” (x. Ga 1,1).  Lòng tin của chúng ta là chính lòng tin  của các Tông đồ vào Ðức  Kitô Sống lại.

 Ðức Giêsu và người  nghèo: thái độ đặc đãi

27. Tuy nhiên, khi suy nghĩ về mặt trái cay  nghiệt của Châu Á đang khổ đau, chúng  ta thấy rằng hình ảnh hiện rõ lên  trong trí óc hình dung của chúng ta, là  chính chân dung nhân tính gặp thấy ở  trong Kinh Thánh. Sinh làm con một người  nữ (x. Gl 4,4), Ngài là Thiên Chúa, Ðấng  đã đến cư ngụ ở giữa  chúng ta (x. Ga 1,l4). Ngài tự làm cho mình  thành trống không hầu kết giây liên  đới với những kẻ nhỏ bé,  với những kẻ bị đối xử  như không phải là người: những  người nghèo đói và túng quẫn,  những người bị ruồng rẫy và  gạt bỏ ra ngoài lề xã hội, những  người bị áp bức và chà đạp,  những người bệnh hoạn tật nguyền,  những người bị coi thường và  không được đếm xỉa đến,  những trẻ em và phụ nữ. Ngài  lớn tiếng lên án lòng tham không  đáy của con người đối với  giàu sang và danh vọng; Ngài đến với  những người bị chà đạp áp  bức: Ngài đi giữa họ, sống với  họ, vác lấy những gánh nặng cho  họ, gọi họ là bạn hữu của mình  (x. Lc 4,18; 15,2). Ngày nay chúng ta gọi lòng  thương đặc biệt dành cho người  nghèo như thế là thái độ đặc  đãi của Ngài đối với họ.

Phá vỡ mọi hàng rào phân  cách

28. Ngài phá vỡ những hàng rào  phân cách trong xã hội đã từng  ăn sâu gắn chặt vào trong tập tục  và truyền thống, cũng như bện liền  với những cơ cấu xã hội. Ngài  chống lại lập trường tôn giáo  cố chấp đã từng gây chia rẽ  giữa người Do thái và người  xứ Samaria, và nêu lên một cung cách  hoàn toàn mới mẻ trong lề lối thờ  phượng Thiên Chúa, tức là thờ  phượng “trong Thần Khí và trong Chân  lý.” Ngài không ngại chung đụng với  tiện dân, và gọi những phụ nữ  vào trong hàng môn đồ thân tín của  Ngài. Lòng yêu thương của Ngài làm  động lòng những người khốn  khổ sống trong cảnh bị ruồng bỏ, tháo  gỡ gông xiềng cho họ thoát khỏi  cảnh bị tước mất hết phẩm giá  và mọi thứ đảm bảo an toàn,  và đưa dẫn họ đến sống trong  tự do và niềm vui Ngài hằng chia sẻ  với Cha của Ngài. Ngài nói cho họ  biết về Cha của Ngài, và nói là  Cha của Ngài cũng là Cha của họ; “Cha  chúng tôi” chăm lo chẳng những cho  chim trời cá biển và hoa đồng nội  không thôi, mà còn hơn nữa, đặc  biệt chăm lo cho con người (x. Mt 6,25-32;  Lc 12,22-30). Ngài tha thứ và giải hòa.  Ngài là hiện thân của niềm hài  hòa. Ngài là bình an (x. Ga 14,27; 20,21-22; Ep  2,14).

Nước Thiên Chúa

29. Lấy hết lòng thâm tín của mình  và với những lời lẽ có thẩm  quyền, Ngài giảng giải về Thiên Chúa  và về cung cách Thiên Chúa trị vì.  Nước Thiên Chúa ở ngay đây,  ở giữa các bạn! (x. Lc 17,21) Ngài  đặc biệt đem lòng thương xót quần  chúng nhân dân. Ngài khóc thương  một người nằm xuống (x. Ga 11,35-36),  Ngài khóc thương cả một thị thành  (x. Lc 19,41-44). Ngài muốn ban sự sống cho  họ. Ngài gọi người nghèo là  có phúc: Nước Thiên Chúa là  của họ! (x. Lc 6,20) Những kẻ vô gia  cư, những người không có cơm  ăn áo mặc --những kẻ bé mọn--  chính là những người mang dung mạo  của Ngài. Thái độ cương quyết  bảo vệ những kẻ bé mọn, sức  tác động chữa lành và lời  có quyền tha thứ của Ngài là bao  nhiêu dấu chỉ cho thấy cảnh thái Nước  Thiên Chúa đang tràn ngập, đầy xót  thương, vào giữa không gian và thời  gian chúng ta đang sống.

