GIÁO  HỘI  HỌC III

CHƯƠNG 16

NHỮNG THỪA TÁC VỤ KHÁC

NHẬP Ð

Toàn thân Giáo hội là “một tổng thể dịch vụ” (corpus ministeriale), tức là một đoàn hội nhằm vào mục đích phục vụ ï: đối ngoại, Giáo hội phục vụ nhân loại; đối nội, các thành phần phục vụ lẫn nhau. Sứ mạng phục vụ ấy phát sinh từ các bí tích : bí tích Thánh tẩy biến con người thành kitô hữu, thành chi thể của “Tôi tớ Thiên Chúa ” và, bởi thế, cũng trở thành “tôi tớ của con cái Thiên Chúa.” Bí tích Thánh chức biến kitô hữu thành “thừa tác viên” của Giáo hội, đặc trách những nhiệm vụ ủy thác cho “phẩm trật ,” túc là cho giám mục, linh mục và phó tế. Thừa tác vụ “Phêrô” chỉ là một dạng trách vụ độc đáo của chức giám mục: làm giám mục của “tòa đứng đầu” (prima sedes) với một nhiệm vụ đặc thù.

GIÁM MỤC

Các giám mục là những người kế vị các tông đồ trong nhiệm vụ chăm sóc và giám sát một Giáo hội địa phương (x. LG 20). “Nhờ Thánh Thần các ngài đã lãnh nhận, các giám mục trở thành thầy dạy đức tin, chánh tế, chủ chăn thực thụ và chính thức” (CD 2b). [1]

Giám mục làm người đại diện Ðức Kitô (vicarius Christi ) theo hai cung cách: nhờ được kế nhiệm tông đồ , ngài liên kết với Ðức Giêsu lịch sử; và nhờ nhận ơn thánh chức, ngài trở thành hiện thân của “Linh mục Thượng phẩm – Ðức Kitô phục sinh – hằng hiện diện giữa cộng đoàn các tư tế của Ngài, và qua dịch vụ của họ, Ngài rao giảng Lời Thiên Chúa cho các dân nước và không ngừng ban phát các bí tích đức tin cho tín hữu...” (LG 21a).

1. “Giám Mục” Là Một Bí Tích

Không đọc thấy được trong truyền thống một giáo lý dạy rõ về bí tích thánh chức. Thánh Hiêrônimô († 420) nói rằng các giám mục chỉ là linh mục với vinh dự đặc biệt. Vì thế nhiều nhà thần học thời Trung cổ chủ trương giám mục cũng chỉ chịu cùng một bí tích như các linh mục, chứ không phải là một bí tích khác. Công đồng Trêntô đã dạy là giám mục thuộc bậc cao hơn linh mục, nhưng chẳng nói rõ về phương diện nào; chỉ nói là các ngài “có quyền ban bí tích Thêm sức và phong chức thánh” (DS 1777). Bao giờ chức giám mục cũng được ban qua nghi thức “đặt tay.” Vì vậy, nghiên cứu truyền thống sâu xa hơn, thần học đã dần dần đi đến chỗ chấp nhận bí tích tính của nghi thức ấy. Trong tông hiến Sacramentum Ordinis (năm 1947), Ðức Piô XII giải thích rõ về bí tích chức thánh ba bậc, tức là giám mục, linh mục và phó tế (DS 3858). Còn Vaticanô II thì nhấn mạnh như sau: “Thánh Công đồng dạy rằng, khi được tấn phong, các Giám mục nhận lãnh trọn vẹn những gì bí tích Truyền chức thánh thông ban, tức là chức năng mà tập tục phụng vụ của Giáo hội và các thánh Giáo phụ gọi là chức tư tế tối cao, là thực tại tột bậc của tác vụ thánh.” (LG 21b). Giám mục không phải là phần “bổ túc” cho bí tích linh mục. Trong lịch sử, đã có những giáo dân được trực tiếp tấn phong giám mục, mà không phải chịu chức linh mục trước đó. [2]

Bí tích là nguồn gốc của quyền bính giám mục. Do việc chịu bí tích truyền chức và hiệp thông với giám mục đoàn, một kitô hữu trở thành phần tử của giám mục đoàn và, do đó, có nhiệm vụ và trách nhiệm đối với toàn thể Giáo hội.

2. Nhiệm Vụ Phổ Quát

“Tất cả các giám mục , trong tư cách là thành phần của giám mục đoàn kế vị tông đồ đoàn, được thánh hiến không phải chỉ cho một giáo phận nào đó mà thôi, nhưng còn cho phần rỗi của toàn thế giới nữa” (AG 38a; x. LG 23b).

Vì Giáo hội địa phương là “công giáo,” nên giám mục phải biết mở tầm quan tâm của mình rộng ra cho toàn thể Hội thánh, trước hết là đối với sứ mệnh tông đồ, tức là truyền giáo (LG 23c):

“Nhất là giám mục phải lo lắng đến những miền trên thế giới chưa được rao giảng Lời Chúa, hay đặc biệt những miền mà chính vì quá ít linh mục, các kitô hữu đang sống trong nguy cơ xa lìa những huấn giới của đời sống kitô giáo và mất cả đến đức tin” (CD 6)

Nhiệm vụ này đòi hỏi phải dành cho việc truyền giáo đầy đủ nhân sự và phương tiện, và phải luôn luôn phối kết các hoạt động theo đường hướng của Giáo luật chung. [3]

Giám mục cũng có nhiệm vụ cổ vũ niềm hiệp thông với các giám mục khác. Ngày xưa, các giám mục thường gửi cho nhau những bức “thư chúc hòa bình và hiệp thông.” Mỗi giám mục có bổn phận phải quan tâm đến các Giáo hội khác, và góp phần xây dựng để cho đức tin và quy luật chung được bảo toàn. Các ngài thi hành nhiệm vụ này đặc biệt là qua các hội nghị và công đồng. Hiện tại có nhiều tổ chức giúp chu toàn nhiệm vụ này, như: các cơ quan trung ương ở Rôma, các hội đồng giám mục, và bao nhiêu là những ủy ban của Giáo hội đặc trách về các vấn đề tôn giáo hay các công tác từ thiện.

3. Ba Chức Năng Của Ðức Kitô

Truyền thống đã phân biệt ba chức năng trong nhiệm vụ của Ðức Kitô – và cũng là nhiệm vụ của các tông đồ và các vị kế nhiệm các tông đồ –  đó là: tư tế, vương đế và tiên tri (hay là thầy dạy), tương ứng với các tác vụ thực tế là: thánh hóa, quản trị và giáo huấn. Chủ thể điển hình của ba chức năng này là giám mục.

a. Nhiệm Vụ Thánh Hóa

“Nhiệm vụ thánh hóa được thi hành trước hết do các giám mục, vì các ngài là những đại tư tế, những người phân phát chính yếu các mầu nhiệm của Thiên Chúa, và là những vị điều hành, cổ vũ và bảo toàn trọn bộ đời sống phụng vụ trong Giáo hội đã được ủy thác cho các ngài” (Giáo luật, đ 835 §1)

Giám mục trước hết là tư tế, nghĩa là thừa tác viên của Lễ Tạ Ơn: ở đâu giám mục dâng Lễ Tạ Ơn, thì ở đó có một Giáo hội địa phương.

“Mọi việc cử hành hợp pháp Lễ Tạ Ơn đều do giám mục điều khiển, bởi ngài là người đã được trao phó nhiệm vụ dâng lên Thiên Chúa uy linh nền phụng tự kitô giáo, và có phận sự điều hành việc phụng tự đó theo đúng huấn giới của Chúa và lề luật Giáo hội, lề luật mà ngài sẽ dùng phán quyết riêng để quy định thêm cho phù hợp với giáo phận mình” (LG 26b; x. CD 15).

