THẦN HỌC HIỆN ÐẠI VỚI BÍ TÍCH

Ðiểm Duyệt Các Tác Phẩm Viết Về Thần Học Bí Tích Trong Những Thập Kỷ Gần Ðây

David N. Power, O.M.I., Regis A. Duffy, O.F.M. và Kevin W. Irwin [1]

DẪN NHẬP

Mục đích của thiên điểm duyệt này là  trình bày một cái nhìn khái quát về các công trình nghiên  cứu thần học bí tích (về phía Công giáo), thực hiện trong  những năm 1980-1993, chủ yếu là về những đóng  góp của các thần học gia Châu Âu và Châu Mỹ,  còn về tác phẩm của các thần học gia Châu Phi và  Châu Á, thì chỉ xin ghi lại một vài trưng dẫn mà  thôi. [2] Sở  dĩ phải đặt giới hạn như thế, là vì các tác phẩm  viết về bí tích cách chung hoặc về từng bí tích, thì nhiều  vô kể, không thể liệt kê ra và bàn đến hết được.  Cũng chính vì lý do đó mà ở đây chúng tôi xin  chỉ tập trung chú ý vào bí tích nói chung, tức là vào  giáo thuyết tổng quát về bí tích.

Bộ môn phức tạp

Chỉ cần đọc qua thư mục các tác phẩm xuất bản trong các  năm 1960-1988, do Maksimilijan Zitnik sưu tập và phát hành  mới đây, [3] thì  cũng đủ để nhận ra ngay là ngày nay bộ môn  thần học bí tích đã trở thành phức tạp đến độ  nào. Bộ thư mục vừa kể cũng cho thấy rằng muốn  đào sâu thần học bí tích, thì các tác giả buộc phải  nới rộng tầm nghiên cứu sang nhiều lãnh vực khác. Dưới  tiêu đề "Các Bí Tích nói chung" của bộ thư mục  thì, ngoài những vấn đề thường được bàn đến,  như: chất thể (materia) và mô thức (forma), việc thiết lập và hình thành, cũng như nguyên nhân,  còn có những đề mục liên hệ khác nữa, như: lễ  điển và lễ nghi, lễ mừng, biểu tượng, khoa  ảnh thánh, chiều kích nhân loại học, và xã hội  học. Trong phần mục lục liệt kê những tác phẩm viết  về các vấn đề tổng quát, thì có những đề mục về phụ  nữ, về học thuyết nữ quyền, về gia đình, và về  tôn giáo bình dân, cũng như về phụng vụ và mỗi  một trong bảy bí tích của truyền thống công giáo.

Cứ xem thư mục, thì sẽ thấy rằng khó mà phân biệt  cho rõ được giữa phụng vụ và bí tích. Xin chỉ đơn  cử một thí dụ: không thể nghiên cứu về các bí tích khai  tâm mà không nói tới năm phụng vụ và các nghi thức  đánh dấu từng giai đoạn trong thời gian dự tòng.  Vì thế, khi xếp các bí tích thành bảy tiểu mục riêng  vào một đề mục chung "Phụng vụ," các cuốn giáo  khoa như L'Eglise en Prière, [4] Gottesdienst  der Kirche [5] Anamnesis, [6] La celebración  en la Iglesia, [7] đã đặt các bí tích đúng vào trong  bối cảnh thích đáng của chúng: thích đáng không những  vì các lý do lịch sử, mà còn vì cả lý do suy  tư thần học nữa. Ngoài ra, song song với các lý do  lịch sử, phụng vụ và thần học ra, còn có điểm  lợi này nữa, đó là cách xếp đặt phân chia như  thế sẽ dễ dàng đưa dẫn đến việc tìm hiểu về  các bí tích theo tư cách là những lễ nghi hay nghi  thức, trong đó, có cả một thực trạng tác động hỗ  tương rất lớn giữa những cung cách diễn đạt qua  cử chỉ thể xác, hình ảnh biểu thị và ngôn từ,  là những nhân tố có liên hệ chặt chẽ với kinh  nghiệm và truyền thống văn hóa.

Dựa theo các đường nét nói trên, Viện Phụng vụ Mục vụ  tại Padova, Bắc Ý, đã thực hiện một cuộc nghiên cứu  lý thú, và đã cho xuất bản ba bộ tiểu luận giới  thiệu một kỹ thuật nghiên cứu phụng vụ và bí tích  theo phương pháp liên ngành và qua lề lối thực hành  cụ thể (praxis). Bộ thứ nhất tìm hiểu kinh nghiệm về  Thiên Chúa trong việc phụng thờ và trong phụng vụ  xét theo tư thế là một hành động truyền thông, [8] cũng như tìm hiểu về cách thức Lời  công bố đã được trình giải qua hành động phụng  vụ, [9] và về những chủ đề đặc biệt như: Thánh Thể và  công tác đại kết, thần học bí tích thêm sức và vai trò  của thừa tác viên chức thánh trong phụng vụ. [10]

Bộ thứ hai gồm hai cuốn do Pelagio Visentin thực hiện, mang  tựa đề Culmen et Fons, là bộ bao hàm nhất và  có thể coi như là một bộ bách khoa từ điển về phụng  vụ. Cuốn đầu miêu tả chi tiết về cách thức mầu nhiệm  phục sinh của Ðức Kitô đã được mừng kính trong  Giáo hội qua các bí tích, qua năm phụng vụ và các giờ  kinh. Về mặt phương pháp, công trình miêu tả ấy đã  lấy chính phụng vụ làm cơ sở thần học cho việc khảo  cứu của mình. [11] Và điều đó đã làm kim chỉ nam cho cuốn thứ hai  của bộ sách, là cuốn bàn về quá trình cùng  những bước tiến bộ trong việc canh tân phụng vụ (đặc  biệt là tại Ý Ðại Lợi), cũng như cho thấy cách  thức phụng vụ làm cho sức năng động nội tại của  đời sống kitô bừng sôi dậy. [12] Một phụ bản  của bộ magnum opus này trình bày về phương  pháp dựa trên lề lối thực hành cụ thể (praxis)  của Viện Santa Giustina. Cuốn phụ bản này giới  thiệu các thiên khảo luận của các học giả Ý  nổi tiếng trong lãnh vực phụng vụ, như Salvatore Marsili,  Luigi Sartori, Franco Brovelli và Domenica Sartore. [13] Các tác giả  này nghiên cứu về mối quan hệ giữa phụng vụ và  cách diễn đạt trong thần học ngày nay, thần học mục  vụ, [14] về phương thức liên ngành dùng vào  việc nghiên cứu lề lối cử hành phụng vụ, cũng  như về mối tương quan giữa phụng vụ và khoa huấn giáo.  Còn các đề mục trong bộ tiểu luận thứ hai này thì  dồn chú tâm đến việc triệt để áp dụng vào thực tế  cuộc canh tân phụng vụ và học thuyết thần học về thừa  tác vụ chức thánh. [15

Trong hai đề mục của bộ khảo luận thứ ba do Viện Santa  Giustina xuất bản, hữu ích nhất là đề mục đầu  của tác giả Giorgio Bonaccorso; đó là một thiên  chuyên khảo tổng hợp về phương pháp nghiên cứu phụng  vụ. [16] Thời  hiện đại hậu công đồng (Vaticanô II) đã tạo nên hoàn  cảnh thuận lợi cho một nỗ lực nghiên cứu như thế  về nền tảng và những nhân tố thần học của  việc canh tân phụng vụ, về giá trị của các công trình  khảo cứu phụng vụ theo các phương diện lịch sử, thần  học và mục vụ như thường thấy tiến hành trong  thời nay, cũng như về cách thức khoa học luận và  ký hiệu học liên hệ với việc khảo cứu phụng vụ hiện  thời. Ðâu đâu, việc cử hành phụng vụ như hiện  thấy và thực trạng của công tác canh tân phụng vụ  cũng đều xác nhận cho thấy các suy tư thần học Bonaccorso  đã đưa ra, là thật sự có cơ sở. Dù rất khiêm  tốn trong kích cỡ trình bày và phạm vi nghiên cứu,  thiên chuyên khảo ấy cũng phải được coi như là cuốn cẩm nang vỡ lòng cho phương pháp và  công tác mà Viện Phụng Vụ tại Padova đã thực hiện,  và là một công cụ quý giá cho những ai đang tìm  kiếm phương thức để nghiên cứu về các bí tích xét theo quan  điểm phụng vụ, thần học và hiện tượng học.

Dù không mang hình thức của một sách thần học bí tích  chuyên khảo, thì cuốn sách mang tựa đề Context and Text của Kevin Irwin [17] cũng đã đề xuất một phương thức nghiên cứu có hệ  thống để tìm hiểu về các văn bản phụng vụ và bí  tích, một phương thức quả là có tầm trọng yếu lớn  đối với thần học bí tích. Chỉ viết về bí tích và về hiệu  quả của các bí tích không thôi thì chưa đủ. Còn  cần phải phân tích và tìm hiểu sâu hơn về các bí tích  cũng như về hiệu lực của các bí tích từ trong chính  cung cách biểu đạt và cấu trúc của chúng. Tập khảo  luận của Irwin gồm ba phần với ba đề mục như sau: Về phụng  vụ và thần học; Bối cảnh là văn bản: thần  học về phụng vụ; và Văn bản nắn đúc nên bối cảnh:  thần học phụng vụ. Phần thứ hai là phần có liên quan  nhiều nhất với thần học bí tích, vì trong phần này tác  giả "đề xuất một phương pháp nhắm tới việc gây dựng  một nền thần học về chính hành động tiến hành của  phụng vụ trong quan hệ với Lời (Chúa), với biểu tượng,  với kinh nguyện và với các ngành nghệ thuật phụng  vụ." [18] Qua việc khảo sát các nhân tố ấy  trong thực tế và với những thí dụ tiêu biểu, Irwin  đã minh giải cho thấy tại sao chính hành động phụng  vụ sẽ làm cho thấu hiểu bí tích và việc tham dự  vào trong bí tích. Như chính tác giả đã bàn,  những công trình nghiên cứu về trí óc tưởng tượng  và về cung cách cử hành phụng vụ trong thực tế  sẽ giúp cho thấu hiểu thêm hơn về bí tích từ trong  chính hành động cử hành.

Những Phương Pháp Nghiên Cứu

Nếu việc tìm hiểu về bí tích đã trở thành phức  tạp với nhiều nhân tố chằng chéo với nhau như thế, tất không  ai là không thấy rõ ảnh hưởng của các  công trình nghiên cứu về ngôn ngữ, [19] về nghi  thức, [20] và về học thuyết chú giải.  Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này bện dệt vào  trong thần học bí tích qua nhiều lối ngõ và bằng nhiều  cách thức khác nhau, bởi vì có nhiều phương pháp nghiên  cứu khác nhau đã được dùng đến.

Những thiên tổng duyệt

Trong lãnh vực nghiên cứu thần học bí tích, có một số  tác phẩm điểm duyệt, hữu ích để giúp độc giả tìm  hiểu về những suy tư, những mối quan tâm và những  vấn đề được đặc biệt chú ý đến, tức là tất cả  những gì liên quan đến lãnh vực ấy và đã trở  thành đề tài thường được bàn tới trong một  khoảng thời gian nào đó. Trong chiều hướng ấy,  Carlo Rocchetta [21] đã mở đầu tác phẩm của  ông với một phần giới thiệu về nền tảng nhân loại học  của bí tích, trong đó tác giả đã trưng dẫn nhiều  tác phẩm viết về các chủ đề biểu tượng và nghi thức,  cũng như đã bắc cầu nối kết các khái niệm kia với  quan hệ mà loài người có đối với vũ trụ và  lịch sử.

Trong phần mang tựa đề "Hồi niệm về Ðức tin của Giáo  hội ("Anamnesis of the Faith of the Church"),  tác giả trở về với cội nguồn kinh thánh và giáo  phụ của thần học bí tích, và đặc biệt chú tâm đến  khái niệm mầu nhiệm.  Ảnh hưởng của Odo Casel  đã hiện rõ lên trong phần nghiên cứu này. [22] Sau đó, Rocchetta  đã giới thiệu một cách khái quát về lịch sử thần  học bí tích, qua bốn đề mục: giai đoạn các giáo phụ, giai  đoạn của thời thần học kinh viện, phần trình bày  về sách giáo khoa thần học, và cuối cùng là phần  khảo sát về các vấn đề và xu hướng hiện đại. Trong  chương cuối cuốn sách, tác giả đã thử đề xuất  một thể dạng thần học hệ thống lấy các khái niệm mầu nhiệm  và việc cử hành làm cốt lõi.

