|
ÐẤng Muôn Dân ÐỢi Trông
KITÔ HỌC TRONG CỰU ƯỚC “Lý do hiện hữu của nhiệm cuộc cứu rỗi thời Cựu Ước là để chuẩn bị và tiên báo ngày xuất hiện của Ðức Kitô, Ðấng Cứu độ muôn loài (x. Lc 24:44; Ga 5:39; 1Pr 1:10), và ngày khai nguyên Vương quốc của Ðấng Mêsia, cũng như để biểu thị các biến cố ấy với nhiều hình ảnh tiên trưng khác nhau (x. 1Cr 10: 11)” (MK 15). 1. NhẬp ÐỀ Tại sao bắt đầu với chủ đề này? Kitô học vốn là lời đáp trả cho một câu hỏi. Vì thế, cần phải khởi đầu với việc đi tìm cho ra “câu hỏi” ấy: câu hỏi về Ðức Kitô. Tin rằng “mọi sự đều tồn tại trong Ðức Kitô” (Cl 1:17) và “đang ngong ngóng trông chờ ngày được giải phóng” (Rm 8: 19-22), nên chúng ta có thể đi vào thiên nhiên, vũ trụ, để tìm cho thấy, để nhận cho ra “vết tích” của Lời Tạo Hóa hoặc của Ðấng Cứu chuộc. Tự bởi bản tính, con người là một câu hỏi; thế nên, có tác giả đã lấy nhân chủng học làm khởi điểm cho Kitô học. Hoặc để nói cho đúng hơn, lịch sử là một chuỗi những câu hỏi với muôn vàn biến cố xảy ra làm như dệt nên lời giải đáp cho các câu hỏi đặt ra. Giữa bao nhiêu hy vọng, bao nhiêu câu hỏi và lời giải đáp như thế, bóng dáng Ðức Kitô có lộ hiện ở một nơi nào đó không? Lịch sử từng phần thì có nhiều, vì mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa, v.v... đều có một lịch sử riêng. Nhưng, còn có một lịch sử “đặc biệt” và toàn bộ, mang theo nhiều câu hỏi và nhiều câu trả lời không chỉ do một số cá nhân hay một dân tộc nêu ra, mà còn do chính Thiên Chúa vấn và đáp nữa: đó là lịch sử của Dân Thiên Chúa, như được ghi chép lại trong Kinh Thánh. Trong phần đầu của Kinh Thánh – gọi là Cựu Ước – những biến cố và những lời viết đều tiềm ngụ một niềm hy vọng, một nỗi chờ mong hướng về một Ðấng sẽ đến trong tương lai để giải đáp mọi câu hỏi đặt ra cho cuộc sống loài người, cho bao nhiêu câu hỏi hiện sinh như thường thấy. [1] a. Thật ra, nỗi niềm chờ mong cũng là một câu hỏi hiện sinh. Chính Thiên Chúa đã đặt niềm chờ mong ấy vào trong lòng con người, vì Người biết nhân loại khó có thể đón nhận những gì, những ai mình không mong muốn. Tâm lý loài người không thể nhận ra cái “hoàn toàn mới mẻ,” cái “hoàn toàn khác lạ” được. Phải có sẵn cây đinh thì mới treo “cái mới” lên được; phải có sẵn chiếc khuôn thì mới có thể đổ “cái mới” vào để mà đúc. Cái “hoàn toàn mới” nằm xa ở bên ngoài chân trời của trí khôn và của ý chí loài người. Nỗi trông chờ, niềm ước mong, cảm thức tội lỗi, v.v... chính là cây “đinh,” là chiếc “khuôn” ấy. b. Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa duy chỉ có một, trong đó công cuộc sáng tạo và công trình cứu độ là hai khía cạnh. Vì thế, Các giáo phụ thường nói đến những “hạt giống của Ngôi Lời” trong thiên nhiên, và nêu bật sự việc con người được tạo dựng theo hình ảnh của Ngài. Trong vạn vật, muôn vàn dấu chỉ biểu lộ cho thấy sự hiện diện của Ðấng Tạo Hóa; còn giữa loài người thì Người đã nắn đúc nên hình tượng của Ðức Kitô. Nhưng tội lỗi đã xảy đến. Kế hoạch của Thiên Chúa cho thấy một yếu tố mới: việc “phục hồi” hình ảnh đã ra méo mó, “khôi phục” tình trạng hòa hợp giữa các cấu tố trong thiên nhiên và trong nhân loại đã bị tội lỗi xáo trộn thành rối loạn: thiên nhiên “bị chúc dữ do tội con người,” nhân loại đâm ra chia rẽ trăm ngàn bè mối từ trong nội tâm ra đến ngoài xã hội, con người bị đày xa khỏi nhà Chúa (x. St 3:16-24). Nhưng ngay từ đầu, lòng xót thương thứ tha của Thiên Chúa đã qua