Như xưa Inhaxiô Antiôkia đã nhận định là ngoài giám mục không ai có thể cử hành Thánh Lễ, [4] thì ngày nay cũng không có một buổi cử hành phụng vụ Tạ Ơn nào mà trong đó lại không đọc tên của giám mục. Giám mục điều khiển quy luật phụng vụ trong địa phận.

Giám mục thánh hóa dân Chúa nhờ cầu nguyện, nhờ các bí tích và gương sáng. Ngài cử hành các bí tích, hoặc trực tiếp hoặc nhờ các thừa tác viên khác. Ngài là thừa tác viên độc nhất của bí tích truyền chức thánh, và của việc thánh hiến dầu để dùng trong các bí tích; là thừa tác viên thường quyền của bí tích Thêm sức. Ngài có quyền cử hành bí tích hòa giải trong khắp thế giới và ban năng quyền giải tội cho các linh mục trong địa phận của mình. Là chủ chăn, giám mục được Ðức Kitô ủy thác nhiệm vụ nuôi dưỡng một phần của dân Ngài.

b. Nhiệm Vụ Cai Quản Của Giám Mục

“Là đại diện và là sứ giả của Ðức Kitô, các giám mục điều khiển Giáo hội địa phương Ngài đã ủy thác cho... bằng uy quyền cùng thánh quyền... Quyền bính các ngài đích thân hành sử nhân danh Ðức Kitô là quyền biệt hữu, thông thường và trực tiếp... các giám mục có nhiệm vụ đặt ra các luật lệ cho những người thuộc quyền, xét xử và quy định tất cả những gì liên hệ tới việc phụng tự và việc tông đồ... Không được coi giám mục như là đại diện của giáo hoàng Rôma, vì các ngài thi hành quyền bính riêng của mình và thực sự là thủ lãnh của các dân các ngài cai quản. Vì thế, quyền bính giám mục không bị quyền bính tối cao và phổ quát làm giảm bớt, nhưng trái lại, còn được nâng đỡ, củng cố và bảo đảm” (LG 27ab)

Giám mục là chủ chăn đã được trao cho quyền hành như vừa đề cập đến trên đây: ngài dùng quyền ấy để xây dựng như người tôi tớ. [5] Trong thực tế, việc thi hành quyền ấy còn tùy thuộc nhiều vào giáo hoàng. Giáo luật vẫn còn thiếu sót về điểm này. Thời xưa, giám mục được gọi là “vicarius Christ i,” tước hiệu mà bây giờ chỉ được dành riêng cho một mình giám mục Rôma. 

Cung cách giám mục cai quản không phải là cách kiểu “quân chủ tuyệt đối,” bởi một đàng, quyền giám mục chịu giới hạn do quyền tối cao (giáo hoàng, công đồng chung) và tùy phục Giáo luật; rồi đàng khác, quyền ấy nhằm chủ đích mục vụ và mang tính cách tập đoàn: phía trên, có quan hệ với giám mục đoàn – giáo hoàng, hội đồng giám mục, luật chung – phía dưới thì có những cơ cấu thành lập do luật định hay khuyên, như: công nghị giáo phận, phủ giáo phận, hội đồng linh mục, hội đồng tư vấn, hội đồng mục vụ, v.v.

Các kitô hữu trong địa phận (giáo dân, giáo sĩ, tu sĩ) có bổn phận phải kính trọng giám mục và giữ niềm hiệp thông với ngài. Cắt đứt hiệp thông với giám mục là rơi vào tội phạm ly khai. Giám mục có quyền tuyên kết vạ tuyệt thông, cấm chế, huyền chức và các hình phát khác, vì trong địa phận thẩm phán sơ cấp là giám mục (đ. 1419). Nhưng công đồng Vaticanô II khuyên: “Ðược Cha sai đi cai quản gia đình mình, vị giám mục phải chiêm ngắm gương mẫu Chủ chiên lành; Người đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ...” (LG 27d).

c. Nhiệm Vụ Giáo Huấn

Quyền giáo huấn hay huấn quyền thì khác với quyền tài phẩm. Bởi mục đích của huấn quyền là nhằm bảo toàn chân lý và chuyển truyền chân lý với uy thế. Chân lý này là của Thiên Chúa chứ không phải là của Giáo hội. Vì thế, giáo huấn ấy đòi hỏi người môn đệ phải biết giữ tư thế và ý thức về thân phận của mình: chăm chỉ lắng nghe và ra sức gắn bó với Thầy mình.

Giáo huấn (Magisterium , bởi từ magister = “thầy” mà ra) [6] phát sinh từ nhiệm vụ “tiên tri ,” đặt nền tảng trên lời hứa của Ðức Kitô, và hình thành do sự hiện diện trợ giúp của Thần Khí Ngài (x. Ga 16: 13). Mọi kitô hữu đều được tham dự vào nhiệm vụ này theo những mức độ khác nhau, tùy tư thế của mỗi người trong Giáo hội. Ở đây chỉ xin bàn riêng về nhiệm vụ dạy dỗ của giáo phẩm. Quả vậy, nói đến giáo phẩm là phải nói đến giáo huấn, bởi trong lịch sử cũng như trong thần học, khái niệm “giáo huấn” bao giờ cũng đi đôi với ý niệm “kế nhiệm các tông đồ .” Lý do là vì cộng đồng kitô sống nhờ “giáo lý của các tông đồ” (Cv 2: 42).

Trong lịch sử Giáo hội, đã từng có một cơ cấu giảng dạy giao và bảo toàn chân lý Phúc âm. Chính thế, là Dân Thiên Chúa , Giáo hội phải có một cơ quan để bảo toàn, giải thích, và chuyển truyền những biểu tượng, giáo thuyết, nghi thức, lề luật, và giá trị chung, thì mới có thể triển phát mà không mất đi căn tính. Vì nguồn gốc và cứu cánh của Dân Chúa – Bí tích cúu độ – là siêu nhiên, nên giáo huấn của Giáo hội mang bản chất đặc thù, khác hẳn với lý thuyết của những cơ quan tương tự trong xã hội về mục đích, phương pháp và uy thế. Ðức Kitô là chân lý (x. Ga 14: 6) và Lời Cha Ngài là chân lý để thánh hóa các môn đệ (x. Ga 17: 17). Các môn đệ được sai đi khắp thế giới để loan báo chân lý ấy cho muôn dân được cứu rỗi. Vì thế, thánh Phaolô rao giảng “lời chân lý là Tin mừng cứu độ” (Ep 1: 13), và đã phải chiến đấu để bảo vệ chống lại những ai bóp méo chân lý đó (x. Gl 2: 5). Giáo huấn của Giáo hội cũng không nhằm một mục đích nào khác ngoài việc phục vụ và bảo vệ chân lý ấy (LG 25).

Giáo huấn làm chứng mạnh hơn và hữu hiệu hơn giáo sư, bởi có uy thế do sự việc được chính Thiên Chúa ủy thác, chứ không phải vì dựa vào những lý lẽ vững chắc khả dĩ thu phục người nghe. Ðón nhận chứng từ ấy là được ở lãnh vực cứu rỗi; còn từ chối thì sẽ bị kết án (x. Mc 16: 16). Cả đến một thiên thần cũng không thể thay đổi chân lý ấy được (x. Gl 1: 8). Các tông đồ đã tỏ ra rất nghiêm khắc đối với những ai không gìn giữ chân lý của Phúc âm. [7] Các Giáo phụ và các công đồng cũng đã giữ thái độ nghiêm cách như vậy đối với những lý thuyết lạc giáo.

a.) Phận Sự Của Huấn quyền

Bổn phận căn bản của nhiệm vụ giáo huấn là bảo toàn, giải thích, xác định, loan báo và chuyển truyền chân lý Ðức Kitô đã trao phó cho Giáo hội. Giáo phẩm phải “thận trọng trong lời giảng dạy” để “bảo toàn giáo lý đã được giao phó” (1Tm 4: 14; 6: 20) ngõ hầu truyền lại nguyên vẹn cho “những người có khả năng dạy cho người khác” (2Tm 2: 2).