Kết luận cuộc khảo sát thực hiện năm 1990, về mối quan  hệ giữa việc tìm hiểu biểu tượng và thần học bí tích,  Arno Schilson lưu ý rằng thần học bí tích đã nhận ra rằng  để cho suy tư của mình đâm rễ vào trong việc cử  hành đang diễn tiến trong thực tế thì quan trọng hơn  là cứ dựa vào những khái niệm trừu tượng.  Tác giả cũng nhắc lại ảnh hưởng của Odo Casel và Romano Guardini đối với đường hướng ấy, và  tầm trọng yếu của mầu nhiệm đối với một thể dạng  thần học về việc cử hành. Tác giả còn nhận  định thêm là cần phải có một môn lịch sử về thần  học bí tích bao gồm những công trình khảo cứu chính  xác xét theo phương diện lịch sử, về các ngành như  thần học kinh viện và các công đồng trong Giáo hội, bởi  vì đó là con đường duy nhất để có thể giữ được  liên hệ với truyền thống. Tác giả còn nêu rõ  là cần phải nghiên cứu nhiều hơn nữa để đạt cho  được mức thấu hiểu tường tận về biểu tượng và nền  móng nhân loại học của nó, về bản chất của việc  truyền thông bằng biểu tượng, và về những phương pháp  giải thích các biểu tượng. Qua tất cả những nhân  tố đó, tác giả đã nhận ra rõ tầm trọng yếu của  việc bắc cầu liên kết biểu tượng và nghi thức với thực  tế cuộc sống xã hội; đó là điều mà tác giả  nghĩ là đã thu gặt được từ nền thần học Châu  Mỹ Latinh và từ quan điểm phê bình thực tế của  một số học giả người Ðức.

Như các tác phẩm tổng luận trên đây cho thấy, các công trình  nghiên cứu về nghi thức và lễ nghi, ngôn ngữ,  lễ mừng, biểu tượng cũng như về các nhân tố tương  tự khác đều là những điểm gặp gỡ chung trong hầu  hết toàn bộ lãnh vực của thần học bí tích ngày  nay. Trong khi đó, cách hiểu về chỗ đứng của bí tích  ở trong Giáo hội và trong phương án của ân sủng  thì lại hướng theo nhiều ngả khác nhau. Nếu có những  khác biệt như thế, thì phần lớn là vì có nhiều cách thức  nghiên cứu hay phương pháp thần học khác nhau đã được  dùng đến nhằm đưa nghi thức và các hình thức biểu  tượng sáp nhập vào trong thần học.

Những ảnh hưởng chính

Bởi lẽ xét về mặt đối tượng, việc tìm hiểu sẽ  trở thành quá rộng lớn và phức tạp để có thể  giúp cho có được một ý niệm tổng quát về những gì đang  xảy ra trong lãnh vực thần học bí tích, thế nên, việc  làm xem ra hữu ích nhất là thử tìm hiểu và  giải trình những phương pháp chính được dùng tới  để thực hiện các công trình nghiên cứu trong lãnh vực  này. Tuy nhiên, trước khi bàn riêng về các phương pháp  nghiên cứu khác nhau hiện đang thịnh hành, thì cần phải  nêu rõ những ảnh hưởng vẫn còn tồn  tại của các công trình khảo cứu trong những thời  trước thập kỷ chúng ta đang tìm hiểu đây.

Khuynh hướng trở về với mầu nhiệm là hậu cảnh  chung. Có thể nhận ra điều đó ở trong sự việc phục hồi  bản chất của phung vụ, coi đó là mầu nhiệm, theo  lối của O. Casel, hay theo cách thức Henri de Lubac đối chiếu  nhằm nêu bật những khác biệt giữa phương pháp biểu  tượng các giáo phụ thường dùng đến, và khuynh  hướng chú tâm đến việc giải thích một cách thuần lý,  đúng như triết học đòi hỏi và như thường thấy  trong thần học kinh viện. [23] Trong cả hai trường hợp, phụng vụ đều được coi như  là một hành động của Giáo hội, qua đó Giáo hội  thông dự vào trong mầu nhiệm của Ðức Kitô; còn  bản chất của Giáo hội thì được quan niệm như là  một mối thông hiệp có bí tích làm phương thức điễn  đạt theo cung cách biểu tượng.

Ngoài ảnh hưởng của quan niệm coi phụng vụ  và bí tích như là việc cử hành mầu nhiệm, còn  có hai trào lưu ảnh hưởng khác cần phải được  xếp vào số những nhân tố làm nên hậu cảnh  cho đà phát triển của thần học bí tích kể từ năm  1980. Trào lưu ảnh hưởng đầu phát nguyên từ  hệ thống thần học của Karl Rahner với khái niệm Realsymbol (biểu tượng hiện thực) và với khởi điểm nhân loại  học. [24] Ðược coi như là  có tính cách bao gồm thích ứng cho toàn bộ thần học, khái  niệm và phương pháp ấy tất đã ảnh hưởng sâu  đậm đến cung cách hiểu về bí tích. Rahner đặt cơ sở cho  khái niệm biểu tượng theo hệ thống thần học của mình  trên khả năng hiện thực hóa những gì là chủ  yếu nơi một hữu thể. Nếu không có những hành  động biểu tượng và tính cách biểu thị của chúng, thì  con người sẽ không thể thực tại hóa bản chất  con người của mình được. Cố sức vượt quá lên trên  những giới hạn của mình, là con người đã  dấn thân bước vào trong một cuộc hiện hữu mang dạng  thái của lối sinh hoạt biểu tượng. Rồi, việc gặp gỡ  giữa con người với Thiên Chúa cũng hàm dung  một điều kiện tiên quyết, đó là phải có những  sức năng biểu tượng về phía các tạo vật. Trung thành  hồi niệm về nhân tính của Ðức Kitô là biểu tượng  hoàn hảo tiêu biểu cho tình yêu và hành động  cứu độ của Thiên Chúa, Giáo hội hằng không ngừng  nói lên sự hiện diện của biểu tượng đó, đặc biệt là qua việc cử hành các bí tích. Là dấu chứng biểu  thị ân sủng, chính Giáo hội sẽ làm cho thấu hiểu  dấu chỉ của bí tích như là nguyên nhân của ân sủng,  bởi vì ân sủng được ban xuống khi được biểu thị qua  dấu chỉ.

Trào lưu ảnh hưởng thứ hai bắt nguồn từ Hans  Urs von Balthasar và hệ thống thần học thẩm mỹ của  ông, với những ý kiến bổ sung của Henri de Lubac và  Louis Bouyer. [25]   không được áp dụng đều đặn hoặc một cách bao gồm vào  trong thần học bí tích cho bằng phương pháp của Karl Rahner,  thì không ai chối cãi được là phương pháp của von  Balthasar cũng đã được dùng đến trong lãnh vực  nghiên cứu về các bí tích. Tác phẩm trong đó Von Balthasar  đã viết dài rộng nhất về bí tích và đã bàn  đến các khía cạnh của bí tích nhiều nhất, là cuốn  đầu của bộ Herrlichkeit. [26] Cũng còn  có một số trang trong cuốn Theodramatik, [27] viết về bí tích, để khỏi kể đến những  bài viết rải rác trong các tác phẩm khác của  ông. [28]

Ðặc biệt có hai khía cạnh trong cách tác giả hiểu về  bí tích là đang tiếp tục tác động mạnh đến công cuộc  nghiên cứu hiện nay. Thứ nhất, dựa theo đường hướng cứu  độ học đặt trọng tâm vào nơi thập giá của Ðức Kitô,  coi đó là dấu biểu thị tình yêu của Thiên Chúa tiềm  ẩn trong chính hành động giấu khuất Thiên tính, và  vào nơi sự kiện Ðức Kitô tự hủy (kenosis) với  việc xuống ngục, Balthasar đã hiểu bí tích như là hành  động Giáo hội thông hiệp với Ðức Kitô vào trong mầu  nhiệm ấy. Thứ hai, trong cách thức giải thích về mầu nhiệm  của Giáo hội, tác giả đã tận dụng hình ảnh  tân nương/tân lang của việc cứu độ nhờ Ðức Kitô.  Và như thế, tác giả đã phát hiện ra dạng thái  của Giáo hội ở trong phần đóng góp bổ sung mà  linh đạo của Ðức Maria mang lại cho tác vụ mục vụ, là  tác vụ được đặc biệt nói lên ở trong tác vụ của  Phêrô. Mọi kitô hữu đều được mời gọi để khuôn rập  cuộc sống của mình theo mẫu gương sống của Ðức  Maria trong quan hệ Người có đối với Ðức Kitô, và  qua Ngài đối với Thiên Chúa Cha và Thánh Linh. Ðằng  khác, sự việc Ðức Kitô tân lang hằng không ngừng hiện  diện trong Giáo hội, còn được biểu thị qua các thừa  tác viên chức thánh là những người thay mặt  Ðức Kitô (in persona Christi) mà hành động trong khi  giáo huấn, ban bí tích và thi hành công tác mục vụ.

Khởi điểm của chủ hướng này nằm ở một  thái cực đối ngược hẳn với khởi điểm nhân loại học.  Vai trò của thẩm mỹ ở trong mạc khải, và  sự việc (Ngôi) Lời khai mở cho biết về đời sống  nội tại cùng tình yêu trong Thiên Chúa Ba Ngôi là  những nhân tố cơ bản đối với nỗ lực tìm hiểu  về bí tích. Dạng thức hoặc Gestalt của mạc khải được  xác định bởi biến cố (Ngôi) Lời xuất phát từ  Thiên Chúa Ba Ngôi đến trong lịch sử để làm hiện thân  của agape hay tình yêu ôm trọn toàn bộ nhân  lại và thế giới. Cần phải dựa theo toàn cảnh  ấy của tổng thể mạc khải để mà tìm hiểu về bất  cứ phân bộ nào trong mạc khải. [29] Các bí tích đều  được đặt ngay ở trước hậu cảnh của thực tại (Ngôi)  Lời Nhập Thể, trong mầu nhiệm về sự việc Ngài Nhập  Thể, tự hủy mình ra không và sống lại vinh hiển. Trong  lược đồ ấy, Thánh Thể cũng như các phạm trù biểu  đạt sự hiện diện, hy lễ, hành động tự phó mình và  giáo hội tính --phạm trù dùng để cắt nghĩa về Thánh  Thể-- đều nổi bật hẳn lên ngay ở tâm điểm. Thánh  Thể phải được đặt ngay vào giữa mầu nhiệm thập  giá. Bữa Tiệc Ly là chính lúc, trong viễn ảnh  và trước kỳ hạn xuống ngục, Ðức Giêsu hoàn thành  thân phận tự hủy chính mình bằng cách tự hiến qua hình  thức biểu tượng (bí tích) của việc biến rượu và bánh  thành chính mình để nhai nghiền và để đổ ra. Ðiều đó  đã được thường xuyên đặt vào trong tầm tay của  Giáo hội, là nơi Ðức Kitô hằng hiện diện qua tình yêu  và hành động tự hiến thân mình, và Giáo hội đã  được thâu nhận vào trong hy lễ của Ngài, hy  lễ được đánh dấu bằng sự việc đón nhận bánh và  rượu. Bổ sung cho cách thức giải thích như thế về Thánh  Thể, von Balthasar còn coi bí tích cáo giải như là  mô mẫu để dựa theo đó mà tìm hiểu về tất cả  các bí tích, bởi vì đó là một trường hợp tiêu  biểu của việc tội nhân gặp gỡ với Thiên Chúa tha  thứ, trong Ðức Kitô. [30]

Những phương pháp đang thịnh hành

Trong hậu cảnh dệt nên từ các trào lưu ảnh  hưởng vừa kể --được coi là hầu như cổ điển--  có thể phân biệt được qua các tác phẩm xuất bản gần  đây, năm phương cách nghiên cứu khác nhau với ít nhiều đặc  nét biến dạng trong mỗi loại: (1) đà hướng trở  về với chủ thể, như thấy được trong cung cách nghiên cứu  của các thần học gia dẫn đầu trong thế giới công  giáo; đà hướng này dùng đến các phương pháp liên  ngành; (2) các thể loại thần học giải phóng với thái  độ lưu tâm đối với lề lối hành động thực tế; (3) các  dạng thể thần học chủ trương thu nhập phương thức phê  bình hậu tân đại của thuyền thống siêu hình học Tây Phương  và ảnh hưởng của phương thức này đối với  thần học, với rất nhiều lập trường khác nhau; (4) lối  phê bình theo thuyết nữ quyền và việc cải tiến  cung cách cử hành bí tích; (5) các thể loại thần học  xuất xứ từ Châu Phi và Châu Á với cố gắng bắc  cầu liên hệ giữa các bí tích với văn hóa cũng như  với công cuộc giải phóng.