Ngôn sứ gan dạ

30. Vì quyền lợi của họ, Ngài mạnh  mẽ đối đầu với những hạng  quyền thế bất kể họ là ai, và tố  cáo lòng tham và thói giả hình (x. Mt  23,13-36; Lc 12,1), tật hư đốn và hành  động áp bức, lối lãnh đạo  của họ và việc họ bỏ rơi những  điều quan trọng trong lề luật, như công  bình, nhân nghĩa và thành tín (x. Mt 23,23)  để chạy theo những tư lợi ích  kỷ. Gan dạ và dám ăn dám nói, hằng  khát khao công lý, bằng lời nói  và hành động, vị ngôn sứ muôn  thuở đã đảo lộn nấc thang giá  trị của thế giới này. Ngài nói  đến việc làm hòa với kẻ thù,  cầu nguyện cho họ, yêu thương họ  và sống tình thứ tha đối với  họ (Mt 5,43-48; Lc 6, 27-36). Quả là một tình  yêu triệt để, khôn tả!

 Dấu chứng đối kị

31. Bàn đến lãnh vực kinh tế, Ngài  đã định lượng của cải trần  gian theo giá trị tương đối của chúng,  đặt chúng làm phương thế phục  vụ cho Nước Thiên Chúa, và lên  án lối sống làm tôi “thần tiền,”  lòng tham và tính ích kỷ là con đẻ  của thái độ tôn thờ ngẫu thần  tiền của (x. Lc 12,13-21; Mt 6,24). Ngài là Ðường  (x. Ga 14,6). Là Thầy, nhưng Ngài lại phục  vụ. Ngài chỉ rõ cho thấy công dụng  của quyền bính: không phải để thống  trị và áp bức, nhưng là để  phục vụ (x. Ga 13,13-15; Lc 22,27; Mc 10,45). Không  chút do dự, Ngài công khai đối đầu  với những hạng quyền thế, bất  kể họ là ai. Ngài nói thẳng: cầm  quyền là phục vụ. Không chỉ làm  Thầy nói suông, Ngài còn sống lời  Ngài dạy nữa. Ngài quả là hiện  thân của trung thực, trong sáng, uy tín,  và chính là Sự thật. Ngài đã  bị giết chết chỉ vì Ngài nhìn sự  thật bằng một cặp mắt chính trực,  khác hẳn với yêu sách tôn giáo  và với quan niệm về công ích của  giới cầm quyền cai trị.

Thánh Giá và Thánh Thể: Tình  Yêu và Sự Sống 

32. Việc Ngài tự trao hiến chính mình  để chịu chết trên thập giá hùng  hồn nói lên ý nghĩa của yêu thương,  chia sẻ và phục vụ. Vì yêu thương,  Ngài chịu chết hầu mưu ích cho chúng  ta. Nhờ Ngài yêu thương, nên chúng  ta được sống.

33. Thánh Thể mà Ngài cử hành với  các môn đồ của mình trong đêm  trước khi Ngài chịu chết, là nghi  thức tưởng niệm tình yêu trọn  vẹn ấy một cách bí tích (x. Mc 14,22-25;  Mt 26,26-29; Lc 22,14-20; Ga 13,1-5). Ðó là điều  nói lên ý nghĩa sứ mạng của  Ðấng-Ðược-Xức-Dầu, của  Ðấng Kitô, của Con Người chết  đi để ban sự sống cho nhân loại.  Ngài đã nhận uống chén đắng  khổ đau (x. Mc 14,36; Mt 26,39.42; Lc 22,42). Thật phi  lý, đúng! Nhưng trong thân phận mỏng  dòn yếu đuối và khổ đau cam go đến  tột độ ấy, trong những gì phi lý  nhất của kinh nghiệm loài người lại  sinh động tiềm ẩn quyền năng, thượng  trí và tình yêu của Thiên Chúa (x.  1Cr 1,24).

34. Bằng khổ đau và chết chóc, Ðức  Giêsu đã đánh bại sự chết  và phục hồi sự sống. Cuộc Ngài  sống lại từ cõi chết đã làm  cho Ngài trở thành “Cuộc Chiến Thắng  của Nhân Loại Khổ Ðau.” Ðó là niềm vui Phục Sinh, là niềm vui mà chúng  ta phải để cho thấm nhập sâu vào  trong những nỗ lực đấu tranh và  niềm hy vọng của chúng ta. Ngài là của  ăn của uống bổ sức cho sự sống,  là nước ban sự sống (x. Ga 6,51; 4,10.13;  7,37-38). Ngài là Sự Sống. Là con người  chỉ biết sống hoàn toàn cho người  khác và hoàn toàn cho Thiên Chúa, Ngài  đáp ứng thỏa mãn những khát  vọng sâu thẳm nhất của nhân loại,  khát vọng được hưởng sự  sống sung mãn.

35. Ðó chính là Ðức Giêsu mà  chúng ta đã từng nghe biết, đã  từng một cách nào đó chạm đến  và nhìn ngắm ở trong các mầu nhiệm  chúng ta cử hành (x. 1Ga 1,1). Ðó là  cách thức chúng ta nhìn Ðức Giêsu  trong dung mạo của Ngài tại Châu Á ngày  nay.