Giáo hội là thầy giảng dạy, trước hết là cho các kitô hữu, rồi kế đến là cho muôn dân như Ðức Kitô đã truyền chỉ (x. Mt 28: 19-20). Ðối với các tín hữu, thì Giáo hội dạy dỗ giáo lý; còn đối với lương dân, thì Giáo hội loan báo Tin mừng và mời gọi đón nhận Lời Chúa.

Chân lý của Ðức Kitô vốn kết tinh trong Kinh Thánh . Mà vì nội dung Kinh Thánh lắm lúc tỏ ra là rất phức tạp khó hiểu, cho nên cần phải được giải thích, và phải giải cho có uy thế cũng như chính xác; đó là chức năng và là sứ mạng của huấn quyền:

“Nhiệm vụ chính thức giải thích Lời Chúa viết thành văn hay lưu truyền, chỉ được ủy thác cho một mình huấn quyền sống động của Giáo hội, và Giáo hội thi hành quyền này nhân danh Chúa Giêsu Kitô. Tuy nhiên, quyền giáo huấn ấy không vượt trổi trên Lời Chúa, trái lại, khiêm nhu phục vụ Lời Chúa qua việc đơn thuần giảng dạy những gì đã được truyền lại” (DV 10b).

Một giả thuyết sai lạc có thể làm cho đức tin của nhiều người lâm nguy. Huấn quyền có bổn phận phải giải rõ chân lý và kết án lạc giáo nhằm soi sáng và củng cố lòng tin của tín hữu. Lạc giáo lại còn gây chia rẽ. Thánh Phaolô đã từng lên tiếng mạnh mẽ cảnh cáo các tín hữu (x. 1Cr 11: 18-19). Thư thứ hai của thánh Phêrô gắt gao kết án những giáo thuyết sai lệch ấy (x. 2Pr 2: 1-4, 9-10). Các Giáo phụ cũng thường xuyên nhắc nhở các tín hữu phải lo cảnh giác với các thứ lạc giáo. Inhaxiô Antiôkia cảnh báo cho Giáo hội Trallia về lạc giáo ảo thân thuyết; [8] còn Irênêô thành Lyon thì lo soạn cuốn Chống các lạc giáo, cho rằng người rối đạo chỉ đi theo ý kiến của mình thay vì nghe theo Lời Thiên Chúa. [9] Muốn giữ đức tin chính thực thì phải sống trong Giáo hội hiệp nhất. [10] Vì thế – theo thánh Ambrôsiô – kẻ rối đạo là người ghét bỏ chân lý và đức tin. Lịch sử hình thành các tín điều là một thiên sử chiến đấu với lạc giáo. Lúc đầu đã phải nêu rõ những tín quy hay kinh tin kính; rồi tiếp đó, các công đồng đã phải định tín các chân lý bằng những công thức chính xác. Muốn cho con người hiểu được, thì chân lý phải mặc lấy hình thức mệnh đề, nhất là khi cần được phổ biến rộng trong cộng đồng lớn. Và cũng do vậy mà cần phải tái tục mãi công việc giải thích các tín điều, bởi lẽ: thứ nhất, nội dung là mầu nhiệm, tất không công thức nào có thể chứa đựng hết và diễn đạt trọn vẹn được; thứ hai, vì ảnh hưởng của văn hóa trên những phạm trù dùng để định tín giáo lý; thứ ba, vì Giáo hội phải dùng đến một ngôn ngữ loài người với nhiều giới hạn và biến đổi theo dòng thời gian, rồi vấn đề lại càng trở thành phức tạp hơn nữa khi cần phải dịch ra những thứ tiếng khác; và thêm vào đó, khi một điểm giáo lý nói chung được hiểu rõ thêm thì cũng có thể giúp cho việc hiểu tín điều khác chính xác hơn. Ý thức rõ về tính cách lịch sử thường chuyển biến của mọi thực tại văn hóa, thần học đã biết giữ thái độ dè dặt đối với ý nghĩa của các mêïnh đề ấy. Chân lý của các tín điều là quy phạm của lòng tin các tín hữu, nhưng vẫn còn có thể được đào sâu hơn, hiểu rõ hơn, lĩnh hội đầy đủ hơn. [11]

b). Phẩm Trật Tính Của Huấn Quyền

Như Giáo hội gồm có những thành viên khác nhau, với những đoàn sủng và trách nhiệm khác nhau, thì huấn quyền cũng vậy: quả là có một phẩm trật trách nhiệm trong tác vụ giảng dạy chân lý Phúc âm. Ðó là giáo thuyết của Vaticanô I (DS 3074) cũng như của Vaticanô II (LG 25).

Chủ thể của huấn quyền tối cao là giám mục đoàn , trong tư cách là đoàn thể kế nhiệm tông đồ đoàn. Trong giám mục đoàn, là người kế vị Phêrô, giám mục Rôma có địa vị đặc thù. Vì vậy, theo LG 25, huấn quyền có thể được thực thi qua ba cấp giáo huấn khác nhau:

° Giáo huấn của các giám mục rải rác khắp thế giới, thông hiệp với nhau và với giám mục Rôma.

° Giáo huấn của giám mục đoàn họp thành công đồng chung.

° Giáo huấn của giáo hoàng như là đầu của tập thể các giám mục.

 Giáo huấn này có thể được biểu trình qua hai dạng sau đây:

  — Giáo huấn chính thực và bất khả ngộ, hoặc

  — Giáo huấn chính thực và thông thường.

Huấn quyền bất khả ngộ có thể được thực thi qua ba dạng cách như sau: [12]

1. Ðặc huấn của công đồng chung, tức là giáo huấn giám mục đoàn long trọng ban bố khi họp công đồng , và chung quyết coi đó là chân lý mạc khải của kho tàng đức tin; nói cách khác: đó là chân lý cần phải tin (LG 25). [13]

2. Ðặc huấn của giáo hoàng, tức là giáo huấn mà ex cathedra (từ thượng tòa, dùng quyền tối thượng) giáo hoàng ban bố hay minh định một cách chính thức và long trọng, coi đó là chân lý mọi tín hữu phải tin. [14] Công đồng Vaticanô I minh định rằng định tín của giáo hoàng thì “bất khả biến dịch do tự nó (ex sese), chứ không do bởi sự việc Giáo hội ưng thuận” (DS 3074). Ðiều đó muốn nói rằng chân lý của mệnh đề được định tín không tùy thuộc vào một điều kiện pháp lý – như phái Pháp giáo chủ trương – là phải có Giáo hội ưng thuận trước đã, thì mới được chính thức chấp nhận. Nhưng bao giờ giáo hoàng cũng căn cứ vào đức tin của Giáo hội.

3. Thường huấn phổ quát, là giáo huấn mà hết thảy các giám mục hiệp thông với nhau trong khắp thế giới, liên tục truyền dạy về một chân lý đức tin hoặc luân lý, xác tín là mình rao giảng một chân lý thuộc kho tàng mạc khải.