*  *  *

1. CUNG CÁCH TRÌNH BÀY THỜI HẬU-RAHNER

Có một điều có lợi cho công tác trình bày về phương thức  nghiên cứu thần học bí tích, đó là việc phân biệt giữa  các công trình khảo luận rõ ràng là có tính  cách hệ thống, và các công trình dùng nhiều hơn đến  các phương pháp liên ngành.

Các thể loại thần học hệ thống

Ðể có thể cân lường được ảnh hưởng tràn lan  của cách thức Rahner dùng để trình bày Realsymbol và vai trò nguyên nhân của biểu tượng, thì chỉ  cần nhìn lại nền móng tam vị đặt cho bí tích trong các tác  phẩm của Theodor Schneider, Lothar Lies và Edward Kilmartin.  Theo kiểu Rahner, Schneider bắt đầu với nhân vị mang xác thể  ở trong lịch sử và đang đứng trước lời mời  gọi đón nhận ơn cứu độ do mạc khải đưa ra, và với  hệ luận rút ra từ sự việc ấy, tức là sự việc gặp  gỡ với Thiên Chúa hằng sống khải hiện trong Ðức Kitô. [31] Chính khuôn khổ quan hệ ấy --khuôn  khổ mang tính chất kitô học hơn là tam vị-- đã làm  cơ sở cho công trình khảo cứu của Schneider về các  chiều kích giáo hội và khẩn nguyện Thánh Linh (epicletic),  cũng như về hình thức "thất dạng" của bí tích  như vẫn thấy trong lịch sử. Sở dĩ Schneider đã  tiến hành như thế, chính vì, khác với Lies và Kilmartin,  điều mà tác giả chủ yếu nhắm tới không phải  là bàn rộng về các bí tích nói chung và theo lý  thuyết, cho bằng làm một cuộc bàn thảo thần học  có tính cáh cụ thể về từng bí tích một. Dù sao thì Realsymbol cũng vẫn là học thuyết làm  hậu cảnh cho công trình khảo luận của Schneider  về cuộc gặp gỡ bí tích với Thiên Chúa trong Ðức Kitô.

Lies cũng bắt đầu công trình khảo cứu với trạng huống  hiện sinh của con người, coi đó như là một cuộc  gặp gỡ mang tính chất tất yếu của thái độ tiên nghiệm  và tự do ưng thuận mở lòng ra cho tình yêu. Trong  cuộc gặp gỡ ấy, Thiên Chúa Ba Ngôi chính là "ngôi  vị trong ngôi vị, còn con người thì như chúng ta đã  xác định, là ngôi vị trong xác thể." [32] Mầu nhiệm Nhập thể đã xác định rõ hơn về bản  chất của việc gặp gỡ qua bí tích, và giúp cho hiểu  sâu rộng hơn về thực tại thụ tạo. Lies trưng dẫn giáo  huấn của công đồng Flôrenxia khẳng định rằng Thiên Chúa  Ba Ngôi là Ðấng đã sáng tạo thực tại ấy, cả  tinh thần lẫn vật chất, nhằm nhấn mạnh đến chân lý này  là cũng chính cùng một thực tại ấy hiện đang mang  dấu ấn của nguồn gốc phát sinh, tức là của Thiên  Chúa Ba Ngôi. [33]

Rồi, Lies dựa theo trạng huống hiện sinh của con người  đang gặp gỡ với Thiên Chúa Ba Ngôi trong tự do và  tình yêu, mà khảo duyệt lại ý nghĩa các hành động  truy niệm (anamnesis), khẩn nguyện Thánh Linh (epiclesis) và thông hiệp (koinonia). Nếu trong tương quan với  những người khác, con người ý thức về mình, thì  khi gặp gỡ với Thiên Chúa, con người cũng ý thức  trong một cách thức tương tự như vậy. Tiếp đó, bước theo đường  hướng Augutinô, Lies giải thích lại về ý nghĩa của  sự sống con người, bắt đầu từ cội nguồn phát sinh  đầu tiên, tức là từ sự sống của Thiên Chúa Ba  Ngôi. Xét cho cùng, tất cả những biểu tượng trong  loài người, những biểu tượng vén mở cho thấy  ý nghĩa của sự sống, đều được nối liền gắn chặt với  sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Bản chất đặc thù  của Ba Ngôi trong một bản tính duy nhất --bản  chất hiểu theo nghĩa là tự do để yêu thương-- làm  cho giá trị của các mối quan hệ con người và các  biểu tượng nhân chủng học của chúng càng được  tăng thêm lên. Và như thế, nếu bị xếp tách rời ra  khỏi niềm tự do thông chia và đầy yêu thương của  Thiên Chúa Ba Ngôi, thì ơn tha thứ diễn đạt bằng biểu  tượng trong bí tích cáo giải và hòa giải, sẽ  không thể nào được nhận thức và đánh giá cho đầy  đủ cả. Cuối cùng, cộng đoàn tam vị còn  là tiêu chí và là thực thể đảm bảo để  có thể sống niềm hiệp nhất với những người khác  mà vẫn giữ được những gì là độc đáo của  mỗi cá nhân. Quả vậy, từ suy tư của Rahner,  Lies rút tỉa ra được nhiều hệ quả tiềm ẩn, nhiều ứng  dụng cụ thể mang đậm tính chất biểu tượng và tam vị, đến  độ đã có thể mang lại được một luồng sáng mới cho việc  tìm hiểu về các biểu tượng bí tích và về những liên  hệ nhân chủng học mà chúng hàm ngụ.

Có lẽ Kilmartin là tác giả đã nghiên cứu kỹ  lưỡng nhất về sự việc phụng vụ đâm rễ từ trong  hành động Thiên Chúa Ba Ngôi trao ban chính mình cho nhân  loại. Tác giả cho rằng nỗ lực để chứng minh cho thấy  rằng có thể trình bày thần học về phụng vụ theo thể  dạng của một nền thần học về Thiên Chúa Ba Ngôi hoạt  động trong thế giới, là một phận vụ có tầm trọng yếu  quyết định của thần học. [34] Trước tiên, Kilmartin nêu lên yêu cầu  cần phải đặt cơ sở cho biểu tượng ngay ở trong  Thiên Chúa Ba Ngôi: "(Ngôi) Lời là Àbiểu tượng  hiện thực' của Thiên Chúa Cha. Một biểu tượng hiện thực  có được, khi biểu tượng và thực thể được tượng trưng  chỉ là một." [35] Ðể xây dựng cho được  một nền thần học như thế, tất phải dựa vào một thể  dạng nhân loại học, Kitô học, Thần Khí học và Giáo hội  học thiết lập trên cơ sở Tam Vị; bởi vì nền móng của  nhận thức chúng ta có về Thiên Chúa Ba Ngôi, nằm ở trong  hoạt động của Thánh Linh, như đã được thấy rõ  qua biến cố Ðức Kitô.

Sau khi đã khảo duyệt một số các thể dạng hiện đại  trong thần học tam vị và Kitô học, Kilmartin nêu lên câu  hỏi: Nếu thực sự Thiên Chúa đã thiết lập những  mối quan hệ bản thân (personal) mới với các tạo  vật, qua đó các tạo vật có được khả năng để đích thân  giao tiếp với Thiên Chúa, thì lối ứng đáp của họ trước  sự việc Thiên Chúa tự đích thân thông truyền chính mình, sẽ  ảnh hưởng như thế nào đến Thiên Chúa? Thể dạng  Kitô học hướng thượng và việc quan niệm về Thiên Chúa  Ba Ngôi theo mô mẫu tự thông ban, có thể gợi ý rằng  "lời cầu của Ðức Giêsu là hành động mạc  khải ra trong lịch sử cuộc đối thoại tam vị (giữa  Ba Ngôi). Lời nguyện của Vị Linh Mục Thượng Phẩm cầu  cho chúng ta đã làm cho Thiên Chúa Cha trao ban Thánh  Linh trong và qua một hành động hoàn toàn và  thuần nhất thuộc thiên tính, để giúp cho có được lời  đáp trả của lòng tin." [36]

Còn lời cầu của Giáo hội thì biểu thị mối hiệp  nhất của cộng đoàn phụng vụ với Vị Linh Mục Thượng  Phẩm của mình. Khi Giáo hội kết hiệp làm một với  Ðức Kitô và dựa vào uy thế của Thánh Linh để  khẩn cầu Thiên Chúa Cha ban cho Thánh Linh thánh hóa, thì không  những cấu trúc đối thoại của phụng vụ mà cả  "chiều kích kitô học-tam vị của phụng vụ kitô trong  hết thảy mọi dang thức của nó" nữa cũng  đều được biểu đạt rõ ràng và thực sự. [37] . Ðiểm cuối cùng trong chủ hướng của Kilmartin  là quan niệm cho rằng chỉ có một phụng vụ duy nhất, đó  là phụng vụ của công trình trọn vẹn thành tựu  mà Thiên Chúa Ba Ngôi thực hiện trong thế giới, tức là  phụng vụ thiên quốc, và cuộc tiến hành của chính  phụng vụ ấy ở nơi trần thế qua việc phụng tự của  Dân Chúa đang đi trên đường lữ hành. [38]

Tóm lại, dù Lies và Kilmartin có theo những phương  thức khác nhau để khai triển những hệ quả tam vị rút  ra từ Realsymbol và từ nguyên nhân tính của  biểu tượng, thì khởi điểm cũng vẫn là nhận  thức sâu sắc và độc đáo của Rahner về sự kiện Thiên  Chúa Ba Ngôi chính là nền móng của mọi biểu tượng  và hữu hiệu tính của nó.

Quan tâm liên ngành trong mô mẫu chủ thể

Thực trạng cuộc sống con người, tức là nơi mà  phụng tự và bí tích tiến hành sinh hoạt của mình,  có thể đóng góp xây dựng hoặc gây trở ngại cho việc  tham dự có ý thức và lợi ích như công đồng Vaticanô II  đã từng lên tiếng kêu gọi. Các ngành khoa học  nhân văn cũng cùng chia sẻ với thần học một số  những mối quan tâm chung về thực trạng ấy. Và như  thế, thần học bí tích và phụng vụ đã nhận ra được  nhu cầu cần phải có một hình thức đối thoại liên ngành  nào đó. Trước khi bàn đến công tác nghiên cứu của  các thần học gia đã từng ra sức để đưa việc đối thoại  ấy vào trong nỗ lực suy khảo của mình, chúng  tôi xét thấy cần phải tìm hiểu về những phương án  trong đó nhân tố liên ngành đóng giữ một vai trò  trọng yếu.

Một thí dụ đặc biệt có ý nghĩa về nỗ lực đối thoại  liên ngành như thế là bộ sách bảy cuốn do Bernard  Lee phụ trách xuất bản bên Bắc Mỹ, mang tựa đề Alternative  Futures for Worship. [39] Cuốn dẫn  nhập của bộ sách bàn đến các khái niệm cổ điển  trong thần học bí tích, xét theo phương điện tâm lý, xã  hội học và hệ thống. Các cuốn khác thì dựa theo phương  thức liên ngành mà bàn về từng bí tích trong  bảy bí tích, với công hợp tác của một nhóm chuyên  viên thuộc nhiều lãnh vực khác nhau nhưng đã cùng  làm việc với nhau.