những hình bóng, ngầm mở ra viễn cảnh người con của một phụ nữ sẽ thắng ác quỷ – ơn tha thứ của Ðức Kitô – (x. St 3:15), và thiên nhiên vẫn sống trong hy vọng sẽ có ngày được giải phóng (x. Rm 8:19-22). Trong Thiên Chúa, tất cả đều nằm trong một chương trình duy nhất, chương trình của lòng nhân ái xót thương (x. Ep 1:4-9). Thế nên, mục đích của con người cũng chỉ là một: không có chuyện có một mục đích tự nhiên và một mục đích siêu nhiên. Cũng vậy, không có chuyện có một lịch sử loài người (phàm tục) và một “thánh sử công cuộc cứu độ” tách rời khỏi nhau; nhưng chỉ có một lịch sử nhìn dưới hai góc cạnh. Trong bất cứ biến cố nào, Ðức Kitô cũng đều có mặt. Cuộc biến hóa xã hội loài người cũng như đà tiến bộ văn minh, tất cả đều từng bước đưa dẫn loài người ngày càng đến gần với Nước Trời hơn. Còn vấn đề mỗi cá nhân thành công hay thất bại trong việc đón nhận ơn Chúa thì lại là một chuyện khác. Ðức tin cho biết rằng dù con người có biết hay không, thì bao giờ Ðức Kitô cũng vẫn là cùng đích của toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Về mặt tín ngưỡng, các tôn giáo làm công tác chuẩn bị mở đường cho đức tin; về mặt giáo thuyết, các tôn giáo tiến hành cuộc gieo giống Chân Thiện Mỹ là Ðức Kitô; việc tôn thờ, nguyện cầu tiềm ẩn ý nghĩa chỉ về một Ðấng Trung gian; việc cúng tế nói lên tâm thức về bổn phận cần phải đền bù tội lỗi; các nghi thức phụng tự gợi lên ý niệm bí tích, v.v...: tất cả các hành vi tôn giáo ấy đều giả thiết là hằng có một Ðấng “Thiên Chúa ở giữa [loài người] chúng ta.” c. Từ những sự kiện vừa nêu trên đây, Kitô học xác tín mạnh mẽ hơn để khẳng định rằng Ðức Kitô đã không đi vào trong một thế giới “thuần túy tự nhiên,” song là đến giữa một thế giới đã được tổ chức sẵn theo “khuôn thước” nhất định để đón Ngài. Phúc Âm thánh Gioan viết: “Ngài đã đến nhà Ngài” (Ga 1:11). “Nhà Ngài” đặc biệt là Ítraen, vì Thiên Chúa đã chọn dân này làm Dân Người, cũng như đã chuẩn bị họ qua lời mạc khải với lời hứa của Người. Suốt trong tiến trình lịch sử dân mình, Ítraen đã hy vọng vào ơn Thiên Chúa hứa và hằng trông đợi một Ðấng Mêsia. Do vậy, thánh Luca đã có thể gọi Ðức Giêsu là Ðấng muôn dân đợi trông (x. Lc 2:29-32). 2. CỰu ỨỚc Nói VỀ ÐỨc Giêsu “Các ông truy tầm Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời; ấy mà chính Kinh Thánh lại làm chứng về tôi” (Ga 5:39). Trong Phúc Âm, Ðức Giêsu nêu lên câu hỏi căn bản của Kitô học (x. Mt 16:15); trong Cựu Ước, suốt bao thế kỷ, Thần Khí cũng đã từng gợi lên nhiều câu hỏi nhằm dẫn dần đến câu hỏi chung quyết sẽ phải đặt ra. Những câu hỏi ấy đều ngầm chỉ về Ðức Kitô. Tân Ước giả thiết về một Cựu Ước (x. Dt 9:15; 12: 24), vì thế ai muốn thấu hiểu cái “tân,” cái mới ấy, thì trước đó, cần phải am tường về cái “cựu,” cái cũ này đã. Các giáo phụ thường nói rằng Ðức Kitô ẩn tiềm ở trong Cựu Ước; hoặc nói cách khác với lời của thánh Âugutinô: “Tân Ước được Cựu Ước tiên trưng, và Cựu Ước được Tân Ước mạc khải.” [2] Ðiều đó đã xảy ra như thế nào? a. Trên đường đi Emmau, chính Ðức Giêsu đã “bắt đầu từ Môsê và tất cả các ngôn sứ, [để] giải thích cho hai ông những gì viết về Ngài trong toàn bộ Kinh Thánh” (Lc 24:27), và cụ thể hơn, là về sự việc Ðức Kitô phải đi qua cuộc tử nạn để sống lại vinh quang (x. Lc 44–46). Thư gửi tín hữu Do thái viết rằng: “Thuở trước, nhiều lần và bằng nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ” (Dt 1:1). Thánh