Huấn quyền chính thực và thông thường là quyền giảng dạy mà giáo hoàng hoặc mỗi giám mục hành sử trong hoàn cảnh hay cuộc sống thường nhật; đặc tính của huấn quyền này là “chính thực,” nghĩa là nhân danh Ðức Kitô (LG 25). Mục đích là để dẫn dắt Dân Chúa trong đời sống đạo hằng ngày. Giáo huấn của huấn quyền này có thể thay đổi tùy hoàn cảnh.

c). Ðối Tượng Của Huấn Quyền

Phạm vi của tác vụ giáo huấn là Lời Chúa, tức là giáo lý đức tin và phong hóa (DS 3018). Thần học phân biệt hai loại đối tượng: trực tiếp và gián tiếp. Ðối tượng trực tiếp là những điều Thiên Chúa đã mạc khải để cứu rỗi loài người (DV 10); còn đối tượng gián tiếp là những chân lý dù không thuộc mạc khải nhưng lại liên hệ chặt chẽ với những mầu nhiệm đức tin đến nỗi lý trí con người cần dùng đến để giải nghĩa Lời Chúa (x. DS 3015, 3017); chẳng hạn như là những “khai đoạn đức tin (praeambula fidei ), nhiều chân lý của “luật tự nhiên,” hoặc là những “tín kiện” (facta dogmatica ). [15]

Tín hữu có bổn phận phải đón nhận giáo huấn của huấn quyền với những mức độ xác tín hơn kém tùy bản chất của sự việc. [16] Phải chấp nhận với đức tin thần khởi những chân lý Thiên Chúa mạc khải và Giáo hội long trọng loan bố hoặc huấn quyền thông thường xưa nay giảng dạy như giáo lý phải tin. [17] Phải lấy lòng phục tùng mà kiên quyết đón nhận những giáo thuyết huấn quyền dạy, dùø nhiều điều còn có thể thay đổi; thật ra đa số các văn kiện giáo huấn ấy chỉ có tính cách kỷ luật và mục vụ.

d). Vấn Nạn Thời Nay Ðặt Cho Huấn Quyền

Văn hóa thời nay thường thẳng thừng đặt vấn đề cho hết mọi thứ “quyền bính .” Ðặc biệt hiện rõ trong lãnh vực trí thức là não trạng phê bình thực chứng, tức là không chịu chấp nhận những gì mình không “chứng minh” được, và chỉ một khi đã tìm thấy những lý chứng thuyết phục được mình thì mới chấp nhận. Trong Kitô giáo, phía Tin lành chỉ nhận một mình Kinh Thánh là có uy thế, và cho rằng Giáo hội (cả đến các giáo hoàng) đã từng sai lầm nặng nề; dù vậy, Thánh Thần hằng gìn giữ Giáo hội trong chân lý căn bản của Phúc âm. Tin lành cũng nghĩ rằng giáo lý công giáo đặt giáo quyền trên Lời Chúa.

Thần học công giáo xác định rõ là huấn quyền không những không vượt trổi trên Lời Chúa, mà còn làm công cụ phục vụ Lời Chúa (DV 10b). Như đã hợp tác để xác định danh mục các sách chính lục Kinh Thánh, thì huấn quyền cũng có nhiệm vụ chủ chốt trong việc giải thích và truyền lưu Kinh Thánh. Giáo hội tông truyền đã từng hiểu như thế. Quả vậy, Kinh Thánh, Truyền thống và Huấn quyền phối kết với nhau để làm nên một tổng thể duy nhất bảo tòan kho tàng Lời Chúa (x. DV 10a). [18]

Thần học công giáo thường đặt câu hỏi về mối liên hệ giữa huấn quyền và dân Chúa. Ðặc ân “bất khả ngộ ” là một khía cạnh trong “bất khả khuyết tính” của Giáo hội. Ðiều đó muốn nói rằng đặc ân ấy là của toàn thể Dân Chúa. [19] Vì thế, Vaticanô II dạy rằng xét theo tư thế là toàn thể, Dân Chúa “không thể sai lầm trong đức tin” (LG 12a). Vì vậy, thần học đặt câu hỏi: Dân Chúa và huấn quyền có thể có những lập trường tương khắc nhau không? Vaticanô II trả lời là không, ít là trong những vấn đề đã được định tín (LG 25c). Nhưng đối với những vấn đề thuộc giáo huấn thường, dĩ nhiên là có nhiều bất đồng ý kiến trong Giáo hội như thường thấy. Hẳn là huấn quyền cần phải lưu ý nhiều hơn đến các luồng “dư luận” trong Giáo hội.

Như thế là thần học muốn ám chỉ đến thái độ tiếp nhận (reception ) đối với một giáo lý: Dân Chúa có thể tiếp nhận hay từ chối một giáo huấn… [20] Thông điệp Humanae vitae của Ðức Phaolô VI là một trường hợp điển hình: một số điểm trong văn kiện này đã gây nhiều phản ứng sôi nổi. Một số vị trong giám mục đoàøn đã cố giải thích cho dễ hiểu hơn, nhưng rốt cuộc rồi cũng chấp nhận thông điệp. Dù sao thì cũng chưa chắc hẳn là học thuyết ấy bất khả ngộ. [21]

Một vấn đề đặc biệt khác cũng đã được đặt ra: đó là vấn đề “giáo huấn của các nhà thần học .” [22] Trong lịch sử Giáo hội, giáo lý đã được các học giả giảng dạy và giải thích. Thời xưa, đa số các học giả này là giám mục, chẳng hạn như các Giáo phụ, nhưng cũng có linh mục (Oârigênê , Tertullianô …), hoặc phó tế (Êphrên …) và cả giáo dân (Giustinô …); tất cả đều đã hưởng uy thế tương tự như nhau. Ngày nay, ai cũng ý thức được rằng giải thấu suốt và giải thích chính xác những văn kiện cổ xưa là việc khó, đòi hỏi nhiều tài năng và học tập: các chuyên viên này là những thần học gia. [23] Là tín hữu, nhà thần học cố công tìm hiểu về đức tin của mình cho sâu xa hơn, bằng cách dựa vào trí lực và các ngành khoa học; đó là thừa tác vụ phục vụ chân lý. Trong thời gian giữa hai công đồng Vaticanô I và Vaticanô II, thần học công giáo đã chú tâm quá nhiều đến việc bào chữa cho giáo lý của huấn quyền; vì thế mang quá nặng tính cách biện giáo. Vaticanô II nhận là khoa học phải có tự do để nghiên cứu sự thật (GS 36), và mời gọi các thần học gia “dùng phương pháp và đòi hỏi của ngành khoa học mình mà không ngừng gia công tìm kiếm phương cách thích hợp nhất đối với việc chuyển thông giáo lý cho con người thời mình, bởi vì kho tàng hay những chân lý của chính đức tin là một chuyện, còn cách thức diễn đạt các chân lý ấy thì lại là một chuyện khác...” (GS 62b). Năm 1976, Uỷ ban thần học quốc tế đã đề xuất 12 luận đề về tương quan giữa huấn quyền và các nhà thần học; rồi đến năm 1990, Bộ Giáo Lý Ðức Tin đã công bố một văn kiện về ơn gọi trong Giáo hội của các nhà thần học. [24] Thần học gia nhận mạc khải (Kinh Thánh) làm quy phạm chuẩn tắc (norma normans ), và huấn quyền (nhất là các công đồng chung) làm quy phạm quy định (norma normata), hướng dẫn mình trên đường tìm về với chân lý. Thần học gia không phải là một học giả “tự trị,” nghiên cứu theo sở thích và đường lối riêng của mình, mà là một tín hữu đang sống và sinh hoạt trong truyền thống sinh động của Giáo hội. Thần học và huấn quyền hợp tác với nhau để phục vụ cùng một chân lý duy nhất là Ðức Kitô. Các công đồng thường mời các nhà thần học đến tham dự trong tư cách là chuyên viên; còn phẩm trật thì bổ nhiệm những giáo sư thần học, và một cách nào đó, họ giảng dạy nhân danh Giáo hội. [25] Thần học không sản xuất chân lý, nhưng là ra sức tìm hiểu và thích nghi chân lý mình tin với hoàn cảnh mình sống; ra sức suy tư về nền tảng và lý do của niềm tin, về ý nghĩa thích đáng của giáo điều, để làm sao đức tin và văn hóa có thể hài hòa hợp tác với nhau cũng như tương tác giúp nhau, v.v. Thần học có tự do để nghiên cứu, nhưng đồng thời cũng phải đảm nhận trách nhiệm đối với anh em, có thế thì mới thực sự được chân lý giải phóng (x. Ga 8: 32). Thần học đề nghị những giả thuyết, còn huấn quyền thì có bổn phận xét xem chúng có ăn khớp với đức tin của Giáo hội hay không. Ðôi lúc cũng có thể xảy ra những trường hợp khó xử đối với nhà thần học: hoặc là trung thực với lương tâm hoặc là trung thành với giáo quyền; thế lưỡng nan này có thể được giải gỡ nếu biết đối thoại khiêm nhường, vì xác tín rằng mầu nhiệm thì lớn hơn cá nhân mình, và lợi ích của hiệp thông thì quý hơn “chân lý” của quan điểm riêng mình; ngoài ra, sớm muộn gì rồi sự thật cũng sẽ thắng cuộc. Nếu có những lý lẽ thực sự vững chắc, thì nhà thần học có thể bất đồng ý kiến với giáo quyền trong những vấn đề không thuộc phạm vi tín điều. Lịch sử quả cho thấy là đã có những trường hợp như thế, và đã có nhiều lần giáo quyền thay đổi lập trường. [26] Cả huấn quyền lẫn thần học đều ý thức rõ là đa số những quyết định trong Giáo hội chỉ có tính cách tạm thời. Hơn nữa các tín điều lại được minh định với những phạm trù tương đối, những phạm trù dựa vào bằng cứ triết lý hoặc chú giải có lẽ không mấy chính xác, v.v. Hay là dù đồng ý với nội dung, một người có thể từ chối hình thức, hoặc tính cách hợp thời, v.v... của công thức diễn đạt. Ðể việc hợp tác giữa hai phía được tốt đẹp và hữu hiệu, mang lại lợi ích to lớn hơn cho toàn thể Giáo hội thì – như ý kiến đề xuất và được nhiều giới tán đồng – phía huấn quyền: nên thu nhỏ lại con số các văn kiện ban bố, và nên tiếp xúc thường xuyên hơn với các giới thần học và chú giải; còn phía các nhà thần học: phải biết giữ thái độ tích cực hơn đối với các tuyên ngôn của huấn quyền, và tránh những tranh luận gây hại đến niềm hiệp nhất của Dân Chúa. [27]