Làm động lực nòng cốt cho công trình nỗ lực ấy,  đã có một số những xác tín được dùng đến như  sau: thứ nhất, cuộc canh tân phụng vụ là một tiến trình  liên tục; thứ hai, một nền thần học tốt là một nền  thần học có sức phản ánh và minh giải kinh nghiệm  đức tin như đã được sống qua ở giữa thế giới loài  người, để nhờ vậy mà các cuộc nghiên cứu --chẳng  hạn như là về việc phát triển nhân bản --trở  thành gần gũi và có liên quan chặt chẽ với  bí tích; thứ ba, cả thần học lẫn các ngành khoa  học nhân văn đều đóng giữ một vai trò cần thiết  trong việc giải thích và "xây dựng" thế giới  chúng ta đang sống; thứ bốn, việc đề xuất những thể dạng  nghi thức mới/khác cho lề lối cử hành bí tích, là  để giúp cụ thể hóa những nhận thức và suy tư mà  thần học cũng như các ngành khoa học nhân văn đều  có chung. [40] Các nghi thức mới được đề xuất  như thế, không trực tiếp nhằm tới việc ứng dụng vào  trong thực tế, nhưng là để làm phương tiện cho việc  tìm kiếm qua các cách kiểu hình dung, qua ý nghĩa và những  tiềm năng của từng bí tích. Nếu các tập sách có khác  nhau về mặt giá trị suy tư và khả năng ứng dụng vào  trong thực tế, thì xét chung, phương án đề ra trong bộ sách  quả là môt công trình quy mô cả về phương diện  khuôn khổ lẫn phương pháp.

Một phương thức nghiên cứu theo cung cách liên ngành, nhưng  lại có tính cách cổ truyền hơn, cũng đã được dùng  đến trong một cuốn của bộ sách khảo luận về phụng  vụ, mang tựa đề Gottesdienst der Kirche: Handbuch der Liturgiewissen-schaft. [41] Vì, như phụ đề cuốn  sách cho thấy, các hình thức biểu đạt của phụng vụ, dù  bằng ngôn từ hay không dùng đến ngôn từ, thì cũng  đều phải được lưu ý tới, thế nên, các tác giả hợp  tác đã mỗi người một phạm vi riêng, nghiên cứu  về những cung cách biểu đạt giữa loài người,  tức là qua âm nhạc và lời nói, qua các nhân tố  tự nhiên và các phương tiện kỹ thuật, qua các trang  phục và các biểu hiệu hay phù hiệu phụng vụ, và  qua cách tổ chức vị trí cũng như qua các thiết bị và  các vật dụng trong phụng vụ. Lối sử dụng phương thức  liên ngành cũng không nhất thống cho lắm. Chẳng hạn,  A. Sequeira đã dựa vào những học thuyết nhiều loại,  như: chủ thuyết hiện tượng học tôn giáo của Mircea  Eliade, Gerardus van der Leeuw và Mary Douglas, học thuyết  nhân chủng học của Frederik Buytendijik, Desmond Morris  và Johan Huizinga, cũng như dựa theo một thư mục phức  tạp đến kinh hồn, liệt kê những tác phẩm viết về cử  động và vũ điệu. Còn Karl-Heinrich Bieritz, là  tác giả nghiên cứu về việc sử dụng ngôn từ,  thì đã dùng đến các tác phẩm của Hans Georg Gadamer,  John Langshaw Austin, John R. Searle và Umberto Eco; trái lại,  Rupert Berger đã không lưu ý gì nhiều đến các dữ liệu  liên ngành trong khi trình bày về các nhân tố phụng  vụ: bánh, rượu, dầu và nước. Mặt khác, hầu hết các  tác giả hợp tác vào trong công trình nghiên cứu của  tập khảo luận đều là thần học gia, chỉ trừ Nikolaus  Harnoncourt là một nhà âm nhạc học và là nhạc  trưởng, nổi tiếng với lập trường ủng hộ cách  thức trình diễn "trung thực." Kết quả là  tập khảo luận chỉ gợi cho nhớ lại những gì đã  được bàn tới hồi thập kỷ 70 [42] và được coi như là sản  phẩm của những nhà thần học biết nhiều về các  tác phẩm trong các ngành khoa học nhân văn hơn là  thành quả của một công trình nghiên cứu bằng phương  pháp liên ngành hiểu theo ý nghĩa đầy đủ của thuật  ngữ ấy.

Trong bài viết về các bí tích, [43] tiếp tục nhấn mạnh như trước về việc  tham dự phụng vụ một cách đích thân và tích cực, [44] Karl Rahner đã nêu bật  mối liên hệ nối liền cách thức bí tích diễn đạt bằng  biểu tượng, với sự việc Thiên Chúa hiện diện trong thế giới  cũng như trong đời sống thường nhật của con  người, và xác tín rằng điều đó sẽ đặt bí tích  vào trong tầm tay của ngay cả những người  tuyên bố là mình không tin vào một tôn giáo nào  hết. Michael Skelley đã ứng dụng suy tư ấy vào trong  bí tích được hiểu như là phụng vụ của thế giới, và  đã đặt nó vào trong một bối cảnh rộng lớn hơn  bối cảnh các vấn đề Rahner từng lưu tâm đến, trong  bối cảnh của kinh nghiệm về những gì là siêu  việt, của thực trạng con người theo tư thế là tinh  thần nhập thể, của bản chất ân sủng được hiểu  như là việc Thiên Chúa tự truyền thông chính mình, và  của kinh nghiệm về Thiên Chúa. [45] Skelley đã quảng diễn cho sâu  rộng ra những ý tưởng mầm giống của Rahner về  bản chất của bí tích cơ bản, và về tính chất  biểu hiện của Lời Thiên Chúa. Nếu có thành công,  thì chính là nhờ ông đã tổng hợp được tốt những  vấn đề mà Rahner từng lưu tâm đến trong lãnh vực  bí tích, suốt thời gian bốn thập kỷ, và nhờ  đã biết để tâm lưu ý chúng ta về tầm ảnh hưởng  tỏa lan sâu rộng của tư tưởng nòng cốt ấy.

Trong một tác phẩm trước đó, Herbert Vorgrimler cũng đã  tiếp tục đào sâu suy tư của Rahner về bản chất  của biểu tượng và về việc phụng tự Giáo hội cử  hành trong thế giới của Thiên Chúa. [46] Tác giả quan  niệm bí tích như là một biến cố giao tiếp nằm trong phạm  vi của ý định hay chủ tâm, và chủ trương rằng  để có thể hiểu bí tích hay biến cố ấy, thì phải cần đến  các bộ môn như là: tâm lý chiều sâu, triết học ngôn  ngữ, nhân chủng học văn hóa, lý thuyết về truyền  thông, dân tộc học và tâm lý xã hội. Tuy nhiên,  các bộ môn ấy đã không thực sự ảnh hưởng gì  nhiều đến cách kiểu phác thảo của Vorgrimler về một  thể dạng thần học bí tích hiện đại với những đường  nét dẫn nhập tổng quát không thôi.

Bổ sung cho tác phẩm của mình --tác phẩm đã được  bàn đến trước đậy --Edward Kilmartin cũng đã  chứng giải cho chiều kích nhân chủng học của bí  tích, nhưng là dựa trên cơ sở của một cách nhìn  cổ điển lâu đời hơn, xác tín rằng Thiên Chúa đã tạo  dựng thế giới này là để thông chia sự tốt đẹp của  chính mình cho các tạo vật. [47] Tiêu đích  đầu tiên mà việc phụng tự nhằm tới, là giúp các  tạo vật thông dự cho tới mức sung mãn, vào trong sự  tối đẹp ấy. Những hình ảnh khởi nguồn từ mọi  chiều kích cuộc sống con người sẽ làm cho những  cách thức biểu đạt lòng tôn vinh tán tụng trong các nghi  thức bí tích, nên phong phú mỹ miều hơn. Cách riêng, việc  nhân chủng học đề cao thân thể, coi đó là biểu tượng  số một của con người, và vai trò của ngôn  từ diễn trình, đóng giữ một tầm trọng yếu then  chốt trong nỗ lực tìm hiểu về thực trạng con người,  cũng như đang lớn tiếng kêu mời giới thần học gia  nên nghiêm túc nhìn vào tình huống phức tạp của cuộc  sống con người, khi thảo luận về biểu tượng.

Tiếp tục chiều hướng suy tư trên đây, Kilmartin đã định  nghĩa khả năng nhận thức biểu tượng như là "sở  năng nhờ đó một kitô hữu biết nối kết các biểu  tượng trong truyền thống phụng vụ và ngôn từ diễn  trình với các biểu tượng của riêng mình trong tư thế là  một cá nhân trưởng thành." [48] Giống  như Vorgrimler, Kilmartin coi các ngành khoa học nhân văn  như là những nhân tố làm nổi bật niềm thâm tín  kitô xác quyết rằng kinh nghiệm về thánh thiêng phải  được phát hiện từ trong những hoàn cảnh cụ  thể của đời sống con người, trong đó ý nghĩa tối  hậu đang được tiềm tàng vun trồng: "thực tại thế tục  bao giờ cũng có tiềm năng trở nên thánh thiêng,  nếu ý nghĩa sâu thẳm nhất của nó được thấu đạt." [49] Phương pháp nghiên cứu dựa theo hiện tượng học là  cách thức đặc biệt thích hợp để giúp cho con người thời  nay cảm nhận ra được tầm trọng yếu của kinh nghiệm  đời người mà chính họ sống qua, bởi vì kinh  nghiệm ấy chính là biểu tượng chỉ về thực tại siêu việt.

Những phương pháp nghiên cứu không chịu ảnh  hưởng Rahner

Có một số tác phẩm mang sắc thái liên ngành, viết về  thần học bí tích, không có liên hệ trực tiếp gì mấy với  công trình suy tư của Karl Rahner, cho dù có tỏ ra  quan tâm đối với việc chủ thể tích cực tham gia vào  trong bí tích. Trong đề cương phác thảo về thần học bí tích,  lấy lại thuật ngữ rất thông dụng trong giới thần học  gia Ðức, Theodor Schneider đã miêu tả bí tích như là  một "kinh nghiệm truyền thông". [50] Khái niệm đầy  năng động ấy về trao đổi là yếu tố làm nền móng  cho đà phát triển và tính chất liên tục của một  nhóm xã hội. Nó phản ánh công trình suy cứu của  Jurgen Habermas đã từng ảnh hưởng sâu rộng và  lâu dài đến các giới thần học Ðức.

Giữa các vấn đề then chốt Habermas quan tâm đến, thì có  vấn đề hoạt động truyền thông trong xã hội, [51] Helmut Peu-kert đã áp dụng phương pháp của  Habermas cho các vấn đề có tính cách cơ bản, vì lý luận  rằng đã là thần học tất phải biết lưu tâm xét  đến vấn đề các giới hạn của kinh nghiệm, và tìm cho  ra những thể loại hoạt động truyền thông khả dĩ mang  lại câu giải đáp cho các vấn đề cơ bản đó. [52] Còn, khi bàn thảo  về đường lối hành động trong thần học thực tiễn  theo viễn cảnh của Habermas về việc truyền thông  chân chính, Norbert Met-te đã đề nghị dùng đến con  đường đối thoại, coi đó là nhân tố chủ yếu của  một lề lối hành động ngay chính và có sức biến đổi. [53]  

Vì nói lên được hành động trung gian biểu đạt về mặt  ngôn từ và dáng điệu cử chỉ, nên khái niệm "khả  năng truyền thông" phản ánh thích đáng những vấn  đề đặt ra trong lãnh vực phụng vụ và bí tích. Theo  Schneider, một khi các bí tích đã được hiểu như là những  hành động truyền thông khả dĩ giúp cho cộng đoàn  thu nhận làm tư hữu những gì mình cử hành,  thì lúc đó, có thể có được một ý niệm rất sinh động về  kinh nghiệm bí tích. [54]

Josef Meyer zu Schlochtern còn đề xuất một thí dụ khác về  cách dùng mô mẫu kia để khảo nghiệm lại mối tương  quan giữa Giáo hội và bí tích. [55] Sau khi đã điểm duyệt lại một số quan điểm điển  hình (Rahner, Ratzinger, Sem-melroth, Boff), tác giả đã  dựa theo các công trình nghiên cứu của Peukert, Mette, Arens,  Hunermann và của các tác giả khác, mà minh  giải cho thấy là khái niệm sinh động "hành  động thông truyền" giúp cho có được một khái niệm chính  xác hơn về các tác động của Giáo hội và của  Thần Trí Ðức Kitô trong việc cộng đoàn --cùng đoàn  tụ và cùng thể hiện biểu tượng --tham dự vào  hoạt động cử hành bí tích.