Phêrô cũng đồng thanh nói rằng Thần Khí của Ðức Kitô hoạt động trong các ngôn sứ và đã mặc thị về “những thống khổ Ðức Kitô phải chịu và vinh quang đến tiếp sau đó” (1Pr 1:10-12). Còn thánh Phaolô thì cho biết rằng “cùng đích của Lề Luật (tức Kinh Thánh Do thái) là Ðức Kitô” (Rm 10:4; x. 16:25-26). Phúc Âm Matthêu đã đặc biệt dùng đến công thức “để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm” lối 10 đến 14 lần; Luca ít dùng đến công thức đó, tuy nhiên, cũng nói lên cùng một ý nghĩa và rất rõ ràng ở trong câu 22:37; còn, theo thể văn riêng, Gioan đã tiềm chỉ 5, 6 lần về sự việc ứng nghiệm ấy. [3] b. Ðức Giêsu là nội dung của Cựu Ước theo nhiều cách. [4] Ở đây, chỉ xin lưu ý đến một vài cách kiểu: – Như là Ðấng sẽ đến: tiến trình Cựu Ước là một dòng trông chờ trường kỳ, khởi đầu với sứ ngôn chúc phúc của Giacóp (x. St 49:10) và với sấm ngôn phán cho Môsê (x. Ðnl 18:18), tiên báo về một vị sẽ xuất hiện để “giải phóng” Ítraen và mang ơn cứu độ đến cho nuôn dân. – Như là Ðấng được hứa, theo lời Ðức Chúa Giavê phán bảo với Abraham (x. St 12:13), hoặc theo lời ngôn sứ Nathan nói với vua Ðavít (x. 2Sm 7:12-14). Còn thánh Phaolô thì đã nhận ra “dòng dõi Abraham” ấy chính là Ðức Kitô (x. Gl 3:16). Vì thế, Gioan Tẩy giả hỏi Ðức Giêsu: “Thầy có đúng là Ðấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” (Mt 11:3). c. Kế hoạch cứu độ diễn tiến qua hai giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị, và giai đoạn thực hiện. Ðầu tiên là mầu nhiệm giữ kín (x. Cl 1:26), rồi đến mầu nhiệm được mạc khải (x. Ep 3:4-5). Ðã có một thời Thiên Chúa chờ đợi “nhẫn nại” (Rm 3:25), nhưng cuối cùng, “ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ” (Tt 2:11; x. Ga 1:17). Cựu Ước ghi lại giai đoạn một là giai đoạn làm nền tảng cho giai đoạn hai: nếu không biết về giai đoạn đầu thì khó mà hiểu rõ được giai đoạn sau. d. Cụ thể hơn: Cựu Ước giúp cho hình dung ra được Ðức Kitô là gì; còn Tân Ước thì tỏ rõ cho thấy Ðức Kitô là ai. Thí dụ: những tước hiệu Tân Ước áp dụng cho Ðức Kitô đều được lấy từ Cựu Ước. Kinh Thánh Do thái nói về một “Con Người” (Dn 7:13). Các ngôn sứ và các ca vịnh thường nhắc đến Ðấng Mêsia (Thiên sai, Xức dầu, “kitô”); rồi hình bóng chỉ về vua Ítraen cũng cho thấy chiều kích thánh thiêng, siêu nhiên. Ngôn sứ Isaia miêu tả về người Tôi Trung của Giavê (x. Is 42:53), còn Sách Ðệ nhị Luật thì chép lại sự việc Môsê nói lại cùng “toàn thể Ítraen” về lời Thiên Chúa hứa ban cho một vị Ngôn sứ [đặc biệt]. Tân Ước áp dụng Ðnl 18:15-18 cho Ðức Giêsu (x. Ga 1:17.21; 6:14; 7:40; Cv 3:22-24; 7:37). Gọi Ðức Kitô bằng danh xưng Ađam mới (x. 1Cr 15:22.45) là Tân Ước muốn so sánh Ngài với Ađam cũ (x. St 2–3). Muốn hiểu Ðấng chăn chiên lành là gì thì phải biết “mục tử xấu” là như thế nào (x. Ed 34). Cần phải dựa theo Cựu Ước để hiểu các danh xưng dùng trong Tân Ước: danh xưng “chàng rể” phải được hiểu theo ánh sáng của Hs 2 hoặc của Sách Diễm ca; muốn biết ý nghĩa của cách gọi “con Chiên” tất phải biết đến biến cố dân Do thái xuất Ai cập (x. Xh 12). Quả thế, toàn bộ Tân Ước giả thiết về sự kiện và ý niệm “giao ước” đọc thấy ở trong Cựu Ước (x. Xh 24), v.v... [5] Những “hình bóng” này là những mẫu “tiên trưng” (types) về Ðức Giêsu Kitô và về “mầu nhiệm” của Ngài (x. 1Cr 10). Bàn về các con vật làm lễ vật thời xưa, thánh Âugutinô giải thích: “Ý nghĩa của những hình bóng ấy là Ðức Kitô, vì máu Ngài đã