36. Vậy, Ngài là Lời Sự Sống (x. 1Ga 1,1) mà chúng ta có bổn phận chia  sẻ với những người đồng  hương Châu Á của chúng ta. Cũng như  Ngài đã là Tin Mừng cho người  nghèo khó trong thời Ngài, thì cũng  vậy, ngày nay, Ngài không thể là gì  khác ngoài Tin Mừng được gửi  đến cho “hàng triệu hàng tỉ” người  Châu Á. Chân dung nhân tính ấy của  Ðức Giêsu --sinh bởi một người  nữ, Thiên Chúa-trở-thành- người  nghèo, Thiên-Chúa-ở-với-chúng-ta,  bình an của chúng ta, thầy dạy và ngôn  sứ, người chữa lành, con người  của hài hòa, người lãnh đạo-tôi  tớ khổ đau, Ðấng giải phóng và  ban sự sống-- là hình ảnh có tác  dụng mạnh và thích hợp đối với  trạng huống nô dịch hiện nay tại Châu  Á, đối với cuộc đấu tranh của  Châu Á nhằm tới công lý và  hòa hợp, tức là đối với  cuộc đấu tranh cho sự sống mà chúng  ta đang tiến hành.

B. DUNG MẠO CỦA GIÁO HỘI TẠI CHÂU  Á

37. Và nếu Thầy là thế, thì cộng  đoàn-môn đồ, tức Giáo hội  cũng phải là như vậy. Chỉ khi nào  lời nói, hành động và cung cách  sống của chúng ta thực sự dâng  trào lên từ những gì chúng ta  tin ở nơi Ðức Kitô, thì lúc  đó chúng ta mới có đủ khả  năng và điều kiện mà mời gọi  người khác “Hãy đến mà xem.”  Bởi lẽ, dung mạo của Ðức Giêsu  sẽ thu hút các dân nước Châu  Á, trong và qua gương mặt của Giáo  hội.

Những môn đồ của Ðức  Giêsu là Chúa

38. Lời tuyên xưng “Ðức Giêsu  Kitô là Chúa” (Pl 2,11) đã làm phát  sinh ra một cộng đoàn môn đồ. Là  phần tử của một cộng đoàn tin  nhận Ðức Giêsu là Chúa, toàn  bộ chính con người và cuộc sống  của chúng ta, những môn đồ, mang  đậm ấn tín đặc thù của sứ  mạng phục vụ, tức là sống chết  và hoạt động cho tha nhân. Ðiều đó  làm cho chúng ta hằng không ngừng lưu  tâm tìm kiếm, nhìn kỹ và chiêm ngưỡng  dung mạo của Ðức Chúa hằng sống.  Là những môn đồ của Ðức  Giêsu là Chúa, chúng ta được  mời gọi để giới thiệu cho Châu  Á thấy gương mặt của một Giáo  hội trung thực tuyên xưng niềm tin của  mình, chăm lo phục vụ, để tâm nhận  định và chiêm niệm.

39. Nói thế không có nghĩa là chúng  tôi không ý thức rõ về thực  trạng tội lỗi của chúng ta, cả về  mặt cá nhân lẫn về mặt cơ cấu  tổ chức. Chính Phêrô là người  môn đồ đã thú nhận trước  mặt Ðức Chúa rằng: “Lạy Chúa,  xin hãy xa con, vì con là kẻ tội lỗi”  (Lc 5,8). Những thái độ đắc thắng,  kỳ thị, phò giáo sĩ, thống trị, cố  chấp, vòng vo dàn xếp phương hại  đến chân lý và công bình, là  một số trong những thái độ có  thể đã ăn sâu gắn chặt vào  trong các cơ cấu tổ chức của chúng  ta. Thú tội là con đường dẫn  tới hoán cải và tới chỗ sống  sứ mạng làm môn đồ một cách  triệt để hơn.

Những môn đồ của Ðức  Giêsu nghèo khó

40. Nếu dung mạo con người của Ðức  Giêsu thu hút các dân nước Châu  Á, đặc biệt là những từng  lớp đông đảo quần chúng đang  khổ đau và bị ruồng bỏ ra ngoài lề  xã hội, tất cộng đoàn chúng ta quả  đang được mời gọi mặc lấy  một dung mạo thực sự đầy tình  người: một Giáo hội không chống  cưỡng lại đòi hỏi phải nhập  thể vào giữa lòng nhân loại yếu  đuối mỏng dòn; một Giáo hội không  ngoảnh mặt làm ngơ trước những  thập giá (gian nan khốn khó) của lịch  sử; một Giáo hội không ngần ngại  tự hủy chính mình ra không; một Giáo  hội không coi là điếm nhục khi phải  sống cảnh nghèo; một Giáo hội dám  sống sứ mạng làm Giáo hội của  người nghèo. Qua một Giáo hội chứng  tá như thế, tất dung mạo của Ðức  Giêsu, Ðấng yêu thương người  nghèo với một tình thương đặc  biệt, sẽ rực sáng rạng ngời  lên tại Châu Á.