Trong đề cương đưa ra nhằm xây dựng một học thuyết về bí tích,  Alexander Ganoczy cũng đã dùng đến một phương thức  nghiên cứu khác dựa theo cách kiểu của Habermas để trình  bày một mô mẫu truyền thông của bí tích. [56] Tác giả trực tiếp dùng đến các phương cách đối đáp  và ứng xử thông thường của con người. Dựa  trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích phê bình về  mô mẫu gặp gỡ thân tình theo Edward Schillebeeckx, cho  rằng mô mẫu này đã bỏ quên những điều  kiện nhân chủng học chính đáng cần phải được lưu ý  tới trong một mô mẫu thiết đặt theo cách thức như thế.  Một mô mẫu truyền thông thì tất có bổn phận phải  nhấn mạnh đến nguyên tắc tương tác và các hệ luận của  nguyên tắc ấy (phản ứng, hỗ tương tính, tiếp nhận  và từ chối tiếp nhận), và phải đặt nặng hơn  ý thức về Ðức Kitô như là Ðấng trung gian đã hàn  gắn lại những đổ vỡ tận căn từng làm cho  đứt hẳn đi mọi mối liên lạc giao thông giữa Thiên Chúa  và loài người. Trong khuôn khổ trình bày như  thế, các bí tích được hiểu như là việc truyền thông bằng  ngôn từ cũng như không bằng ngôn từ, qua đó, kitô  hữu tham dự vào trong tiến trình thông truyền của  đức tin cộng đoàn; và đức tin cộng đoàn thì lại  được củng cố bởi sự việc Thiên Chúa tự thông truyền  chính mình cho cộng đoàn (và loài người).

Rồi tiếp đó, Ganoczy bàn sang bản chất nội tại của  biểu tượng, coi đó là một bản chất chủ yếu thông  truyền, và khảo sát về một số thành tố của  nó. Có thể coi biểu tượng như là một thứ cấu trúc ngôn  ngữ trong đó "thông tin" bằng ngôn từ cũng  như không bằng ngôn từ được truyền thông đi, và những  người tham gia vào cuộc đều vừa là "người  gửi" vừa là "người nhận" qua cách  dùng đến những mã hiệu truyền thông hoặc phổ  thông, cộng đồng, hoặc cá nhân. Lý thuyết về truyền thông  cũng giúp để phân biệt giữa cách truyền thông tương  tự nặng cảm tính và cách truyền thông bằng hiệu số  dựa trên các khái niệm. Ganoczy lưu ý là công đồng Vaticanô  II đã kêu gọi thực thi cả hai thể cách tham dự. Cuối  cùng, tác giả nêu lên sự việc bao giờ cũng  có nguy cơ bỏ quên mất đi châm ngôn khôn ngoan nói rằng liturgia semper reformanda (cần phải không ngừng  canh tân phụng vụ), bởi không chịu nhớ cho rõ là  biểu tượng bao giờ cũng chỉ là biểu tượng cho một  cá nhân, cho một nhóm hay một nền văn hóa nào đó, và  bao giờ cũng gắn liền với một thời gian lịch sử  cụ thể nào đó.

Cũng trong đường hướng nghiên cứu liên ngành, còn  có một nỗ lực suy tư khác cần được lưu ý, đó là  tác phẩm của Bernard Cooke, mang tựa đề The Distancing  of God: The Ambiguity of Symbol in History and Theology. [57] Ðiểm chủ  yếu của cuốn sách là chứng minh cho thấy rằng qua  các giai đoạn lịch sử khác nhau, hành động và suy  nghĩ theo cách kiểu biểu tượng đã không hề giúp cho sự  hiện diện của Thiên Chúa được dễ hơn hay ngược lại,  làm cho bị tắc nghẽn đi. Chủ đề ấy được nói lên  trong chính tựa đề của cuốn sách. Cooke đã cẩn thận  tìm hiểu về ba cách kiểu hiện diện: hiện diện trong thời  cục (kairotic) gắn liền với các nơi thánh, cới các  con người và các giai đoạn lịch sử; hiện diện bao  trùm làm cho việc tham dự vào thế giới thần linh  được dễ dàng; và hiện diện ở giữa loài  người, được điển hình hóa qua mối quan hệ của Ðức  Kitô với Thiên Chúa và với con người. Xem ra công  trình phân tích mà Cooke đã thực hiện liên quan đến  các giai đoạn giáo phụ, trung cổ và hậu-Trentô có sức  để mạnh mẽ hỗ trợ cho điều ông xác quyết rằng đà  sử dụng biểu tượng (là nơi việc tham dự đua nở)  đã mất dần năng lực đi.

Trong bốn chương cuối cùng của cuốn sách, Cooke đã  súc tích tóm lược một số khía cạnh của cuộc thảo  luận trong các nghành khoa học xã hội về biểu tượng,  nhằm chứng giải cho việc ông khẳng định nói là trong  thời đại ngày nay, hiện tượng đẩy Thiên Chúa cách  xa khỏi kinh nghiệm của loài người hiện đang  xoay theo chiều đảo ngược lại. Tác giả nói đến chiều  sâu thăm thẳm của thần học trong Giáo hội, và về  một số những thành quả thu đạt được qua các nỗ  lực canh tân phụng vụ, đặc biệt là mối quan tâm đối  với công tác đẩy mạnh việc tham dự tích cực và đối với  cách suy tưởng qua lối ngả biểu tượng, về cuộc sống  làm người nơi Ðức Kitô. Từ cuộc đối thoại hữu  ích ấy với các ngành khoa học nhân văn, có thể rút ra  được nhiều hệ quả hữu ích, như là: tầm trọng yếu  mà hành động nghi thức đóng giữ trong việc bổ  sung cho vai trò nguyên nhân của biểu tượng; mối liên  hệ giữa vai trò nguyên nhân của bí tích với ý  thức nơi cá nhân chủ quan, cũng như với những biểu  tượng khách quan; phần đóng góp mà các cấu trúc tâm  lý mang lại cho ý nghĩa tiềm ẩn trong các biểu tượng bí tích;  việc cẩn thận phân tích những biến cố hàm súc ý  nghĩa biểu tượng, và chức năng nghi thức đóng giữ  trong việc xây dựng cấu trúc xã hội như các phương pháp  nghiên cứu trong các ngành khoa học xã hội đã  vạch rõ cho thấy.

Một thí dụ quan trọng khác trong nỗ lực đặt cuộc thảo  luận về biểu tượng vào trong bối cảnh, là tác  phẩm của Divid Power viết về bản chất biểu trưng của  phụng vụ. [58] Power bắt đầu thiên  nghiên cứu của mình với việc khảo xét thực trạng  ngày nay, và nhấn mạnh rằng "những gì mang tính  chất biểu tượng thì đều nằm trong khuôn khổ chung của  cuộc sống công giữa xã hội và trong cộng đoàn. [59] Dẫn chứng tình trạng xung khắc văn hóa và  hoàn cảnh kinh tế biến đổi nhanh chóng, tác giả  đã từ đó rút ra những hệ quả có thể áp dụng  được vào bất cứ một hệ thống biểu tượng nào. Biện  luận chặt chẽ, không thể bác bẻ nổi, Power khẳng  quyết rằng đức tin dựa vào kinh nghiệm (hoán cải)  trở lại để lập quan hệ với các biểu tượng. Rồi đức  tin đòi hỏi phải có thái độ sẵn sàng đón  nhận những gì là siêu viết, và những phê phán  tận căn mà thực tại siêu việt ấy đưa ra liên quan đến  môi trường văn hóa, xã hội và chính trị của  thế giới chúng ta đang sống.

Trong một phần phân tích về nhiều khía cạnh của biểu tượng,  Power đã nhấn mạnh đến một sự việc quan trọng, đó là  biểu tương có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Trong phần  này, minh họa một cách sáng suốt và sâu sắc, tác  giả đã dùng đến các công trình nghiên cứu của  Ricoeur, Langer và các tác giả khác. [60] Phần phân tích về ngôn ngữ biểu  tượng đã mang lại một số nhận thức sâu sắc về bản  chất của phụng vụ; tóm tắt, ông phát biểu về những  nhận thức đó như sau: "Phụng vụ là một hành động  trong đó chứng từ của Thiên Chúa được nghe biết và  nhận lấy làm của mình, kinh nghiệm của cộng đoàn  được biến cải, và một bầu khí tham dự đầy sùng  mộ hiện rõ lên trước mắt." [61] Mẫu định nghĩa súc tích ấy bao gồm cả  bản chất của việc công bố về Ðức Giêsu Kitô bằng  cách dùng đến những dụ ngôn cơ bản thích đáng  và bằng cách nhận lấy chứng từ ấy --than vãn  cũng như tạ ơn-- làm của mình.

Cuối cùng, giữa những kết luận rút ra từ việc  tìm hiểu về tiềm năng phong phú của biểu tượng, đặc biệt  quan trọng là các tiêu chí mà Power dùng để xác  định giá trị của lề lối thực hành bí tích. Tác giả  cho rằng cần phải biết hài hòa kết nhập ngôn  ngữ nghi thức, huyền thoại và ẩn dụ lại với nhau,  cũng như cần phải lưu ý nhiều hơn đến kinh nghiệm văn  hóa của thời đại chúng ta đang sống. Tác giả cũng  nhấn mạnh đến tiêu chí của "mối quan hệ giữa việc  cử hành và lề lối hành động đúng theo tinh  thần tự do phúc âm cùng tình liên đới đối với kẻ  khổ đau." [62] Tiêu chí vừa nói dùng để  trắc nghiệm xem trong thực tế có thật sự có tình trạng ăn  khớp giữa phụng vụ và đạo đức học, giữa kinh  nghiệm về thánh giá và cảnh khổ đau như đang thấy  trong thế giới hay không.

Còn có một tác phẩm khác, xuất bản gần đây hơn và  đi sát với tư tưởng của Bernard Lonergan hơn là với  đường hướng của Rahner, đó là bộ sách hai cuốn  của Donald Gelpi, bộ sách một thời nổi bật trên đỉnh  cao của công trình suy khảo mà tác giả đã  thực hiện nhằm nghiên cứu về các bí tích. [63] Tác phẩm  này là thành quả nghiêm túc nhất trong nỗ  lực Gelpi đưa ra nhằm xây dựng một thể dạng thần học hệ  thống về bí tích trong đó phương thức liên khoa được dùng  đến như là một thành tố cấu trúc. Trong cuốn đầu,  dựa theo những yêu cầu mặc nhiên củaNghi lễ  khai tâm người lớn, Gelpi đã cẩn thận nắn đúc và  đề xuất một thể dạng thần học về hoán cải để làm  khuôn khổ bàn thảo cho nội dung của cuốn hai, tức  là tập khảo luận về từng bí tích một. Ngoài  công trình khảo cứu của Bernard Lonergan ra, tác giả  còn dùng đến thần học giải phóng và thần  học phụng vụ để xây dựng mô mẫu hoán cải ấy.