chuộc lại và cứu độ chúng ta.” [6] Thánh Irênêô nhận định rằng suốt trong dòng lịch sử, Ngôi Lời đã học tập cho biết nói tiếng nói của loài người; những “bài học” ấy là những biến cố ghi lại trong Cựu ước. [7] e. “Ứng nghiệm” là một ý niệm căn bản để hiểu vai trò của Cựu Ước trong Kitô học. [8] Cựu Ước miêu trình kế hoạch Thiên Chúa đề ra nhằm cứu độ loài người, một kế hoạch đã được trọn vẹn ứng nghiệm, thành tựu nơi Ðức Kitô (x. Cv 2:23). Hơn 10 lần, khi trình thuật về các biến cố trong đời Ðức Giêsu, Phúc Âm Matthêu đã lưu ý cho thấy là “điều đó” xảy ra “để ứng nghiệm lời Kinh Thánh” (chẳng hạn như trong các câu 1:22; 2: 15.23, v.v...). Bao quát, sâu rộng hơn nữa, Gioan xác định rằng “mầu nhiệm phục sinh” là bằng chứng cho thấy toàn bộ Kinh Thánh (Cựu Ước) đã ứng nghiệm (x. Ga 19:28; Lc 12:50; 18:31; v.v...). Vì thế, thánh Phaôlô đã có thể khẳng định rằng: “mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là ‘có’ (naì) nơi Người [Ðức Giêsu Kitô]” (2Cr 1:20). Các động từ thường được dùng đến: pleroun, telein, teleioun, đều là những động từ mang nội dung khái niệm xuất xứ từ Cựu Ước. Hệt như đối với chúng ta, đức tin Ítraen xác tín rằng việc ứng nghiệm các sấm ngôn của Giavê Thiên Chúa nơi một người nào đó, là bằng chứng đích xác cho thấy người đó là ngôn sứ chính thực (x. Ðnl 18:22), vì bao giờ Lời Chúa cũng có hiệu lực chắc chắn, không sai chậy (x. Is 48:3; 55:11; Ed 6:10; Dcr 1: 6; v.v...). Nhưng, sự ứng nghiệm tuyệt đỉnh ấy còn phải xảy ra đúng vào thời điểm ấn định (x. Gr 25:12), tức là vào “thời gian viên mãn” (Gl 4:4; x. Mc 1:15): “Thiên ý là kế hoạch yêu thương Thiên Chúa đã định từ trước trong Ðức Kitô; đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn, là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Ðức Kitô” (Ep 1: 9-10). Tuy nhiên, “ứng nghiệm” đâu phải chỉ là việc một biến cố xảy ra đúng như lòi tiên báo mà thôi; bao giờ cũng còn có một cái gì hơn nữa, vượt quá, theo quy trình biện chứng: giống như – khác với – vượt quá. Thí dụ: Ðức Giêsu là “con của Ðavít” (2Sm 7:12; Lc 1:32tt, v.v...), nhưng vương quốc của Ngài không thuộc về thế gian này (x. Ga 18:36tt). Ðấng Thiên Sai là vua vinh hiển (x. Tv 110; Mt 26:64); song Ngài cũng là tôi tớ (x. Is 53; 1Pr 2: 24tt). Uy quyền Ngài đặt các kẻ thù dưới chân Ngài (x. Tv 45), nhưng, sau khi sống lại, Ðức Kitô mới được toàn quyền trên trời dưới đất (Mt 28:18). Trong Cựu Ước, kế hoạch cứu độ xem ra chỉ dành riêng cho dân Do thái; nhưng bây giờ thì đã quá rõ là kế hoạch ấy bao trùm hết mọi dân nước, không phân biệt màu da, chủng tộc, văn hóa, v.v... (x. Rm 11:25tt; 16:26; Ep 3:6; Cl 1:27). Không những đã làm cho ứng nghiệm (x. Mt 5:17), Ðức Giêsu còn đưa Lề Luật lên một bình diện cao hơn (x. bài giảng trên núi), đến độ thánh Phaolô đã có thể kết luận rằng những cơ cấu bất toàn ấy, Ðức Kitô đã bãi bỏ (x. 1Cr 13: 10). Vì những lý do trên, Kitô học cần phải khởi đầu với Cựu Ước. Nhưng, vì còn có yếu tố “vượt quá” như đã thấy, nên Cựu Ước không có đủ khả năng để giúp cho am tường mầu nhiệm Ðức Kitô mới được mạc khải về sau – trong thời viên mãn – cho Hội Thánh (x. Rm 16:25; Ep 3:5-9; Cl 1:26). 