THỪA TÁC VỤ CỦA LINH MỤC

Thần học thời mới xếp hạng linh mục vào bậc hai của phẩm trật. Kế tiếp các tông đồ, Giáo hội sơ khai đã có những episkopoipresbyteroi, nhưng không phân biệt rõ nhiệm vụ của mỗi thứ vị; rồi sau đó, dần dần hai tước hiệu ấy được dành riêng cho hai nhiệm vụ khác nhau: các giám mục và những phụ tá, là các linh mục (PO 2b). Lúc đầu, hai thứ vị ấy chủ tọa cộng đoàn và, vì thế, cả Lễ Tạ Ơn. [28] Sau khi Giáo hội được tự do (thế kỷ 4), vai trò của linh mục quan trọng hơn vì họ phụ trách những cộng đồng riêng biệt (nhất là ở thôn quê). Do đó dần dần chức linh mục được quan niệm rõ hơn theo bản chất tư tế, qua những phạm trù tư tế của Cựu Ước hiểu theo ý nghĩa của ánh sáng mới. [29] Linh mục được các Giáo phụ gọi là “tư tế bậc nhì.”

Dựa theo Rm 15: 16, Vaticanô II đã cố nêu bật khía cạnh dịch vụ hơn là nhấn mạnh đến phụng vụ tính của chức linh mục. [30] Linh mục liên kết với Ðức Kitô bằng hai cách: cách lịch sử với việc kế nhiệm trong thừa tác vụ, và cách bí tích với việc “Chính Thiên Chúa hiến thánh họ qua thừa tác vụ của giám mục” (PO 5a).

“Linh mục” là một bí tích, bí tích thánh chức, có sức năng biến một con người – với ấn tích không tẩy xóa được, như Truyền thống vẫn dạy, [31] – thành người được thông phần vào chức thượng tế duy nhất của Ðức Kitô (LG 28a). Ấn tích là đoàn sủng nhờ đó, khi cử hành các bí tích, linh mục có khả năng hành động trong chính bản thân Ðức Kitô và thay mặt Dân Chúa:

“Linh mục, hiện thân Chúa Kitô, chủ tọa cộng đoàn, dâng những lời kinh lên Thiên Chúa nhân danh toàn thể dân thánh và mọi người tham dự” (SC 33b).

Vai trò chính yếu của linh mục, “Cha và Thầy,” là chủ tọa: chủ tọa một cộng đoàn trong Giáo hội địa phương, hầu đoàn họp các tín hữu thành một thân thể hữu hình; đó là điều thể hiện rõ trong Lễ Tạ Ơn của họ đạo. Chủ tọa bàn Lời và bàn Bánh, linh mục phân phát Tin mừng và Thánh thể:

“Dân Chúa được đoàn tụ trước hết là nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống; Lời này phải được đạêc biệt tìm thấy nơi miệng lưỡi các linh mục” (PO 4a). “Phép Thánh Thể là nguồn mạch và là tuyệt định của toàn bộ công cuộc rao giảng Phúc âm” (5b).

Linh mục là thừa tác viên đặc vụ của Thêm sức và nghi thức cung hiến nơi thánh, và là thừa tác viên thường vụ của các Phép lành và các bí tích khác, trừ hai bí tích Chức thánh và Hôn phối. [32]

Nhưng linh mục không phải là viên chức được trực tiếp ủy thác một nhiệm vụ “độc lập,” song là “hợp tác viên của chức giám mục:”

“Mọi linh mục, hiệp nhất với hàng giám mục, đều tham dự vào cùng một chức tư tế và thừa tác vụ duy nhất của Chúa Kitô; chính tính cách duy nhất của việc thánh hiến và sứ mệnh đòi phải có sự hiệp thông phẩm trật giữa các ngài và hàng giám mục… vì thế, các giám mục phải coi các linh mục như những trợ tá và cố vấn cần thiết trong thừa tác vụ, cũng như trong chức vụ dạy dỗ, thánh hóa và chăn dắt dân Chúa” (PO 7a)

Lễ Tạ Ơn là gốc rễ của sức sống và mối hiệp nhất trong cộng đoàn, mối hiệp nhất mà linh mục có bổn phận bảo toàn và cổ vũ:

“Không một cộng đoàn kitô hữu nào được thiết lập mà lại không đặt nền tảng và trọng tâm vào nơi việc cử hành Phép Thánh Thể chí thánh: cho nên, mọi công tác giáo dục về tinh thần cộng đoàn phải được bắt đầu từ đó” (PO 6e; 5c)

Là sứ giả tiên tri, linh mục hằng gióng lên lời thách đố nhằm thúc đẩy kitô hữu dấn thân vào việc đổi mới xã hội, vì “không thể nào Giáo hội lại thu hẹp sứ mạng mình vào trong lãnh vực đơn thuần tôn giáo, và bỏ mặc những vấn đề khác trong thế giới.” [33]

Không chỉ cử hành Thánh lễ, linh mục còn phải ra sức biến cộng đoàn thành lễ thánh tạ ơn Chúa:

“Vì được thông dự vào chức vụ của các tông đồ theo phận sự mình, nên các linh mục được Thiên Chúa ban ơn sủng để làm thừa tác viên của Chúa Giêsu Kitô giữa muôn dân, và thi hành thánh chức rao giảng Phúc âm để muôn dân trở nên hiến lễ đẹp lòng Chúa, và được Thánh Thần thánh hóa” (PO 2d).