Trước tiên, Gelpi phác họa ra năm thể dạng hoán cải:  hoán cải cảm tính, hoán cải tri thức, hoán cải  luân lý, hoán cải tôn giáo và hoán cải xã  hội chính trị. Tác giả đã bàn sâu rộng về cách  thức phụng vụ biểu trình Mầu Nhiệm Phục Sinh và về mối  quan tâm của thần học cơ bản đối với bí tích tính nguyên  thủy, và đã giải thích các điểm này trong  khuôn khổ của khái niệm hoán cải hiểu theo ý nghĩa  vừa bao hàm vừa thách đố, với những chứng  dẫn cụ thể rút ra từ đời sống cá nhân của  mình. Từ đó, ông đặt câu hỏi: Một cộng đoàn kitô  hữu thực sự hoán cải thì phải cử hành  phụng tự bí tích theo cách thức nào? Trong phần phác họa  các chiều kích khác nhau của việc hoán cải, Gelpi đã  tỏ ra rất quen thuộc với các ngành khoa học nhân văn  liên hệ. Việc hoán cải xã hội chính trị chính là  nhân tố trắc nghiệm cho các thể dạng hoán cải khác,  vì việc hoán cải kia sẽ xác nhận các thể dạng hoán  cải này là chân chính nếu chúng mở rộng để  vượt ra ngoài khuôn khổ cá nhân riêng tư. Nhưng đồng thời,  việc hoán cải cá nhân lại "xác nhận tính chất chân  chính của hoạt động mà việc hoán cải xã hội  chính trị khơi hứng, bằng cách làm cho những người  hoạt động chính trị có được những quy tắc lành mạnh  để phân định giữa những chính sách cùng quyết định  có trách nhiệm và vô trách nhiệm do các thể chế và  các tổ chức hành pháp đưa ra." [64] Thế nên,  không có gì là lạ nếu việc hoán cải xã hội chính  trị được coi là thể dạng hoán cải gặp phải sức  chống cưỡng nhiều nhất, đặc biệt là trong một bối  cảnh văn hóa như bối cảnh Tây phương, trong đó, các  giá trị cá nhân riêng tư đều được coi như là những  quy phạm. Ðằng khác, kết quả thực tế của một thái  độ hoán cải như thế, sẽ là một cuộc đổi thay  các giá trị của toàn bộ thực tại xã hội, chính  trị cũng như cá nhân.

Sau khi phác họa về tính chất phức tạp của việc hoán  cải, Gelpi đã điểm duyệt lại các truyền thống kinh  thánh và thần học cung ứng những nhân tố làm  cơ sở cho khái niệm hoán cải. Ðặc điểm của tác  phẩm này là ở chỗ có được một tầm hiểu biết  rất sâu rộng về đường hướng hiện đại của khoa chú  giải Kinh thánh, và biết diễn đạt một cách đầy  sáng tạo những khái niệm cổ truyền như là: nhân đức  đối thần và các thể loại ơn thánh. Giống như Rahner và  Lonergan, Gelpi thường không ghi chú xuất xứ của các  nguồn liệu dùng đến, mà chỉ liệt kê ra các thư mục  bao hàm trong những trang cuối của bộ sách. Tiếp  đó, tác giả đã khai triển và trắc nghiệm những  nhận định suy tư của mình bằng cách bàn đến "sức  năng động của việc thánh hóa trong xã hội" và  "việc xã hội hóa trong gia đình của Thiên Chúa;"  chủ đề này đã đưa tác giả tới chỗ trình  bày về quan điểm của mình đối với nền móng kitô học  và tam vị của bí tích. Thế mạnh của Gelpi là  ở chỗ biết phối kết và tổng hợp một cách có  hệ thống những suy tư đã sẵn có với những vấn  đề bao quát hơn như thế kia. Chương cuối cuốn một đã bàn  trở lại về vấn đề thời gian dự tòng, và đã  lồng tất cả những gì bàn đến trước đó vào  trong một viễn cảnh mới mẽ về thể dạng có cơ  cấu tổ chức như thế của việc hoán cải.

Kết luận

Tóm lại, phần điểm duyệt trên đây cho thấy rằng cách thức  trình bày có hệ thống về bí tích dựa theo viễn cảnh  của Rahner, thì đi liền gắn chặt với đời sống của  Thiên Chúa Ba Ngôi; còn trong khi đó, về phía thụ nhân,  thì việc tìm hiểu về các nhân tố liên ngành lại được  coi là quan trọng. Cách thức sử dụng các phương pháp  nghiên cứu đã trở nên ngày càng nghiêm túc  chặt chẽ hơn; còn việc làm quen với các chuyên  khoa thuộc các ngành khoa học nhân văn thì ngày càng  đạt đến mức sâu rộng hơn. Ðiều đó mang lại một sức sống  mới cho các nỗ lực suy cứu về bí tích đã từng  bị rơi dần vào con đường trừu tượng, chỉ lo mổ xẻ  phân tích, cũng như mở ra một viễn ảnh đầy  hứa hẹn với những nhận thức sâu rộng và đầy sáng  tạo như đã thấy và còn sẽ thấy xuất hiện  nhiều nữa.

Regis A. Duffy, O.F.M., Ðại Học Ðức Bà

 

2. THẦN HỌC GIẢI PHÓNG

Những tác phẩm thời đầu của các thần học gia  giải phóng viết về thần học bí tích thường dựa theo  một số tư tưởng của Rahner để nối kết thần học về  Giáo hội và thần học về bí tích lại với nhau, trong một  cách kiểu làm sao cho thích ứng với trạng huống kinh tế  và chính trị của vùng Châu Mỹ Latinh. Sau đây,  xin điểm duyệt các tác phẩm viết về bí tích của hai trong  các tác giả thời đầu ấy.

Juan Luis Segundo

Ngay từ năm 1971, Juan Luis Segundo, người Uruguay, đã  nêu lên nhiều vấn nạn gay go cho lề lối thực hành phụng  vụ và bí tích theo thông lệ thời đó, cách riêng là  cho những hình thức nặng vẻ đắc thắng khoa trương trong  việc phụng tự và trong đời sống Giáo hội, giữa  một cảnh trạng đầy dẫy những bất công trầm trọng  về mặt kinh tế và xã hội. Trong cuốn Los Sacramentos  hoy, [65] Segundo đã  nêu rõ cho thấy là cần phải làm sao để có  được trong việc cử hành phụng vụ, một cảm thức  sống động chân thực hơn về cộng đoàn; và phương cách  chủ yếu để gầy dựng lên cho được một cảm thức như  thế chính là việc thành lập cùng nuôi dưỡng  các cộng đoàn cơ bản. [66] Tác giả  đề xuất một lối giải thích tích cực về đà "tục  hóa" để từ đó nhận ra được ngay ở trong phụng  vụ, những khía cạnh thiết yếu có tính cách ngôn sứ và  đi sát với thực tế cuộc sống. [67] Và như thế, tác  giả đã gạt bỏ lối phân chia nhị nguyên giữa  những gì là thánh thiêng với những gì là phàm  tục, và cho rằng phụng vụ thực sự có sức năng để giải  phóng con người khỏi "quỷ dữ" có mặt  chẳng hạn như là trong lối phân chia ruộng đất và  tiền của một cách bất công, thường thấy đi liền gắn  chặt với cơ cấu xã hội tại các nước kém mở mang. [68] Segundo chỉ trích những hình thức "tiêu thụ"  trong việc chịu các bí tích, và minh chứng cho thấy rằng  một hệ thống trình bày về bí tích có thể trở thành  trong thực tế, một thế chống đỡ cho hành động bóc  lột để rồi dần dà nó thâm nhập vào trong toàn  bộ cuộc sống xã hội. [69]   Chính  vì thế, tác giả đã nhấn mạnh đến nhu cầu bức thiết  cần phải tìm hiểu cho sâu rộng hơn và đánh giá cho  đúng mức hơn chiều kích ngôn sứ của phụng vụ, là  thể cách cử hành những gì còn chưa hoàn  thành trong cuộc sống, những gì còn gây trở  ngại làm cho toàn bộ cuộc sống chưa trọn vẹn nhuần  thấm được sức năng giải phóng của Ðức Kitô Phục  Sinh. [70] .

Cấu trúc của bộ sách và cách trưng dẫn các nguồn  liệu huấn quyền phản ánh rõ đà chuyển hướng tách  dần ra khỏi những vấn đề thường được bàn tới  trong thời hậu-Trentô, như: việc thành lập bí tích,  hiệu lực của bí tích, và con số 7 bí tích. Các nguồn  liệu huấn quyền mà tác giả dựa vào nhiều nhất  là hai văn kiện của công đồng Vaticanô II: Hiến chế  về Phụng vụ thánh và Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong  Thế giới Ngày nay, cũng như các văn kiện Medellín (1968)  của Hội đồng Giám mục Châu Mỹ Latinh. Thêm vào  đó, còn có thông điệp Evangelii nuntiandi (Loan báo  Tin Mừng) của Ðức Phaolô VI, và Văn kiện hội nghị  Puebla (1979) của Hội đồng Giám mục Châu Mỹ Latinh;  các văn kiện này ảnh hưởng nhiều đến các tác  phẩm viết về sau, lấy lại những chủ đề về bí tích  đã từng được tác giả nêu lên từ đầu.

Leonardo Boff

Sau cuốn sách của Segundo một ít lâu, thì có hai tác phẩm  của Leonardo Boff, người Ba Tây, ra mắt độc giả,  viết về bí tích tính cố hữu của các bí tích, và  về chủ đề có thể được gọi là một nền giáo hội  học bí tích. Trong thiên tiểu luận tựa đề Los Sacramentos  da Vida e a Vida dos Sacramentos, [71] Leonardo Boff, Los  Sacramentos da Vida e a Vida dos Sacramentos (Pietropolis: Vozes,  1975); bản dịch tiếng Anh do John Drury,Sacraments of Life,  Life of the Sacraments: Story Theology, (Washington: Pastoral,  1987).chủ đích của tác giả là trình  bày về cách thức bí tích thể hiện tác động hỗ tương  giữa loài người (đặc biệt là qua cung cách  quan niệm về sự sống và thông truyền sự sống loài  người), thế giới và Thiên Chúa; là "hồi phục  những giá trị tôn giáo phong phú tiềm ẩn trong thế giới  biểu tượng cùng bí tích, đang nằm ngay ở giữa cuộc  sống hằng ngày của chúng ta... đức tin nhận ra ân  sủng đang hiện diện ngay ở trong những hành  động sơ đẳng nhất của cuộc sống." [72] Trước  sau như một, tác giả nhìn các bí tích sub specie humanitatis (theo thể dạng nhân tính), như chính tác giả đã nói  bằng thuật ngữ riêng của mình. Ngôn ngữ bí tích  là một ngôn ngữ chủ yếu gợi ý gợi cảm, mang  tính chất tự dấn thân và hướng tới hành động cụ  thể. Các bí tích gợi lại những thời gian và nơi  chốn thánh thiêng nhằm vén mở cho thấy tính chất thánh  thiêng của cuộc sống mỗi ngày, và để thúc  đẩy những người tham dự dấn thân hoạt động cho công  cuộc cứu độ trong khắp nơi mọi lúc. Các bí tích cũng nhằm  tới việc hoán cải và thay đổi lề lối hành động  của con người. Với những ngôn từ đơn giản,  thường là tự thuật, Boff chia sẻ cho biết là  những con người (thân sinh và thầy dạy của  tác giả), thiên nhiên (ánh sáng), và các sự vật  (bánh, nhà cửa) đều có thể mang tính chất bí tích;  và tác giả thường nối kết các mẫu ký thuật  như thế lại với các nguyên tắc trong thần học bí tích (coi  đó như là cấu trúc biểu tượng phụ của các nguyên  tắc này). Chương kết cuốn sách tóm lược lại một cách  có hệ thống những gì trước đó, tác giả đã trình  bày cho độc giả đại chúng.