3. CỰu ƯỚc: CuỐn Sách CỦa NhỮng NỖi NiỀm ChỜ Mong Các Giáo phụ đã thường đọc Cựu Ước theo nhãn quan tiên trưng, và đã trình bày cho thấy ở trong các nhân vật và biến cố của Cựu Ước có những dấu tiên biểu chỉ về mầu nhiệm Ðức Kitô. Phaolô đọc thấy ở nơi tảng đá phun nước trong sa mạc (x. Xh 17:1-6) một hình bóng chỉ về Ðức Kitô (x. 1Cr 10: 4). Phêrô coi đại hồng thủy như là tiên triệu của phép Rửa tội (1Pr 3: 21), còn Giáo hội thì nhận ra nơi nhiều nhân vật và biến cố trong Cựu Ước những ý nghĩa tiên trưng ngầm chỉ về Ðức Kitô, tức là về con người, sứ mạng và hành động của Ngài. Thí dụ: Ađam – “Ađam” trong tiếng Hypri có nghĩa là “con người,” như thấy chẳng hạn ở trong câu Tv 8:5; và con người là tạo vật mà Con Thiên Chúa đã trở thành khi Ngài bước ra từ cung lòng Thiên Chúa Cha vĩnh cửu để đi vào trong thời gian. [9] “Ađam” cũng có nghĩa là tổ tiên loài người như đọc thấy trong các đoạn St 4:1.25; 5:1; 1Sb 1:1 và Tb 8:6. Trong Tân Ước, Ađam được hiểu như là ông tổ của toàn thể nhân loại (x. Cv 17:26), và thánh Phaôlô gọi ông là “hình ảnh của Ðấng sẽ đến” (Rm 5:14; x. VMHV 22). Thực ra, Phúc Âm so sánh Ðức Giêsu với Ađam theo nhiều cách: Mc 1:13 cho thấy Ðức Giêsu ở giữa dã thú và bị Satan cám dỗ (như Ađam); Mt 1:1 gợi lại nội dung của St 5:1; còn Lc 3:38 thì nói Ngài là con của Ađam. Pl 2:6-11 ngầm chỉ về sự việc không như Ađam muốn bằng Thiên Chúa, Ðức Kitô “hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ.” Phaolô minh nhiên so sánh tổ tiên loài người là “Ađam đầu tiên” với Ðức Kitô là “Ađam cuối cùng” (1Cr 15:45) và những hậu quả mà hai vị “tổ tiên” mang lại cho loài người (x. Rm 5:12-21). [10] Mặt khác, Thiên Chúa cũng đặt tổ tiên loài người – Ađam và êvà – làm mẫu mực cho tương quan vợ chồng theo ý Người (x. Mt 19:4tt; 1Tm 2:13tt); hơn nữa, hai vị còn tiên trưng biểu thị cho mối hiệp nhất giữa Ðức Kitô và Hội thánh Ngài (x. Ep 5: 25-33). Như thế, dựng nên con người là Thiên Chúa đã chuẩn bị (“hứa”) sẵn mầu nhiệm Nhập thể. [11] Tuy nhiên, tội lỗi đã xảy đến, làm hư hỏng đi những gì tốt đẹp Thiên Chúa đã dọn sẵn cho con người, ảnh hưởng sâu đậm đến toàn bộ tương lai của loài người bị đè nặng dưới sức ép của tội ác; “tội phạm” là thân phận đắng cay của dòng dõi Ađam (x. Tv 51:7; Ed 28:13-19, v.v...). Nhưng, giữa tình trạng bi đát ấy, đã vang vọng lên một lời hứa cứu độ (x. St 3:15), mà tương lai sẽ thấy thành tựu trong Ðức Kitô. Dòng dõi của người nữ là niềm hy vọng lớn lao và độc nhất cho con người sống giữa những hậu quả tràn lan và khốc liệt của tội lỗi: ghen ghét, chia rẽ, hận thù, chiến tranh, đau khổ, chết chóc, v.v... Vì tội vốn là bất phục tùng, kiêu ngạo, không tin tưởng vào Thiên Chúa, là coi Thiên Chúa như là kẻ ích kỷ, không để tâm lo cho con người, v.v... (x. St 3: 3tt), với hậu quả là chia rẽ (x. St 3:16), huynh đệ tương tàn (x. St 4:8), hung dữ tàn bạo (x. St 4:24) và cuối cùng là đi đến chỗ diệt vong (x. St 6:5tt). [12] Ðể cứu chuộc loài người, Thiên Chúa dùng phương sách “lấy thiện mà thắng ác” (Rm 12:21); vì vậy, Ðấng Cứu thế sẽ phải là hiện thân của thái độ nhân hậu ấy. Abraham.– Kinh Thánh có chép về ông: “Vinh quang của ông chẳng ai sánh tày” (Hc 44:19), bởi vì ông là “bạn của Thiên Chúa” (Is 41:8), và ông được gọi là “cha của mọi tín hữu [các kẻ có lòng tin]” (Rm 4:11). [13] Lịch sử cứu độ đã “đăïc biệt” [14] bắt đầu với ông; ông được xem như là mẫu phác thảo của kế hoạch cứu độ: người được chọn, được lãnh nhận lời hứa, và lập giao ước với Chúa Giavê. Thiên Chúa hứa ban cho ông một dòng dõi đông đảo và qua đó Người sẽ ban phúc lành cho muôn dân (x. St 22: 17-18; 12:2; 16:10). Ítraen đã trung thành giữ vững niềm cậy