Vì chức linh mục không chỉ đơn thuần phát sinh từ buổi tiệc ly của Ðức Giêsu, mà còn từ toàn bộ thừa tác vụ của Ngài nữa, nên linh mục là thừa tác viên chủ tọa cộng đoàn thừa tác; và bởi ý thức mình cũng là môn đệ của Ngài, rập khuôn theo mẫu gương Ngài, linh mục cố khuyến khích mọi thành phần trong cộng đoàn đóng giữ một vai trò tích cực, cũng như biết nhường bước cho tài năng và đoàn sủng của người khác, chứ không làm tất cả một mình (PO 9).

Các linh mục làm thành một đoàn thể chung quanh giám mục (Presbyterium ). Trong Giáo hội sơ khai đã từng thấy có những trưởng lão đoàn; ngày nay, linh mục đoàn cũng hiện diện khắp nơi trong tinh thần huynh đệ và tương trợ (LG 8c; PO 8c). [34]

CÁC PHÓ TẾ

“Ở bậc thấp hơn trong hàng giáo phẩm thì có các phó tế , là những người đã được đặt tay không phải để lãnh nhận chức vụ linh mục, nhưng là để phục vụ. Thực vậy, được ân sủng bí tích bồi bổ, các phó tế phục vụ dân Thiên Chúa qua việc phụng vụ, giảng dạy và bác ái, trong niềm hiệp thông với giám mục và linh mục đoàn” (LG 29a).

Chức phó tế là bậc ba của phẩm trật “theo thần luật” (DS 1776, 3859-60). Trong Pl 1: 1, thánh Phaolô ám chỉ đến các vị, và trong 1Tm 3: 8-13, ngài phác tả những đặc nét của tư cách các vị. Bảy vị mà Cv 6: 1-6 nói đến, được gọi là diakónoi, nhưng chưa hẳn là những phó tế theo nghĩa của ngày nay. Trong những thế kỷ đầu, các phó tế đã có ảnh hưởng lớn trong Giáo hội, đến độ nhiều nơi đã đặt họ trước cả các linh mục. Từ thế kỷ 4-5, khi mà ý nghĩa của Thánh Thể càng được nêu bật, thì chức linh mục cũng càng được đánh giá cao, và uy thế của các phó tế cũng giảm dần. [35]

“Phó tế” là bí tích thông ban và lãnh nhận qua nghi thức đặt tay có từ thời các tông đồ (x. Cv 6: 6). Nhiệm vụ chính của chức phó tế là phục vụ; từ điákonos (La ngữ gọi là minister) có nghĩa là tôi tớ, người hầu bàn phụ việc. Trong Giáo hội, phó tế phụ trách công tác từ thiện hoặc quản trị tài sản. Vì ở thời Trung cổ, công tác từ thiện được các đan viện đảm nhận, thế nên vai trò của phó tế cũng thu hẹp vào lãnh vực hầu như đơn thuần phụng vụ, như tên gọi “phó teá”của tiếng Việt cho thấy rõ. Rồi dần dần chức phó tế trở thành một bực thang trên đường tiến lên linh mục. Như vậy, từ thế kỷ 5 về sau, bậc phó tế vĩnh viễn đã biến mất ở Tây phương.

Công đồng Vaticanô II đã quyết định hồi phục chức phó tế vĩnh viễn trong Giáo hội công giáo Latinh (LG 29b), cũng như Ðông phương (OE 17), và Ðức Phaolô VI đã thực thi quyết định ấy. Hiện nay, trong Giáo hội công giáo có hai loại phó tế: “vĩnh viễn” và “chuyển tiếp” (đang trên đường tiến đến chức linh mục). Là giáo sĩ , phó tế phải nhập tịch vào một địa phận (đ 266 §1)

Phó tế tiếp tục công tác phục vụ Ðức Kitô đã làm cho dân chúng. [36] Trong nhiều thế kỷ, các tu sĩ đã đảm nhận dịch vụ ấy; nhưng ngay từ đầu, Giáo hội vẫn có một chức thánh với một đoàn sủng đặc thù để chu toàn dịch vụ ấy. Gắn liền với chức phó tế là những dịch vụ không cần đến ấn tích của chức linh mục, chẳng hạn như công việc hành chánh tư pháp và quản lý, tác vụ giảng dạy giáo lý, khuyên dẫn thiêng liêng, v.v. và cả đến công tác chính thức giữ vai quản nhiệm của họ đạo (đ 517 §2).

Trong phụng vụ, phó tế hành sử năng quyền của thánh chức mình: trong tư thế là thừa tác viên thường vụ, phó tế cử hành bí tích Thánh tẩy (đ 861 §1), phân phát Thánh Thể, công bố Phúc âm và tuyên giảng Lời Chúa (đ 767 §1). Phó tế cũng có thể chủ tọa Hôn phối và phụng vụ an táng. [37]

NỮ PHÓ TẾ

Thư Rôma – Rm 16: 1 – nói về bà Phêbê như là điákonos (trợ tá), và khi đề cập đến các phó tế, 1Tm 3: 11 cũng nói về các “phụ nữ” với những đức tính cần phải có... làm như họ là phó tế hay ứng viên vào chức phó tế; nhưng có lẽ họ chỉ là những trợ tá hoặc phu nhân của các trợ tá. Sử gia Plinius (ngoại giáo, thế kỷ 2) cho biết là trong Giáo hội Kitô, đã có những ministrae (nữ trợ tá). [38] Thế kỷ 3, Sách Didascalia Apostolorum mô tả nghi thức phong chức nữ phó tế với việc đặt tay, và công đồng Calcêđônia (năm 451) xác định về một vài chi tiết thời đầu Giáo hội (đ. 40). Còn công đồng Orange (năm 441) thì cấm phong chức cho phụ nữ làm trợ tá. Bên Ðông phương, các nữ trợ tá như thế biến mất hẳn từ thế kỷ 11.

Vai trò của chức trợ tá này quả là quan trọng đối với công tác mục vụ bên cạnh nữ giới trong Giáo hội, đặc biệt là để chuẩn bị họ chịu phép Rửa và trong chính phụng vụ Thánh tẩy (như nghi thức xức dầu phụ nữ). Nhiều dịch vụ tương tự hiện đang tiến hành qua hoạt động của các nữ tu ngày nay. Năm 1976, Tòa thánh tuyên bố là các phụ nữ không thể được nhận vào chức linh mục; nhưng lại không nói gì về chức phó tế. [39]

THỪA TÁC VỤ GIÁO DÂN

Ở đây, từ “giáo dân ” mang ý nghĩa chỉ về những kitô hữu không thuộc hàng giáo sĩ hay tu sĩ (LG 31a). Trong bản dịch Kinh Thánh LXX , danh từ Hy lạp Laós (“dân”) được dùng để chỉ các tín hữu Ítraen nói chung, và Giáo hội đã dùng từ này để chỉ các tín hữu không chịu chức thánh. Vaticanô II phân biệt giáo dân với giáo sĩ và tu sĩ, và dành chương 4 của Hiến chế tín lý về Giáo hội và một văn kiện riêng khác, tức là Sắc lệnh về tông đồ giáo dân, để bàn về tư thế và hoạt động của giới giáo dân ở trong Giáo hội (AA).