Trong cuốn Iglesia: Charisma e poder, [73] Boff cũng nhằm tới cùng một tiêu đích và cũng  dùng cùng một lối văn tương tự như trong thiên  tiểu luận vừa bàn đến trên đây. Chủ trương cho  rằng "giáo hội được sinh ra từ lòng tin của  dân chúng," Boff coi cộng đoàn cơ bản là một  cung cách mới mẽ và đặc thù để sống đức tin kitô,  để tổ chức cộng đoàn trong khắp thế giới, chung quanh  các bí tích (khi có thể được) và chung quanh các tác vụ  do giáo dân thi hành. Quan niệm rộng rãi mà Boff  có về bí tích tính như thấy trong cuốn sách trước, hiện rõ  trong chủ trương của tác giả cho rằng cần phải  có "một cách hiểu khoáng đạt hơn về các bí tích (được  coi) như là dấu chỉ của ân sủng thường xuyên  ban xuống cho con người và hằng hiện diện giữa  loài người, chứ không phải như là những  dụng cụ mang lại một ân sủng đã có sẵn trước." [74] Ðiều đó còn mở rộng đường cho "đà  phát huy bí tích tính phong phú của Giáo hội (toàn bộ  Giáo hội là bí tích) với những cách thức cử hành  đầy sáng tạo và với một ý thức sâu đậm về những  thực tại thánh thiêng --tất cả đều là sở hữu  của dân chúng." [75] Trong một phần viết then  chốt, khảo sát về ý nghĩa của sacramentum được coi  như là nhân tố nối kết hai khái niệm có tính cách biện  chứng, tức là các khái niệm "đồng nhất tính"  và "bất đồng nhất tính," Boff cho thấy rõ là  đã chịu ảnh hưởng của Rahner và của  Schillebeeckx. Tác giả viết rằng "đồng nhất tính đã  được nói lên qua bí tích: ân sủng có mặt ở nơi hành  động trung gian, mầu nhiệm tái diễn hiện diện...sáng ngời  lên qua một lời nói, trở thành thân thể một cách  biểu tượng qua một cử điệu, và được thông truyền  qua một cộng đoàn." Dù thế, bất đồng nhất tính  cũng được đọc thấy ở trong các bí tích, bởi vì  "Thiên Chúa và ân sủng của Ngài thì không  thể bị giam hãm ở trong bất cứ một cung cách biểu  đạt nào của bí tích. Dù ân sủng có mặt, thì  cũng vẫn có một sự khiếm diện ở trong bí tích.  Có được vén mở ra trong bí tích, thì mầu nhiệm cũng  vẫn là mầu nhiệm. Không thể nào đồng nhất hóa  mầu nhiệm với bí tích được cả; do đó, quả là có  bất đồng nhất tính." [76] Boff đã dùng  phạm trù sacramentum để chống đỡ cho luận thuyết  biện chứng trải dài suốt cả cuốn sách của  ông, và dựa vào phạm trù cố cựu ấy của truyền  thống công giáo, tác giả đã có thể trình tả về  vai trò mà các bí tích đóng giữ trong đời sống  đức tin của một cá nhân, cũng như về vai trò của  Giáo hội theo tư cách là cộng đoàn phục vụ cho Nước  Chúa ở trong thế giới.

Segundo Galilea

Cả phương thức giải thích về bí tích tính lẫn kinh  nghiệm của các cộng đoàn cơ bản đều không tránh  khỏi được tình trạng mập mờ nước đôi trong kinh nghiệm  và trong cung cách lượng định đánh giá: đó là nhận  định đọc thấy rõ ở trong một số tác phẩm quan trọng  --cần được lưu tâm đến-- của vùng Châu Mỹ  Latinh, viết về "lòng đạo đức bình dân."

Segundo Galilea là người đã lên tiếng mạnh mẽ  nhất tại vùng Châu Mỹ Latinh để nghiêm túc khẳng  quyết rằng lòng đạo đức bình dân là một hiện tượng  mang tính chất thực sự giáo hội và thần học. [77] Các thiên khảo luận của Galilea  minh xác về sự có mặt của các hình thức biểu đạt "lòng  đạo đức/ Công giáo bình dân," [78] coi đó là những thực kiện  trường kỳ và sinh động của cuộc sống, những  thực kiện phản ánh và ủng hộ các giá trị kitô  chân chính về sự sống và sự chết, cũng như mối liên  đới với thế giới thần thiêng. Những thể dạng và  những cách thức biểu đạt của lòng đạo đức bình  dân thường nghiêng chiều về phía sùng mộ, cảm  tính (nếu không nói là tình cảm), biểu tượng và  chuộng nghi thức. [79] Những  gì được gọi la"bí tích tính" bẩm sinh, thì có thể đọc  thấy được ngay ở trong sự việc Công giáo bình dân dùng  đến các nơi, các đồ vật thánh và các nghi thức để cầu  khấn Thiên Chúa và các thánh. Galilea đã lặp đi lặp  lại lời khẳng quyết này là tôn giáo bình dân  là một thực kiện và là một nhu cầu của những  người dân bị áp bức. [80]

Chủ chốt nhất giữa những câu hỏi các nhà  thần học giải phóng thường nêu lên liên quan đến  vấn đề vừa nói, là câu hỏi sau đây: "Tôn  giáo bình dân có mang lại tự do, có sức giải thoát hay  không?" Theo Galilea, lúc đầu các nhà thần học và  các người làm mục vụ (từ thập kỷ 50 trở  về sau) đã đánh giá tôn giáo bình dân một cách tiêu  cực, bởi lẽ họ cho rằng thay vì giải phóng người  nghèo cho khỏi cảnh bóc lột và áp bức, thì  hình thức tôn giáo ấy chỉ biết nhân danh đức tin và sự  quan phòng mà làm cho họ an phận với cảnh sống  của mình. Sau đó, có nhiều người trong các giới nói  trên đã minh giải một cách tích cực rằng ở trong  tôn giáo bình dân, các người nghèo tìm ra được tiếng  nói của mình, cách thức biểu đạt đức tin của mình,  và rằng qua thái độ nhận biết thế giới riêng và  những tiềm năng riêng của mình như thế, các người  nghèo quả đang gieo những hạt giống quý hóa và  đầy ý thức, cho một mùa hy vọng và giải phóng  cánh chung. Có những người khác thì lại tỏ ra thận  trọng hơn trong cung cách nhận định đánh giá của mình, và  muốn thấy cho được những bằng chứng cụ thể về tiềm năng  giải phóng ấy của lòng đạo đức bình dân. Galilea  nhấn mạnh đến việc cần phải biết coi trọng lòng đạo  đức bình dân, bởi đó là một thực kiện, và phải  biết sử dụng lòng đạo đức ấy vào trong công cuộc  rao truyền Phúc Âm và giải phóng con người.  Tác giả nhận định rằng công cuộc rao truyền Phúc Âm  không nhằm tới việc thay đổi những hình thức sống đạo  bên ngoài cho bằng đem những giá trị kitô lồng vào  trong những hình thức ấy để chúng có được một ý nghĩa  sâu sắc và phong phú hơn. Rao truyền Phúc Âm là  một công tác phức tạp và có khi được hiểu một cách  mập mờ nước đôi, nhưng dù sao thì cũng phải  là một công tác biết tôn trọng những lối sống đạo  cụ thể và những cách sùng kính thực tế của  dân chúng, không tìm cách để cứ một mực thông chuyển cho  được những giá trị của Phúc Âm theo thể "tuyệt  đối thuần túy" hay "nguyên chất;" và cũng  có thể là một công tác biết kiên nhẫn để cho những  thái độ sống kitô thuần túy có thời gian mà ló dạng  lên từ những hình sống đạo bình dân, cũng như có  khả năng nhận ra và đào sâu thể những dạng  đời sống nội tâm cần đến sự ứng trợ của các hình  thức biểu đạt bên ngoài. Công tác rao truyền Phúc Âm  tất phải nhận là thiết yếu vai trò mà các  cộng đoàn cơ bản đóng giữ trong nỗ lực nuôi  dưỡng và đẩy mạnh đời sống Phúc Âm, và  như thế, mối liên hệ cố hữu giữa tôn giáo bình dân  và thần học giải phóng càng được củng cố  bền chặt thêm hơn. Dựa theo Văn kiện Tổng kết hội nghị Puebla,  Galilea nhận định rằng để có thể đảm nhận công tác rao  truyền Phúc Âm tại vùng Châu Mỹ Latin cho nghiêm  túc, thì cần phải biết ý thức về nhu cầu giải thích  lại theo tinh thần giải phóng, những cách thức diễn  đạt và những biểu tượng gặp thấy ở trong tôn  giáo bình dân.

Francisco Taborda

Rao truyền Phúc Âm và giải phóng là hai phần  chủ yếu trong công trình nghiên cứu --hiện đại hơn và  với nội dung dồi dào hơn-- về bí tích, do hai tác giả  Francisco Taborda và González Dorado cùng thực hiện.

Francisco Taborda, người Ba Tây, lý luận rằng khái niệm  "lễ mừng" được gắn liền với khái niệm "bí  tích" để làm cho những sức năng giải phóng  của việc hồi niệm bí tích và mừng kính mầu nhiệm  Ðức Kitô sống lại, tỏ rạng hẳn lên. Mục tiêu Taborda  nhắm tới, là dựa theo ánh sáng hoàn cảnh cụ thể  của Giáo hội Công giáo Châu Mỹ Latinh mà xem xét  và tổ chức thần học bí tích lại cho thích đáng; bởi  vì, bản sắc của Giáo hội vùng này là ở  chỗ đã từng sống qua kinh nghiệm lịch sử của  lề lối hành động giải phóng cứu gỡ người  nghèo ra khỏi cảnh nghèo của họ. [81] Việc phân chia cuốn sách thành ba phần cũng phản  ánh rõ mục tiêu và khuôn khổ mà tác giả  đã đặt ra cho công trình nghiên cứu. Trong phần 1, Taborda  đã sơ phác về hiện tình đời sống đức tin tại Châu  Mỹ Latinh, với điểm nhấn mạnh đến công tác biến đổi  xã hội bất công hiện tại. Trong phần 2, tác giả đã  dựa theo nhãn quan nhân chủng học mà xác định mối  quan hệ giữa việc cử hành và việc sống biến  cố "lễ mừng," cũng như ý nghĩa của các  sự việc ấy. Trong phần 3, tác giả bàn về khái niệm  "lễ mừng" và về các bí tích hiểu theo nghĩa  là những cách thức cử hành việc tưởng  niệm Ðức Chúa; "lễ mừng" là giao điểm giữa  việc dấn thân đoan hứa trong các bí tích kitô và đời  sống kitô trong thực tế. [82]

Không chần chừ, Taborda đã mạnh mẽ xác định ngay  là "lễ mừng" hàm súc ý nghĩa chỉ về  tác động của hành động con người ở trong lịch  sử. Và như thế, cách hiểu lý luận cao độ (tức triết  lý) của tác giả về "lễ mừng" bao hàm  cả việc sống niềm tin của mình ở giữa cuộc  sống xã hội loài người nữa. Tác giả cho  rằng tại Châu Mỹ Latinh ngày nay, từ ngữ cần  phải được dùng để diễn đạt lề lối hành động  kia là từ "giải phóng." [83] . Qua từ ngữ "giải phóng,"  thuật ngữ "hành động" then chốt được các từ  "đức tin," "tính chất cộng đoàn," và  "của/trong Ðức Chúa," bổ nghĩa thêm cho; tất cả  các từ này được dùng để bảo toàn tinh  thần kitô và ý nghĩa của thuật ngữ then chốt kia. [84]  

Ðiều làm cho cuốn sách được đánh giá cao là đã  coi cuộc sống con người cao rộng hơn là lề lối hành  động đơn thuần: con người cần tổ chức "lễ mừng."  Về điểm này, Taborda đã dựa theo các công trình nghiên  cứu của Peter Hunermann, đại học Munster, cũng như của  Hugo Rahner và Johan Huizinga. [85] Khi liên  kết cách hiểu của mình về "lễ mừng" với  các khái niệm về biểu tượng, tác giả đã cho thấy  rõ là mình chịu ảnh hưởng của Karl Rahner,  Paul Ricoeur và José María Castillo, [86] Taborda cho rằng không thể có được "hành động"  trong lịch sử, nếu đi kèm theo, lại không có việc dùng  đến ngôn ngữ và cử điệu biểu tượng; các bí tích  kitô là một phần của lãnh vực biểu tượng ấy.  Bản tính loài người đòi phải có một sự  cân bằng giữa "hành động" và "lễ  mừng." Ði đúng với chủ thuyết chính ông đề xuất,  tác giả thường xuyên khẳng quyết rằng dấn thân cho  hành động giải phóng tại Châu Mỹ Latinh ngày  nay có nghĩa là hoạt động nhằm xây dựng một xã hội  công bằng hơn; mục đích của cuộc sống không phải là  để giải phóng con người cho khỏi công tác hay hành  động, hoặc là cho khỏi nỗ lực hoạt động nhằm  xây dựng một xã hội bình đẳng hơn, nhưng là để giúp  cho con người có tự do mà dấn thân vào trong công  tác xây dựng một thế giới đầy tình người hơn, giải  phóng con người khỏi những loại công việc làm  dồn con người đến chỗ tha hóa, hoặc khỏi cảnh  bạo lực và áp bức. Hiểu theo ý nghĩa của lễ mừng,  các bí tích sẽ vén mở cho thấy những ý nghĩa phong  phú chúng hàm dung. Trong một cảnh huống bất công,  bí tích có thể làm đà thúc đẩy hành động nhằm  tới công tác xây dựng một xã hội công bằng hơn. Nhưng,  bí tích cũng có thể bị lèo lái để trở thành  công cụ gia cố những cách thức hành động và cơ  cấu tổ chức bất công trong xã hội.