trông vào lời hứa ấy (x. Lc 1:73-74). Abraham lập giao ước với Thiên Chúa; tuy nhiên đó chỉ là một giao ước đơn phương, vì chỉ một mình Thiên Chúa bước qua giữa những mảng tế vật (x. St 15:17; 17:7): từ đầu và mãi mãi kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa bao giờ cũng là ân sủng nhưng không! Thiên Chúa chấp nhận danh xưng “Thiên Chúa của Abraham” (x. St 26:24; 28:13, v.v...), như thể Người thuộc về ông. Ông bị thử thách hệt như một “ngôn sứ” (x. St 20:7), nhưng đã thắng cuộc: việc tế hiến con một là Isaac (x. St 22) đã trở thành sự việc “tiên báo” về Ðức Kitô (x. Dt 11:19; 2:14-17; Rm 8:32). Thật ra, chính Abraham đã hưởng được Tin Mừng và được mừng rỡ về Ðức Kitô (x. Ga 8:56). Trình thuật về Abrahan cho thấy rõ lời Chúa đã nhập thế vào trong một dân tộc; và hơn nữa, chính lời hứa của Thiên Chúa đã sáng tạo nên dân tộc ấy. Thiên Chúa can thiệp vào trong lịch sử loài người như là Ðấng hoàn toàn tự do trong chọn lựa của mình, không bị ràng buộc bởi bất cứ một điều kiện nào, cũng chẳng mảy may dựa vào công đức của người được chọn. Người Do thái hãnh diện tự xưng là “con cái của Abraham” và coi ông là người bạn của Thiên Chúa, thường can thiệp bên Người để cứu giúp kẻ khác (x. St 18 về thành Sôđôma, và Lc 16:20tt với dụ ngôn về Ladarô). Việc lựa chọn này cho thấy rõ tính chất đặc thù của kế hoạch Thiên Chúa, được biểu đạt qua điều mà thần học gọi là “phổ niệm cụ thể” (universal concrete), tức là một thay thế cho tất cả: một người đại diện cho toàn dân, cho toàn thể nhân loại; điều xảy ra chỉ một lần, nhưng lại có ảnh hưởng mãi mãi (x. Dt 10:2). Abraham chỉ sinh có một người con, nhưng đã trở nên cha của hết thảy mọi tín hữu. Dù có ban cho mọi người đủ những gì cần thiết, thì Thiên Chúa cũng không cư xử đổng loạt như nhau đối với mọi người, nhưng có quyền ưu đãi và ban đặc ân cho những ai Người muốn (x. Rm 9); tuy nhiên, ân huệ nào ban ra cũng là để giúp cho việc thực thi sứ mạng và chu toàn trách nhiệm trao phó được tốt đẹp, nhằm mưu ích chung. Trong Tân Ước Abraham xuất hiện nhiều lần: tới 26 lần trong bốn Phúc Âm. Ðức Giêsu là con của Abraham (x. Mt 1:1), như người Do thái; nhưng “vinh dự” đó đòi hỏi phải biết sống theo mẫu gương của vị tổ tiên thì mới mang lại được lợi ích (x. Ga 8: 31tt). Thánh Phaolô đã nhắc đến Abraham tới 18 lần, qua những dịp nêu lên lòng tin của ngài, một đức tin mà nhờ đó con người được kể là công chính. Ðặc biệt, vị tông đồ nhấn mạnh rằng Thiên Chúa hứa ban cho Abraham hai điều: một người thừa kế và một di sản; Ðức Kitô là cả hai (x. Gl 3:16; 2Cr 1:20). Dòng dõi đông đảo ấy tụ hội vào trong chỉ một con người, và như thế trở nên phổ quát: mọi dân tộc được thông phần vào phúc lành của Abraham (x. Gl 3:14; 4:21-31; Rm 8:31). Những người theo lòng tin của tổ phụ Abraham, là “cha của mọi kẻ tin” (Rm 4:11-12), – hoặc là tín hữu Kitô giáo, Do thái giáo, hay Hồi giáo – [15] thì đều có thể hưởng phần thưởng của Thiên Chúa ở trong “lòng ông Abraham” (Lc 16:22). Như thế có nghĩa là những người được cứu rỗi đều có một mối quan hệ phụ tử với ông tổ của đức tin. [16] Xuất hành.