Những môn đồ của Ðức  Giêsu, Chúa của hiệp thông và hài hòa

41. Tại Châu Á, với những sắc  thái hòa giải và bình an, diên mạo  của Ðức Giêsu có một sức  hấp dẫn đặc biệt. Trong tư cách là  một cộng đoàn Giáo hội, chúng ta  được kêu gọi đóng giữ  vai trò làm bí tích, tức là dấu  chỉ và khí cụ, của mối kết hợp  mật thiết với Thiên Chúa và của  mối hiệp nhất toàn thể nhân loại,  do Ðức Giêsu đã kiến tạo (x.  Hiến chế về Giáo hội Ánh sáng  muôn dân, 1). Bởi lẽ, sự sống  bên trong của chúng ta --theo tư cách là  cộng đoàn Giáo hội-- là chính  Thần Khí của hiệp thông, cho nên nếu  chúng ta không lưu tâm đủ đến  sứ mạng phá đổ tất cả những  ràng rào phân cách, thì chúng ta đánh  mất đi căn tính của mình.

42. Chúng ta được kêu gọi để  sống hiệp thông với nhau không phải  chỉ theo tư thế là cá nhân mà thôi,  nhưng là để sống hiệp thông giữa  các dân tộc và các cộng đoàn  giáo hội, cũng như để khắc phục  những khó khăn và chia rẽ giữa  các giáo hội kitô nữa. Có thế,  chúng ta mới minh chứng cho thấy được  rằng cộng đoàn-môn đồ Ðức  Giêsu là thực sự dân riêng của  Thiên Chúa.

43. Trong bối cảnh sinh sôi nẩy nở những  xu hướng tôn giáo cực đoan, những  xung khắc hung bạo giữa các tôn giáo,  những tan vỡ trong đời sống chung  giữa xã hội và những hành động  hủy hoại môi sinh, chúng tôi xét thấy  cần xác định rõ về tầm giá trị  của những suy tư do FABC nêu lên liên  quan đến chiều kích đối thoại, là  một chiều kích chủ yếu và có tính  cách bao hàm trong bản chất của Giáo  hội. Ðối thoại là cách thế đầu  tiên Giáo hội tại Châu Á dùng đến  hầu xây dựng và cổ xúy tinh thần  hòa hợp. Nhưng, giống như Thầy chúng  ta đã làm, chúng ta cũng phải đi  qua con đường yêu thương người  nghèo bằng một tình yêu đặc đãi,  thì mới có thể xây dựng được  cảnh sống hài hòa cho Châu Á.

Những môn đồ của Ðức  Giêsu, Người Tôi Tớ phục vụ Nước  Thiên Chúa

44. Bởi vì Ðức Giêsu đã xả  toàn thân cho Nước Thiên Chúa, thế  nên, tất cả chúng ta cũng đều được  mời gọi để tìm hiểu và sống  cho sâu hơn mối quan hệ chúng ta có đối  với sự kiện cơ bản ấy trong cuộc  sống của Ðức Chúa chúng ta. Ðiều  đó đòi hỏi phải lột bỏ mọi  thái độ đắc thắng trong cuộc sống  và trong cơ cấu tổ chức của Giáo  hội, vì lẽ Nước Thiên Chúa thì  lớn rộng hơn chúng ta. Ðiều đó  thôi thúc chúng ta tìm đến với  một niềm vinh quang duy nhất, đó là làm  người tôi tớ khiêm hạ của  Nước Thiên Chúa, bởi vì nếu  không thì chúng ta sẽ đánh mất đi  khả năng giúp cho cộng đoàn chúng  ta nói lên được ý nghĩa đặc  thù của mình. Ðiều đó thúc bách  chúng ta sống một cuộc đời truyền  giáo thật sự, lý do là vì sự  sống mà Nước Thiên Chúa hứa  ban, phải được khám phá ra từ  trong và phải được chia sẻ với  những người khác. Ðiều đó  thường xuyên đặt chúng ta trước  tầm phán xét của Nước Thiên  Chúa, bởi vì cuối cùng rồi, chính  những giá trị của Nước Thiên  Chúa sẽ kết hợp chúng ta lại làm  một với Ðức Chúa chúng ta.