Thời xưa, hầu như đại đa số dân chúng đều mù chữ, ít học, và giới giáo sĩ lại thường gồm những thành phần có học hay trí thức, thế nên, giới giáo dân chỉ đóng giữ một vai trò thụ động, và được gọi là “Giáo hội thụ huấn ” tương ứng với “Giáo hội chủ huấn ” là phẩm trật . [40] Vaticanô II đã tận gốc đổi mới quan niệm này. Là “Dân Thiên Chúa,” giáo dân đã “nhận chức tư tế thánh, nhờ đó, qua mọi hoạt động của con người kitô, dâng hy tế thiêng liêng và rao truyền những kỳ công của Thiên Chúa” (LG 10a). Không còn là người phàm, mà là người được thánh hiến, là nền tảng của Dân Thiên Chúa, là chi thể trong thân mình Ðức Kitô, người kitô quả là khí cụ để cứu rỗi nhân loại. [41]

Vì đã lãnh nhận Thánh Thần và ấn tích Phép Rửa, giáo dân có khả năng và nhiệm vụ thông truyền Tin mừng, mở rộng Nước Chúa, cử hành các bí tích Rửa tội và Hôn phối, cũng như chủ động tham dự vào phụng vụ của Giáo hội (LG 11).

“Làm nên ‘một con người mầu nhiệm duy nhất’ với Chúa Kitô là Ðầu của mình, Giáo hội hành động trong các bí tích như ‘một cộng đoàn tư tế,’ ‘được cấu trúc như một cơ thể’: Nhờ phép Rửa tội và phép Thêm sức, dân tộc tư tế trở nên xứng hợp để cử hành Phụng vụ: đàng khác, một số tín hữu ‘có chức thánh, đã được đặt lên nhân danh Chúa Kitô để chăn nuôi Giáo hội bằng Lời và ân sủng của Thiên Chúa.” [42]

Thừa tác vụ đặc thù của giáo dân là “Kitô hóa thực tại trần gian:”

“Thiên Chúa kêu gọi giáo dân để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc âm, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của mình; và như thế với lòng tin cậy mến sáng ngời và nhất là với bằng chứng đời sống, họ tỏ lộ Chúa Kitô cho kẻ khác, vì thế họ có nhiệm vụ đặc biệt là soi sáng và xếp đặt những thực tại trần gian có liên hệ mật thiết với họ, để chúng không ngừng triển phát và bành trướng theo thánh ý Chúa Kitô, hầu ca tụng Ðấng Tạo Hóa và Ðấng Cứu Ðộ” (LG 31).

Thế nên, tìm giải đáp cho những vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa, v.v... không phải là chuyện của giáo phẩm nhưng là của giáo dân. Chẳng thế mà các tác giả nói về một dạng thừa tác vụ có thể coi như là mới được ý thức rõ hơn: thừa tác vụ chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, phát triển, trị liệu, v.v.

Trong Giáo hội, Thần Khí ban phát ân sủng tùy ý Ngài làm cho “người kitô có khả năng và sẵn lòng đảm nhận công việc và nhiệm vụ khác nhau nhằm mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Giáo hội…” (LG 12b). Giáo dân có quyền – và không cần phải xin phép – để làm việc tông đồ. Người kitô được thông phần vào nhiệm vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Ðức Kitô (LG 34), chứ không phải thông phần vào nhiệm vụ của phẩm trật. Thế nên, mọi giáo dân đều có trách nhiệm đối với Giáo hội, để gìn giữ những giá trị công giáo và phát triển “Nhà Chúa.” Trong lịch sử, nhiều giáo dân đã sáng lập những cộng đồng kitô giáo, loan báo Tin mừng, và làm chứng cho Chúa ở giữa thế gian (x. 1Pr 2: 9; Rm 16: 1-16; AA 3). [43]

Trong Giáo hội của tương lai, các giáo dân phải giữ một vai trò tích cực hơn; có người còn cho rằng cần phải giảm bớt vai trò của giáo sĩ và tăng cường trách nhiêïm của giáo dân. [ 44] Bộ Giáo luật mới liệt kê nhiều nhiệm vụ giáo dân có thể đảm trách và thi hành: không chỉ là tác vụ giúp lễ và đọc sách trong phụng vụ (đ 230), mà còn giảng Lời Chúa (trừ ra bài giảng sau Phúc âm (đ 776; 762.1). Giáo dân có thể dạy thần học với danh nghĩa chính thức (đ 229.3) và đến một mức nào đó, đảm nhiệm phận vụ chưởng ấn (đ 483.2), lục sự (đ 483.2) và biện lý trong giáo phận (đ 494); có thể làm thẩm phán trong một tòa án tập đoàn (đ 1431.2), cố vấn thẩm phán (đ 1424), chưởng lý và bảo hệ viên (đ 1435); có thể làm kiểm toán viên (đ 1428.2) và thụ ủy (đ 1483). Trong giáo phận, giáo dân có thể làm thành viên của hội đồng kinh tế (đ 492.3) và hội đồng mục vụ (đ 512.1); còn trong họ đạo thì giáo dân có thể phối trí những công tác tông đồ dưới quyền chỉ đạo của cha xứ, và nếu không có linh mục, môït giáo dân có thể phụ trách cả họ đạo (đ 517.2). Giáo dân có thể làm thừa sai (đ 784), làm thừa tác viên ngoại thường của Phép Rửa (đ 861.2), phân phát (đ 910.2) và đặt Mình Thánh (đ 943); giáo dân cũng có thể cử hành phụng vụ hôn phối (đ 1112), an táng và nhiều á bí tích khác (đ 1168).

  Vì chính mình Giáo hội, mọi kitô hữu đều là thừa tác viên với những mức độ trách nhiệm và những phận vụ khác nhau tùy đoàn sủng, tài năng và địa vị trong Giáo hội (AA 2), vì tất cả đều là anh chị em của nhau (x. Mt 23: 8). Giáo dân được mời gọi trở nên thánh và thánh hóa xã hội; họ truyền thụ đức tin cho con cái và xây dựng “Giáo hội tại gia ” (LG 11b). Hợp tác với phẩm trật, giáo dân có thể lãnh nhận một sứ mệnh (LG 33c), mà Vaticanô II gọi là “thừa tác vụ” (SC 29; AG 15i; GE 7a). Tuy nhiên, giáo dân không cần phải được “ủy nhiệm” của phẩm trật để làm việc tông đồ, bởi đã từng nhận được “năng quyền” từ bí tích Thánh tẩy và Thêm sức: “họ có quyền hạn và nhiệm vụ” từ bởi chính Chúa (AA 3a; đ 224). Ðức Kitô thực thi nhiệm vụ ngôn sứ của mình không chỉ qua phẩm trật mà còn qua cả tác vụ của giáo dân nữa, vì “Ngài làm cho họ trở thành chứng nhân, và ban cho họ cả cảm thức đức tin lẫn ơn ngôn ngữ (x. Cv 2: 17-18; Kh 19: 10)” (LG 35a)

 

 


[1] Rahner. K. , Bishops: Their Status and Function, Baltimore: Helicon 1964; Betti, U. , La dottrina sull’episcopato del Concilio Vaticano II, Roma, 1984.

[2] Wood, S. , “The Sacramentality of episcopal consecration” Theol. Stud. 51(1990) 479-496

[3]   Xem Bộ Giám mục, Chỉ Nam cho các Giám Mục, Vaticano 1973.

[4]   Xem Thư gửi Smyrna, 8; PG  5.714.

[5]   Mallet, J.K., (eđ) The Ministry of Governance, (Canon Law Society of America) 1988.

[6]   Boyle, J.P. , Church Teaching Authority, Univ. of Notre Dame Press, 1995; Gaillardetz, R.R. , Teaching with Authority: a theology of the magisterium in the Church, Collegeville, 1997.

[7]   xem Mt 24: 24; Mc 13: 22; 2Cr 11: 13; 1Tm 4: 1t; 2Pr 2: 1; 1Ga 4: 1; 2Ga 10, vv.

[8] Ad Trall. 6.1.

[9] Adv. Haer. 3.12.11tt.