– Cuộc di xuất khỏi ai cập là biến cố quan trọng nhất trong lịch sử Cựu Ước. [17] Ðối với Do thái giáo, cuộc xuất hành chẳng những là chuyện của quá khứ, mà còn là một biến cố được hiện thức hóa hằng năm trong những ngày lễ lớn. Ðó là khởi điểm của lòng tin, của niềm hy vọng, của chính dân tộc Do thái. Trước hết là sự việc Thiên Chúa mạc khải: Chúa Giavê vén mở cho biết Tên của Người (x. Xh 3:14-15); điều đó có nghĩa Người là “Ngôi vị,” Người sẵn sàng tự đặt mình trong tay của con người, để cho các tín hữu kêu cầu. Thiên Chúa để cho con người có kinh nghiệm về mình, trước hết như là Ðấng Cứu Ðộ (x. Xh 15:2; Ðnl 26:6-8), như là một Thượng Ðế gần gũi với con người (x. Ðnl 4:7), cư ngụ giữa con dân (x. Ds 35: 34): sự việc mà sau này Ngôi Lời sẽ thực hiện một cách trọn vẹn (x. Ga 1: 14). Vị Thượng Ðế này không phải là Ðấng thờ ơ, xa vời, ở trên trời cao, mà chính là Ðấng hằng quan tâm từng giây phút đến số phận của con người, can thiệp vào trong lịch sử loài người, và không ngừng lắng tai nghe tiếng thở than của đoàn dân kham khổ (x. Xh 3:7-10). Qua hành động can thiệp ấy, Thiên Chúa “sáng tạo” một dân riêng (x. Is 43:15) mà Người yêu thương như “con đầu lòng” (x. Xh 4:22). [18] Sở sĩ Thiên Chúa đã can thiệp như vậy là vì Người trung thành giữ lời Người hứa (x. Xh 2: 24), và lời hứa ấy chính là nguồn hy vọng được đặt vào giữa lòng lịch sử. Như vậy, hành động Thiên Chúa can thiệp vào trong lịch sử quả đã tạo ra những cơ cấu chính trị: một giao ước, một bộ lề luật, một nền phụng tự (x. Xh 19 – 20; 24). Phần lớn những khái niệm, dữ liệu và biến cố trong Tân Ước đều bắt nguồn từ đó: chính kinh nghiệm xuất hành đã làm phát sinh ý niệm cứu độ, cứu thoát (x. Tv 130: 8; Gr 3:21tt; 24:7; 32:37tt; Ed 17:20, v.v...), [19] cũng như các ý niệm “Vượt qua” và “Con Chiên [Thiên Chúa],” v.v... (1Cr 5:7; 1Pr 1:18tt). Chẳng thế mà Tân Ước đã nhắc đến biến cố Xuất hành nhiều lần: trong bài giảng trên núi (x. Mt 5–7), trong cuộc biến hình trên núi Tabor (x. Lc 9:31), trong bữa tiệc ly, trên đường Emmau (x Lc 24:26), v.v... Chính Ðức Giêsu sẽ đích thân thực hiện cuộc xuất hành (x. Lc 9:31) và vượt qua ấy (x. Ga 13:1). Thánh Phaolô giải thích về cuộc xuất hành ở trong 1Cr 10:1-10; còn thánh Phêrô thì áp dụng những đặc điểm của Dân Thiên Chúa (x. Xh 19:6) cho dân kitô (x. 1Pr 2:9t). Thư Do thái là một thiên suy niệm về cuộc xuất hành. Tác giả đã đề cập đến chủ đề này nhiều nhất là thánh Gioan: ngài gọi Ðức Giêsu là “chiên Thiên Chúa” (Ga 1:29), so sánh manna (x. Xh 16) với “bánh bởi trời” là Thánh Thể (x. Ga 6), nước bởi tảng đá (x. Xh 17:1-7) với Thần Khí và các bí tích phát sinh từ cạnh sườn Ðức Kitô (x. Ga 7:37tt; 19:34), con rắn treo trên cây cột (x. Ds 21:8-9) với Ðức Giêsu chịu treo trên thập giá (x. Ga 3:14t), và nhất là áp dụng cho Ðức Giêsu Danh Thánh Chúa Giavê “Ta Là” (Xh 3:14; x. Ga 4:26; 6:20; 8:24.28.58; 18:5), v.v... Trong trình thuật về xuất hành, hành động của Thiên Chúa tỏ lộ rõ. Người chọn một dân tộc và tuyên bố đó “là sở hữu riêng của Ta giữa hết thảy mọi dân, vì toàn cõi đất đều là của Ta” (Xh 19:5); nhưng, lý do của việc đặc tuyển này tuyệt đối không phải là công đức của Ítraen, song là chính lòng thương nhưng không của Thiên Chúa (x. Ðnl 7:7-8). Công cuộc cứu độ cũng thế: duy chỉ vì yêu thương, Thiên Chúa tuyển chọn một dân hay một cá nhân nào đó và đòi hỏi trung thành sống theo thánh ý Người, tức là hợp tác với Người ở giữa lịch sử loài người, hầu qua đó, các biến cố lịch sử mang lại được một tầm cỡ siêu việt cho vận mệnh cuối cùng của nhân loại. Ðavít.