Những môn đồ của Ðức  Giêsu Ngôn Sứ và Dấu Chứng Ðối  Ðầu

45. Ðức Giêsu đã phục vụ Nước  Thiên Chúa trước tiên là qua sứ  mạng làm chứng tá ngôn sứ. Giáo  hội Châu Á không thể mang một gương  mặt nào khác được. Qua lời  công bố, cách sống và hiện diện,  chúng ta có bổn phận phải vạch trần  những giá trị giả dối lòe bịp  đang được Châu Á niềm nở  tiếp đón và ôm ấp, cũng như  những hậu quả phi nhân hóa do chúng  gây ra, cách riêng là trên những  người nghèo khó. Giữa cảnh lèo  lái lừa bịp, chúng ta phải là những  người loan báo sự thật và tự  do. Giữa cảnh quy mô của đời  sống tiêu thụ, giàu có sang trọng và  duy vật, chúng ta phải nêu cao dấu chứng  của bình dị và chừng mực. Giữa  cảnh đay nghiến của nghèo đói và  cơ cực, chúng ta phải là trạng sư  lên tiếng đấu tranh cho công lý và  giải phóng. Giữa cuộc cuồng loạn  tranh dành uy thế và quyền hành, chúng  ta phải là hiện thân của lòng trắc  ẩn, của thái độ quan tâm lo lắng  và vị tha, của lòng thương xót và  tình yêu thương.

46. Ðể bày tỏ một gương mặt như  thế, thì chúng ta phải sẵn sàng lột  bỏ khỏi chúng ta những thứ não  trạng, phạm trù và cơ cấu loài người,  thường làm cho lu mờ đi dung mạo  của vị Ngôn Sứ và của Dấu Chứng  Ðối Ðầu mà chúng ta cung kính gọi  là Ðức Chúa của chúng ta.

Những môn đồ của Ðức  Chúa Chịu Ðóng Ðinh

47. Hình ảnh Ðức Giêsu chịu treo trần  trụi trên thập giá cũng không phải  là không có sức thu hút đối  với các dân nước Châu Á.  Ðêm đen của đức tin phủ kín  Ðức Chúa chịu đóng đinh giữa  lúc Ngài cảm thấy như đang bị bỏ  rơi, đôi lúc cũng là kinh nghiệm  của chính bản thân chúng ta trong đời  làm môn đồ của Ngài. Ðối với  chúng ta, dung mạo của Ðức Chúa chịu  đóng đinh biểu thị tình yêu trọn  vẹn và vị tha đối với Thiên Chúa  và đối với tha nhân. Dung mạo của  Giáo hội cũng phải là dung mạo của  tình yêu thương tinh ròng, đặc biệt  là giữa cảnh tăm tối thiếu vắng  tình yêu. Nhưng, chúng ta cũng biết rằng  thập giá là một biểu tượng,  biểu tượng của Ðức Kitô Phục  Sinh. Vì thế, tình yêu thương của chúng  ta có sứ mạng giúp cho thế giới  chúng ta sống được một cuộc sống  hân hoan với hy vọng ngập tràn, để  có thể giữ mãi một niềm lạc  quan lớn ngay ở giữa cảnh khổ  đau.

PHẦN III:

LỜI ÐÁP TRẢ CỦA GIÁO HỘI TẠI  CHÂU Á

A. THẦN HỌC PHỤC VỤ SỰ SỐNG

48. Chúng tôi xem việc suy tư thần học  tại Châu Á là một công tác phục  vụ sự sống. Thần học phải suy nghĩ  một cách có hệ thống về những  chủ đề quan trọng đối với: cuộc  chung sống giữa các dân nước  Châu Á, cuộc sống của người  kitô và của các Giáo hội kitô tại  Châu Á, và công tác của các Hội  đồng Giám mục Châu Á.

49. Ðể làm công việc phục vụ ấy  cho thích đáng về phương diện mục  vụ và cho có hiệu quả đối với  cuộc sống, linh đạo và sứ vụ  của cộng đồng môn đồ, thì thần  học phải khởi công từ bên dưới,  từ hạ tầng của lịch sử, từ  viễn cảnh của những người đang  đấu tranh cho sự sống và tình yêu  thương, cho công lý và tự do. Những  kinh nghiệm sống niềm tin kitô qua nhiều  thế kỷ giữa các Giáo hội khác  nhau trong bối cảnh Châu Á phải được  chọn làm khởi điểm. Làm thần  học theo cung cách ấy sẽ trở thành  một công trình bao quát rộng rãi hơn  là đơn thuần việc “đức tin  đi tìm nhận thức” (fides quaerens intellectum), tức là công trình đức tin yểm  trợ cho sự sống và tình yêu thương,  cho công lý và tự do.

50. Bằng cách đó, thần học sẽ trở  thành một tiến trình sinh động có  sức mang lại ý nghĩa và tạo được  điều kiện thuận lợi cho cuộc hành  trình hướng tới sự sống, sẽ  trở thành một bộ phận trong quy trình  biến thành và sống sứ mệnh làm  Giáo hội tại Châu Á.