[10] Th. Cyprianô, De catholica Ecclesiae uniate.

[11] Fransen, P.F. , Hermeneutics of the Councils and Other Studies Leuven U.Press 1985.

[12]   Khoản Giáo luật, số 750: “Phải tin nhận với đức tin thần linh và công giáo hết tất cả những gì hàm chứa trong Lời Chúa được ghi chép hay truyền tụng lại, nghĩa là trong kho tàng đức tin đã được ký thác cho Giáo hội; và đồng thời được công bố là đã được Chúa mạc khải do quyền giáo huấn trang trọng, hay quyền giáo huấn thông thường và phổ quát của Giáo hội được biểu lộ qua sự đồng thanh chấp nhận của các tính hữu dưới sự hướng dẫn của quyền giáo huấn. Bởi vậy, mọi người phải xa tránh những giáo thuyết nào trái ngược với những điều phải tin.”

[13] Giáo lý Công Giáo, 88; Bộ Giáo luật, đ 749.

[14] Giao lý số 891; xem tuyên ngôn Mysterium ecclesiae, AAS 65 (1973) 399tt.

[15] Thí dụ: một công đồng thật là công đồng chung đích thực, một giáo hoàng đã được bầu cử cách hợp luật, việc phong thánh, vân vân; xem Giáo lý số 2032-38.

[16] Xem Professio fidei et jusjurandum fidelitatis, AAS 81 (1989) 105

[17] Xem chú thích số 12 trên.

[18] Xem Rahner, K. , “Teaching Authority after the Council” trong Theological Investigations, 9, New York: Crossroad Publ. 1972, 83-100;  “The Dispute Concerning the Church’s Teaching Office” Ibid. 14, 1976, 86-97.

[19] Femiano, S. , Infallibility of the Laity, New York 1967; Congar, Y. , Ministères et communion ecclésiale, Paris: Cerf 1971, trg. 140-165; Sesboưé, B. “Authorité du Magistère et vie ecclésiale” Nouv.Rev.Théol. 93 (1971) 337-373.

[20] Congar, Y. , “La ‘réception’ comme réalité ecclésiologique,” Rev. Scienc. Philo. et Théol., 56(1972) 369-403; Routhier, G. , La Réception d’un concile, Paris: Cerf 1993.

[21] Rahner, K. , “On the Encyclical ‘Humanae vitae’” Theol. Invest. 11, 1974, 263-387; Komonchak, J.A. , “Humanae vitae and Its Reception: Ecclesiological Reflection,” Theol. Stud., 39 (1978) 221-257.

[22] Th. Thôma nói về hai tòa: cathedra pastoraliscathedra magistralis, tức “tòa của các mục tử” và “tòa của các giáo sư” trong Quodlibeta III 9. ad 3; Deschamps, A. , “Théologie et magistère,” Eph.Theol.Lov. 52 (1976) 82-133; Brown, R. , “The Dilemma of the Magisterium vs the Theologians; Debunking Some Fictions,” Chicago Studies 17 (1978) 282-299.

[23] Colombo, G. (ed.), Il teologo, Milano 1989.

[24] Xem  Congrégation pour la Doctrine de la Foi, “La vocation ecclésiale du théologien” DC 72 (1990) 653-670.

[25] “Những người dạy các môn thần học trong bất cứ một học viện cao đẳng nào, đều phải có ủy nhiệm thư của nhà chức trách có thẩm quyền” (đ 812).

[26] Dionne, J.R. , The papacy and the Church: A Study of Praxis and Reception in Ecumenical Perspective, New York: Philosophical Library 1987.

[27] Xem Dulles, A. , The Craft of Theology, New York: Crossroad 1995, đặc biệt ch. 7, 10, 11; Sullivan, Fr. A. , Creative Fidelity, Weighing and interpreting documents of the Magisterium, New York: Paulist P. 1996.

[28] Xem Clemente Epist. Ad Corinthios  90.1;  Ignaxiô Antiokia , Ad Smyrn. 8.1-2; Giustinô , Apologia I, 67. Xem Brown, R. , Priest and Bishop, Mahwak, NJ: Paulist Pr., 1980.

[29] Mohler, J. , The Origins and evolution of the Priesthood, New York: Alba House, 1970; Osborne, K.B. , Priesthood: a history of ordained ministry in the Roman Catholic Church, Paulist Press 1989; Bernier, P. , Ministry in the Church, Mystic, CT: Twenty-Third Publ. 1992, ch. 4.

[30] Denis, Henri , Les Prêtres, Formation, ministère et vie, Unam Sanctam 68, Paris: Cerf 1968.

[31] Giáo lý, 1581; Galot, J. , La nature du caractère sacramentel. Étude de théologie médiévale, Bruges, Gembloux 1956; Legrand, H.-M. , “The ‘indelible’ Character of the Theoloy of Ministry,” trong H. Kung và W. Kasper (eds), The Plurality of Ministries, New York: Herder & Herder 1972.

[32]   Giáo luật, đ. 884 và 1207.

[33]  Phaolô VI , trong Evangelii nuntiandi 34.

[34] Có một vấn đề chúng tôi không có thể bàn luận đây, là vấn đề liên quan đến những “việc phong chức tuyệt đối.” Ðó là trường hợp của các giám mục và linh mục không là “mục tử,” không có “đàn chiên”… như là nhiều vị ở giáo triều Rôma hoặc tu sĩ, đan sĩ, v.v.

[35]  Xem Colson, J. , La fonction du diaconat aux origines de l’Eùglise, Paris 1960.

[36]   Nowell, R. , Ministry of Service, London: Burns & Oates 1968; Shugrue, T. , Service Ministry of Deacons, Washington (Nat. Comm. of Cath. Bish.) 1988; Ziegler, J. , Let them anoint the sick, Collegeville Mn: Liturgical Press 1987.

[37] Về khả năng của chức vụ này xem Diaconat au XXIe siècle. Actes du colloque de Louvain-la-Neuve (13-15 Sept. 1994), Bruxelles 1994.

[38] Xem Tavard, H. , Woman in Chistian Tradition, Univ.of N.D. Press 1973; Martimort, A. , Les Diaconesses: Essai historique, Rome: CLV 1982; Schussler-Fiorenza, E. , Discipleship of Equals, New York: Crossroad 1993.

[39] Về thừa tác vụ của phụ nữ xin xem Schussler-Fiorenza, E. , In Memory of Her, London 1983.

[40] Xem Orsy, L. , The Church: Learning and Teaching, Wilmington: M. Glazier 1987; Congar, Y. , L’Église de saint Augustin à l’époque moderne: Histoire des origines, III, C., Paris: Cerf 1970, 389.

[41] Xem Gioan Phaolô II , Christifideles laici, 1988 (là kết quả của Hội đồng giám mục năm 1987); Congar, Y., Jalons pour une théologie du Laðcat, Paris: Cerf 1954; Semeraro, M. , Con la Chiesa nel mondo. Il laico nella storia, nella teologia nel magistero, Roma 1991; Rademacher, W.J. , Lay Ministry, Crossroad Publishing 1996.

[42] Giáo lý Công Giáo, số 1119.

[43] Xem Provost, J. , Preaching and the Non-Ordained, Collegeville, Mn.: Liturgical Press, 1983.   

[44] Doohan, L. , A Lay-Centered Church,  Minnepolis:Winston Press 1984; FABC Papers các số 46a-l, 47 (1986);  Rademacher, Azevedo, M. , Basic Ecclesial Communities, Washington: Georgetown U.P., 1987; Rademacher, W., Lay Ministry, New York: Crossroad 1990; Beal, J.P. , “The exercise of the Power of Governance by lay people. State of the question” The Jurist 55 (1995) 1-92.

 


Trở về  "Mục Lục"