Trong phần cuối cuốn sách, Taborda đã đưa cách hiểu của  mình về bí tích, về lễ mừng và hành động, sáp  nhập vào trong mạc khải kitô và việc cử hành  các bí tích. Dựa vào công trình khảo luận của Leonardo  Boff, tác giả đã miêu tả về cơ sở hạ tầng  của bí tích, coi bí tích là thực tại hàm dung ngôn  ngữ miêu thuật và biểu tượng, là thời điểm  nằm trong niên đại của thời gian và cuộc sống,  là tự bản chất, quy-Kitô, và là những  cách thức tưởng niệm theo lối biểu đạt, Mầu nhiệm Phục  sinh của Ðức Kitô trong và cho Giáo hội. Những  thuật ngữ cổ điển trong giáo lý công giáo về bí tích  đã được minh nhiên nhắc đến (chẳng hạn như từ ngữ  significando causant/ làm phát sinh bằng cách nói lên  ý nghĩa), và cung cách công đồng Trentô trình bày  về bí tích đã được dùng làm khuôn thước cho ít  nhất là một phần trong công trình khảo luận của  tác giả (chẳng hạn như là thuật ngữ ex opere  operato/do sự/do chính việc đã làm). Tuy nhiên, trong  những phần ấy, tác giả cũng nhấn mạnh đến tác  động qua lại của các biểu tượng: tác động thuộc nội  giới các bí tích, nhờ đó, các bí tích mới có được sức  năng mà "làm phát sinh," và giữ vững  lập trường cho rằng sáng kiến nhưng không về phía Thiên  Chúa chính là nhân tố làm nền móng cho thái độ dấn  thân qua bí tích.

Antonio González Dorado

Phương pháp và luận thuyết của Taborda cũng như  cung cách tác giả này đặt công trình khảo luận  của mình về bí tích vào trong bối cảnh của Châu  Mỹ Latin ngày nay, đã ảnh hưởng nhiều đến  những nỗ lực nghiên cứu của các thần học gia  khác: Antonio González Dorado với cuốn Los Sacramentos del  Evangelio [87]   một thí dụ. Cuốn sách có tầm cỡ này là một phần  đóng góp giá trị của bộ sách căn bản về thần học  mang tựa đề chung Teología para la Evangelización liberadora  en América Latina (Thần học để dùng vào việc rao  giảng Tin Mừng giải phóng tại Châu Mỹ Latinh). [88] Công trình tổng hợp của cuốn sách  đã được thực hiện trong khuôn khổ bối cảnh của  Châu Mỹ Latinh ngày nay, và được coi như là  một lời nghiêm túc đáp lại những yêu cầu khẩn thiết  của Hội nghị Puebla mong cho có được: một thể dạng thần  học về phụng vụ và bí tích thích ứng với bối cảnh  nhân bản và giáo hội của Châu Mỹ Latinh; một  thái độ đặc đãi đối với người nghèo; và một  phương án quy mô giáo hội cũng như thức thời cho công  tác rao truyền Tin Mừng giải phóng, nhằm mang lại cho  Giáo hội một sức sống mới. [89] Theo  González Dorado, để thực hiện cho được những điều đó,  thì trong những việc phải làm, cần đặc biệt lưu  ý đến các công tác thiết yếu này: thẳng thắn xét lại  lề lối thực hành bí tích đang xuống dốc; lượng định tầm  trọng yếu của mối liên hệ giữa nỗ lực canh tân  Giáo hội và công tác đổi mới phụng vụ; tìm hiểu về  mối tương quan giữa các bí tích và nền văn hóa hiện  đại, lòng đạo đức bình dân ngày nay cũng như trào  lưu đại kết đang diễn tiến. Không phân gián hay đặt công  tác rao truyền Phúc Âm và việc sống bí tích đối đầu  nhau, tác giả đã nêu bật việc cần phải thích ứng  lề lối cử hành phụng vụ và bí tích sao cho ăn  khớp với bối cảnh của một cuộc sống mục vụ biết  tiến bước theo đúng tinh thần phụng vụ, đặc biệt là theo  đúng chức năng phúc âm hóa của phụng vụ.

Công trình khảo luận của Gonzalez Dorado là một  công trình bao hàm. Cuốn sách mười chương của tác  giả đã bàn đến các vấn đề như sau: các bí tích  trong dòng lịch sử; các bí tích: biểu tượng của  đức tin; nguồn gốc và sứ mạng phúc âm hóa của các  bí tích; các bí tích với công tác xây dựng một Giáo hội thấm  nhuần tinh thần Phúc Âm sâu đậm hơn và có sức rao  truyền Phúc Âm cho tích cực hơn; các bí tích với cuộc sống  làm chứng cho Phúc Âm; các bí tích với việc phụng  tự mang đậm tính chất phúc âm hóa; mục đích và hiệu quả  của các bí tích suốt trong dòng lịch sử; thừa  tác viên bí tích theo tư thế là người phân phát các  mầu nhiệm của Thiên Chúa; các bí tích với việc dấn thân  làm chứng cho Phúc Âm; tính chất thiết yếu của  các bí tích; và bí tích liên đới. Mỗi chủ đề đều  được bàn đến theo phương pháp lịch sử và bằng cách  dựa theo cơ sở các nguồn liệu chính yếu, như là Kinh  Thánh, các tác phẩm của Téctulianô, Âugutinô, Tôma  Aquinô, và các văn kiện hiện đại của huấn quyền,  - đặc biệt là thông điệp Evangelii nuntiandi (Công  bố Tin Mừng) của Ðức Phaolô VI cùng văn kiện các  Hội nghị Medellín và Puebla. González Dorado giải thích  rằng sở dĩ tác giả đã dùng đến các học thuyết  của Téctulianô, Âugutinô và Tôma Aquinô, thì chính  là vì có những nét tương đồng giữa thời các  tác giả này và thời nay. Nếu thời Téctulianô  là thời các tử đạo, thì thời nay là thời  Châu Mỹ Latinh đang phải sống qua cảnh chịu áp bức;  nếu Âugutinô đã gia công giải thích về bí tích  cho những người không có học thức, thì thời nay  cũng đang phải đương đầu với cùng một thách đố  như thế; và Tôma Aquinô cũng đã sống qua một thời  giao động với những đổi thay sâu rộng về mặt kinh tế,  chính trị và xã hội chẳng khác chi thời chúng ta  đang sống hiện nay. Tác giả nói rõ là mình dựa  theo tư tưởng của Schillebeeckx, Rahner, Congar và  Borobio, [90] cũng như của  Segundo và Boff. Suốt cuốn sách, tác giả đã dựa  theo phương pháp hiện tượng luận mà bàn đến các nghi  thức, đã chú tâm tìm hiểu về cấu trúc và nội dung  phụng vụ của chúng, cũng như đã ra sức giải  thích về ý nghĩa thần học của chúng.

Một trong các điểm đóng góp hữu ích hơn cả về mặt  phương pháp, là cách thức González Dorado bối cảnh  hóa những tư tưởng và nhận định quen thuộc của  các thần học gia và của huấn quyền, để từ đó  xác định rõ về ý nghĩa của những gì đã được nói lên. Tác giả đã khéo léo nối kết những vấn  đề rút ra từ lề lối sống đạo và cách thức thực  hành bí tích tại Châu Mỹ Latinh ngày nay, với những  chủ đề cổ điển cần bàn đến. Chẳng hạn, chương viết  về các bí tích trong dòng lịch sử đã dùng đến  tư tưởng của các thần học gia trưng dẫn trên đây  như là những nguồn dữ liệu, rồi tiếp đó đã  bàn đến đà tiến triển trong lề lối thực hành  bí tích tại Châu Mỹ Latinh kể từ những thời  thuộc địa cho đến ngày nay. [91] Và trong  một cách thức nhất quán cũng như hữu ích, tác giả  đã đề cập đến mối quan hệ hỗ tương giữa thần  học và nhu cầu mục vụ, giữa nhân chủng học và  các bí tích -- được hiểu như là những phương cách  biểu đạt thực tại rộng lớn của mysterion, và  ý định giải phóng cứu độ phổ quát của Thiên Chúa  -- cũng như giữa các thần học gia hiện đại, giữa  huấn quyền và các vấn đề mục vụ gặp thấy mỗi ngày.

Khoa bí tích học mà González Dorado phác trình, là một  khoa bí tích học đượm nhuần tính chất kitô học và giáo  hội học, biết nhấn mạnh đến các khía cạnh cứu độ học, rồi  lại còn được hoàn chỉnh với phần bàn đến vai trò  của Thánh Linh trong việc cử hành bí tích và  trong đời sống của Giáo hội nữa. [92] Còn các phạm trù cổ điển trong thần học bí tích thì được phong phú hóa với những viễn ảnh mới mẽ;  chẳng hạn, nguyên nhân tính biểu tượng đã được dùng  đến để tìm hiểu về khái niệm ex opere operato.Trong  phần bàn đến con số 7 (bí tích), González Dorado đã  trình bày lập trường cơ bản của mình về cách  hiểu các bí tích như là dịp gặp gỡ có tính cách lễ  mừng của cộng đoàn kitô với Ðức Kitô và với  Giáo hội. Tại Châu Mỹ Latinh ngày nay, "giá trị  chủ yếu" của bí tích nằm ở chỗ có khả  năng làm nên những thời điểm cho "việc rao  truyền Tin Mừng giải phóng;" [93] đó  là ý tưởng và cũng là cách nói thường  đọc thấy suốt trong cuốn sách.

Một trong số các phần nêu lên nhiều sáng kiến và đưa  ra nhiều thách đố nhất, là phần bàn đến các thừa  tác viên theo tư thế là những người phân phát  các mầu nhiệm của Thiên Chúa, và phần đòi hỏi  những người cử hành bí tích, phải sống cuộc  đời làm chứng cho Tin Mừng. "Thừa tác viên"  là một từ ngữ biểu đạt ý niệm quan hệ, bởi  vì là Linh Mục Thượng Tế vĩnh cửu, là tác nhân  của hết mọi bí tích, Ðức Kitô hành động qua trung gian  của cả chức linh mục thừa tác lẫn chức linh  mục chung (giáo dân). González Dorado thích dùng các từ  diakoniaoikonomos để chỉ về các thừa  tác viên bí tích của Ðức Kitô; chức năng số một theo  tác vụ họ đảm nhận, là phối kết các bí tích, cuộc  sống và đời chứng tá thành một. Theo tác giả,  cách hiểu tốt nhất về thuật ngữ cổ điển potestas thường được dùng để nói lên quyền cử hành  bí tích, là hiểu theo ý nghĩa của một thể dạng quyền  hành để phục vụ. [94] Liên quan đến chủ  ý thiết yếu đối với sinh hoạt bí tích, tác giả xác nhận  là quả thật phạm trù "chủ ý có hiệu lực"  nói lên thái độ tôn trọng đối với tự do con người, và  nhấn mạnh rằng "chủ ý" là một hành động  con người có suy nghĩ cân nhắc trước một đối tượng nhất  định. Tác giả nghĩ rằng vấn đề lớn nhất đặt ra cho Châu  Mỹ Latinh ngày nay là tình trạng cắt đứt giữa  đức tin và đời sống, là tình trạng bất nhất giữa  việc tham dự bí tích và thái độ thờ ơ đối với đời  sống đức tin nơi những người tham dự. [95]

Bàn đến các vấn đề đại kết ngày nay, González Dorado  xác nhận bí tích rửa tội quả là một đặc nét chung,  và cho rằng phần lớn những khó khăn liên quan đến  Thánh Thể đều phản ánh những vấn đề sâu rộng hơn  gặp thấy trong lãnh vực chức thánh. Tác giả đã  nhắc đi nhắc lại một chủ đề chính của cuốn sách khẳng  quyết rằng công cuộc đối thoại mấu chốt giữa các giáo  hội phải đối diện không những với các vấn đề bí  tích mà thôi, nhưng còn cả với công tác hoạt động  nhằm tới việc giải phóng những người nghèo  và những người bị áp bức nữa, bởi vì sinh  hoạt bí tích chính là nguồn phát sinh ơn cứu độ giải  phóng phổ quát, tức là cho cả họ nữa.