B. NHỮNG ÐƯỜNG HƯỚNG  MỤC VỤ

51. Làm môn đồ (discipleship) là một  mô biểu mới trong việc tìm hiểu về  Giáo hội. Cương vị này đòi hỏi  Giáo hội phải là một Giáo hội truyền  giáo. Vì thế, Giáo hội được  kêu gọi tiến hành công tác phúc  âm hóa đổi mới, tức là công  khai giới thiệu Ðức Giêsu. Trong bối  cảnh Châu Á, công tác phúc âm hóa  đổi mới đòi phải có một  cách thức biểu đạt đổi mới,  những phương pháp và một nhiệt  huyết đổi mới. Muốn được  thế, thì cần phải có óc sáng tạo  mục vụ.

52. Làm môn đồ trong Giáo hội là  chấp nhận sống một cuộc hoán cải  triệt để, cởi bỏ những đường  hướng và cơ cấu gây ra chết chóc  để chọn lấy lề lối hành động  mang lại sự sống; thay đổi não trạng  là điều kiện tiên quyết của một  cuộc hoán cải như thế. Ðiều đó  có nghĩa là phải gầy dựng một  cộng đoàn bao gồm, không phân biệt  văn hóa, giai cấp xã hội hay giới  tính về mặt bình đẳng và quan hệ  hỗ tương trong Giáo hội. Việc xây  dựng này tất phải thực hiện  bằng cách cổ xúy ý thức “thuộc  về,” tức là làm phần tử  của một đoàn thể, một cộng đoàn,  dưới nhiều hình thức khác nhau:  tạo điều kiện thuận lợi cho việc  suy niệm Lời Chúa trong các nhóm nhỏ  hay các cộng đoàn; dùng đến những  giai đoạn cụ thể trong tiến trình cử  hành các nghi thức để làm cho các  nhóm khác nhau nhận ra được rõ  ràng hơn ý nghĩa của phụng vụ; củng  cố ý thức về sự việc làm  phần tử của Giáo hội, đặc biệt  là trong các gia đình, vì đó là  môi trường đầu tiên của việc  truyền thụ những giá trị của Nước  Thiên Chúa; tăng cường việc giáo  dân tích cực tham gia vào đời  sống và sứ vụ của Giáo hội,  đúng theo những quyền lợi họ  đã nhận được từ các bí  tích Rửa Tội và Thêm Sức; phát  huy tinh thần tương trợ và hợp  tác giữa nam giới và nữ giới  trong mọi lãnh vực cuộc sống, tức  là trong gia đình, giữa xã hội cũng  như trong Giáo hội. Cần phải tìm hiểu  cho kỹ lưỡng hơn về vị trí và  vai trò của nữ giới ở trong Giáo  hội, bởi vì tất cả chúng ta, nam  cũng như nữ, đều là phần tử  trong cùng một cộng đoàn-môn đồ.

53. Ngoài ra, còn có những yêu cầu  mục vụ khác cũng cần phải được  đáp ứng theo đường hướng  hoán cải nói trên, như các công  tác sau đây: chỉnh đốn những lề  lối thực hành có tính cách bất  công hay kỳ thị --cách riêng đối  với phụ nữ-- trong các cơ cấu  tổ chức của Giáo hội; nhìn nhận  giới trẻ như là những người  cộng sự bình đẳng trong sứ vụ,  và có quyền được tôn trọng;  đưa vào thực tế một chương  trình nghiêm túc cho việc huấn luyện  giáo dân và giáo sĩ về mặt thần  học, một chương trình khả dĩ giúp  cho họ theo dõi kịp những bước  phát triển cập nhật trong thần học,  ngõ hầu họ có thể ứng đáp  thích đáng và hữu hiệu hơn, trước  những thách đố gặp thấy trong cuộc  sống thường nhật.

54. Làm môn đồ trong công tác cổ  xúy và thăng tiến đời sống cũng  còn có nghĩa là dấn thân hoạt động  nhằm biến đổi xã hội. Ngày nay,  công tác này phải được thể  hiện qua việc dấn thân sống tình liên  đới với hết thảy những ai  bị tước đoạt hết quyền sống  về mặt kinh tế, và bằng cách ra sức  vật lộn và đấu tranh cho công lý  và hoà bình, cũng như bằng cách thiết  lập những phương án thích ứng  nhằm nâng cao mức sống kinh tế. Ðiều  này cũng có nghĩa là biết kính trọng  đón nhận như là sở hữu của  chính Giáo hội, nền văn hóa của  dân tộc mà Giáo hội cùng tiến bước  trên đường khám phá cho ra những  giá trị tiềm ẩn có khả năng mang  lại sức sống.

55. Trong mục đích ấy, Giáo hội đã  khởi xướng và khai triển một  tiến trình hội nhập văn hóa, và  nhờ vậy mà Giáo hội càng cảm  thấy tự tín hơn để biên soạn  các thư mục vụ và các văn kiện  hội đồng miền, cũng như để chia  sẻ các tài liệu đó với các  Giáo hội địa phương khác.

56. Vì là cộng đoàn-môn đồ, nên  Giáo hội có bổn phận phải cùng  hợp tác hoạt động với các  Giáo hội và cộng đoàn kitô khác,  cũng như với những người thành  tâm thiện chí và với những người  thuộc các tôn giáo khác: hợp tác  bằng cách cùng dấn thân, cách riêng  là qua giới giáo dân, vào trong các  hoạt động trần thế nhằm thăng tiến  đời sống con người. Ðể có  được uy tín trong lãnh vực kinh  tế, thì không những đơn thuần  phát huy tri thức kinh tế qua việc nghiên  cứu phê bình các mô hình kinh tế  và những chính sách của các giới  cầm quyền, nhưng hơn nữa, Giáo hội  còn phải biết khuyến khích những  kế hoạch kinh tế khả thi khác, cũng  như phải biết sống một lối sống  bình dị. Cần phải làm sao để các  cấp lãnh đạo trong Giáo hội ra sức  liên hệ nhiều hơn với người  khác bằng những quan hệ đầy tình  người, chứ không phải là chỉ  có tính cách “thủ tục hành chánh.”  Cần phải cấp thiết hiệu chính lại  những cách kiểu khoa trương trang trọng,  những hình ảnh méo mó về quyền  bính và thái độ độc đoán  trong Giáo hội, bởi vì những cách  kiểu hành động như thế thì đều  trái nghịch với hình ảnh Giáo hội  của Con Người Nghèo và của Ðối  Thoại.

57. Vì bản chất là thông truyền (Phúc  Âm), nên Giáo hội phải xây đắp  những mối quan hệ tốt với giới  chuyên môn về truyền thông, và phải  ý thức hơn về sức năng ảnh  hưởng rộng lớn của truyền thông  đại chúng, phải thấu hiểu về những  kỹ thuật tiến hành của các phương  tiện ấy, và phải đi đến chỗ  nắm vững khả năng chuyên môn thực  sự trong việc sáng suốt sử dụng  chúng.

58. Kiên trì trong cố gắng tìm cách đáp  ứng đúng mức đòi hỏi bức  thiết của Phúc Âm, Giáo hội cũng  cần phải nhận rõ rằng những cơ  cấu tổ chức loài người của  mình đều được thiết lập “từ  bên dưới” theo tinh thần thích ứng  đối với những yêu cầu chính  đáng của thời đại và trong mối  hòa nhịp với nền văn hóa của  dân chúng. Qua những cung cách khác nhau  này và trong tình liên đới bền  chặt với tất cả, Giáo hội thực  sự có khả năng để trung thực  phản ánh dung mạo của Ðức Giêsu  tại Châu Á cho toàn Châu Á.

 KẾT LUẬN

59. Chúng ta đang chứng kiến hiện tượng  khai sinh một thế giới mới tại Châu  Á. Ðại lục rộng lớn bao la và  đông đúc dân cư này --một  lục địa quả là phong phú vô ngần  không những với nhiều nền văn  hóa đa dạng và với nhiều tôn  giáo khác nhau, mà còn cả với những  tiềm năng vô ngần nữa, nhưng lại  phải dồn dập gánh chịu những đợt  tàn phá khốc liệt ngoài sức tưởng  tượng, gây hại lớn cho cả dân  chúng lẫn môi sinh-- đang rên xiết  giữa những đớn đau của hồi  sinh nở. Từ cảnh phân hóa chia rẽ,  tranh chấp, xung đột hung bạo và ngang nhiên  tàn phá môi sinh, từ cảnh nhan nhãn  xảy ra những bất công không kể xiết,  và từ tình trạng xói mòn văn  hóa, tắt một lời, từ tất cả  những gì làm cho Châu Á phải gánh  chịu cảnh đau xót tan nát tâm can, đang  vọng rõ lên một tiếng rên la não  nuột thống khổ. Ðó là nỗi thống  khổ của người nghèo. Hàng triệu  triệu người dân nghèo Châu Á  đang rên xiết mong sao hưởng được  một cảnh tái sinh tái tạo, mà chỉ  có Thần Khí của Ðức Giêsu mới  đem lại được.

60. Thúc đẩy bởi lòng yêu mếu,  yêu mến dân chúng Châu Á và yêu  mến Ðức Giêsu, chúng ta không có  một chọn lựa nào khác ngoài việc  phải để tâm lắng nghe tiếng rên  la ấy. Sự sống mới đang thai nghén.  Và không thể cứ phó mặc hình  thức cũng như phẩm chất của cuộc  tái tạo ấy cho những mưu đồ đen  tối của các thế lực chính trị  và kinh tế để rồi họ muốn thao túng  lèo lái làm sao thì cũng được.  Hệt như vị ngôn sứ ngày xưa, ngày  nay Giáo hội có bổn phận thưa lên  lời đáp trả: Lạy Chúa, xin hãy  sai con, vì con là tôi tớ của Ngài.

61. Ðảm nhận sứ mạng này, chúng  ta không gánh vác lấy một mình, nhưng  là cùng với các dân tộc của  chính Châu Á, với những tín ngưỡng  và những nền văn hóa khác nhau,  với những giá trị muôn thuở  của họ, là những giá trị đã  được Thần Khí và Lời của  Thiên Chúa thì thào và thốt lên  ngay từ phút giây đầu của thời  gian. Xét cho cùng rồi, chính Thiên Chúa  của mọi dân tộc là Ðấng kêu  gọi cộng đoàn-môn đồ, và cũng  chính Ngài hiện thân trong Ðức Giêsu,  là Ðấng đang đồng hành với  chúng ta. Ðược Thần Khí hướng  dẫn, chúng ta cùng lên đường  thi hành sứ vụ.

62. Lạy Thiên Chúa là Ðấng yêu thương  và trao ban Sự Sống, ngay từ đầu,  Chúa đã kêu gọi chúng con là con  dân Châu Á, sinh ra làm người, đi  vào trong sự sống, và đã cho chúng  con có được một di sản phong phú  lạ thường với những nền văn  hóa, những phong tục tập quán và  những tín ngưỡng muôn hình thái.  Là những anh chị em của nhau trong cùng  một đại gia đình Châu Á của Chúa,  chúng con xin cảm tạ và chúc tụng Chúa  vì hết mọi ân huệ Chúa đã ban  cho chúng con.

63. Sống giữa chúng con tại Châu Á,  có vô số những người nghèo  nhất trong những người nghèo: họ  là hàng triệu những người đang  mò mẫm đi tìm cho được không  những một đời sống sáng sủa  hơn, mà còn cả Sự Sống sung mãn  nữa: Sự Sống mà chỉ một mình  Chúa mới ban cho được. Chúng con  đã nghe biết tiếng Chúa kêu mời  chúng con phục vụ họ theo cung cách của  Ðức Giêsu, Con Một của Chúa, là  Ðấng đã phục vụ tha nhân bằng  một tình yêu trọn vẹn, với một  lòng vị tha tột độ, qua hành động  tự trao hiến chính toàn thân mình.

64. Xin hãy gửi Thần Khí của Chúa  đến với chúng con, để chúng con  có đủ sức năng và biết lấy  tình yêu quảng đại mà cùng với  các cộng đoàn khác, can đảm xoa dịu  nỗi thống khổ anh chị em cơ cực của  chúng con đang chịu, và cùng tiến bước  với họ để đi tới Sự Sống  bất diệt.

65. Ước chi Ðức Maria, Mẹ của  Chúng con, tiếng nói và là Mẹ của  người nghèo, là Người đã  loan báo tin mừng giải phóng cho những  người bé mọn, sẽ là bạn đường  của chúng con, dẫn dắt chúng con đến  với Con Mẹ là Ðường, là Sự  Thật và là Sự Sống trong Nước  của Chúa muôn đời bất tận. Amen.

 

Phanxicô X. NTH [3] & NTM trình dịch



[1] Tựa đề bằng tiếng Anh: BEING  CHURCH IN ASIA: JOURNEYING WITH THE SPIRIT INTO THE FULLER LIFE.  Final Statement of the First FABC International Theological  Colloquium, April 10-16, 1994, Pattaya, Thailand.

[2] Hội nghị  này đã bàn về chủ đề “Being  Church in Asia in the 21st Century,” và nhằm vào  hai mục tiêu chung: a) lượng giá các  tài liệu đã được Ủy Ban Cố  Vấn Thần Học của FABC đưa ra từ  trước cho đến nay; b) đóng góp  suy tư cho kỳ Ðại Hội 1995 (tháng giêng)  của FABC tại Manila, Philippines. Ðến tham dự  Ðại Hội, đã có 56 thành viên,  gồm giáo dân, tu sĩ, linh mục và giám  mục và thần học gia đến từ Châu  Âu và Châu Á. Nếu FABC đã nghiên  cứu chủ đề “Being Church in Asia” qua nhiều cuộc hội thảo chuyên đề  khác nhau của các ủy ban như: BIMA (Ủy  Ban đặc trách về Truyền giáo), BIRA (Ủy  Ban đặc trách về công tác đối  thoại liên tôn), BISA (Ủy ban đặc trách  về các vấn đề xã hội), và BILA  (Ủy Ban đặc trách về giáo dân),  cũng như trong các kỳ họp khoáng đại  của Liên Hiệp, thì đây là lần  đầu tiên (trong quá trình của FABC) một  Hội nghị chủ yếu nhắm vào thần học,  đã được tổ chức.>

[3] Ðể ghi nhớ Mùa Phục  Sinh 1995.