– Vai trò vua Ðavít đóng giữ nói lên nhiều ý nghĩa đặc biệt: một đàng, vì ngài là khởi điểm của niềm chờ mong về một Ðấng Thiên sai vương giả, và đàng khác, vì Ðức Giêsu [thuộc dòng dõi cũng như] được gọi là “con của Ðavít.” Trong lịch sử cứu độ, vua Ðavít là một nhân vật điển hình: được Thiên Chúa tuyển chọn khác hẳn với “lẽ thường” (được chọn dù là con út trong gia đình), được xức dầu, bị thử thách khốn đốn trăm bề, đã trở nên người lý tưởng bởi một mực trung thành với Thiên Chúa, nhưng lại bị sa ngã. Là người quảng đại, Ðavít muốn thực hiện một công trình lớn lao cho Thiên Chúa: xây ‘một nhà’ – đền thờ – cho Giavê. Thế nhưng, Thiên Chúa còn quảng đại hơn: sẽ gầy dựng ‘một nhà’ – dòng dõi – cho Ðavít (x. 2Sm 7:8.12). Ðó là một dạng minh ước giữa Thiên Chúa và triều đại Ðavít, [20] qua đó, “Thiên Chúa ban cho ông vương mệnh, và cho ngai ông được vững bền trên nhà Ítraen” (Hc 47:11). Từ lúc ấy, giao ước của Chúa Giavê với Ítraen và những lời hứa đều quy tụ vào ‘nhà’ Ðavít. Nhà vua trở thành biểu trưng của ân sủng và khí cụ của ơn cứu độ (x. Tv 89:20-38). Hậu thế sẽ ngẫm suy nhiều về giao ước này và sẽ rút ra những ý nghĩa thần học (x. 2Sm 23:5; 1V 2:45; Tv 89, 110, 132, v.v...). Nhân vật lý tưởng hóa này đã làm nẩy sinh niềm hy vọng về Ðấng Thiên sai. Các ngôn sứ đã ghi lại các sấm ngôn tiên báo về “con của Ðavít” và cho thấy người con này sẽ thâu tóm ở nơi mình, tất cả những gì Thiên Chúa hứa và Ítraen đang đợi trông (x. Is 9:6-7; 11:1-9; Gr 23:5; Mk 5:1-5; Dcr 9:9tt). Thật ra, những lời hứa ấy, Thiên Chúa đã cho ứng nghiệm nơi Ðức Kitô phục sinh (x. Cv 13:32-37), và làm nên ý nghĩa của lịch sử nhân loại (x. Kh 5:5). Trong Do thái giáo, niềm hy vọng này được nuôi dưỡng và cổ vũ qua phụng vụ cũng như kinh nguyện (như là các “Thánh vịnh thiên sai”: Tv 2; 72; 110), và biểu hiện qua nhiều hình sắc khác nhau: [21] “Mầm non từ gốc rễ Giêsê” (Is 11: 1) sẽ là “Ðấng Xức dầu” (Tv 2:2; Is 61:1; Dn 9:25-26, v.v...), là “Chúa” (Tv 110:1), là “Con Người” (Ðn 7:13-14), v.v... Tân Ước cũng xác định rõ Ðức Giêsu là “Con của Ðavít” (Mt 1:1), là “Ðấng xức dầu của Ðức Chúa” (Lc 2:26). Ngài trọng lớn hơn Ðavít (x. Mt 22:42-45), nhưng lại dựa vào mẫu gương của Ðavít để giải thích Lề Luật (x. Mc 2:25). Cho đến ngày này, âm vang tên của Ðavít vẫn còn tiếp tục vọng lên qua các Thánh vịnh và phụng vụ của Giáo hội. Giao ước.– Giao ước là khái niệm căn bản trong mạc khải Do thái giáo cũng như Kitô giáo, vì đó là thể thức minh biểu ý định của Thiên Chúa tiếp nhận con người vào sống trong mối hiệp thông với Người. Kinh Thánh là không gì khác ngoài “câu truyện” kể về tiến trình giao ước đã diễn ra trong lịch sử, giữa Thiên Chúa và con người, qua đó Người muốn cho con người hợp tác vào trong kế hoạch cứu độ loài người. [22] Từ berit trong tiếng Hy bá mang ý nghĩa chỉ về một dạng kinh nghiệm chính trị và xã hội là các khế ước, minh ước (x. St 14:13; 21:22, v.v...). Hai phía có thể ngang nhau, hoặc thuộc những trật bậc cao thấp khác nhau; như giao ước giữa các đế vương, hoặc giữa các đế vương với các chư hầu hay tương tự (x. Gs 9:11-15; 1Sm 11:1; 2Sm 3:12tt; v.v...). Phía mạnh thường áp đặt điều kiện buộc phía yếu phải theo (x. Ez 17:13tt), qua một nghi thức cọng với một lời thề chấp nhận những điều kiện cùng những hậu quả (x. Gr 34: 18); rồi tiếp đó, còn có việc dựng lên một lưu vật hay một công trình kỷ niệm đánh dấu biến cố (x. St 21:23). Nhưng trên Sinai, Chúa Yavê uy linh đã không xuất hiện như là đế vương, song như là người cha đầy yêu thương, như là đấng giải phóng (x. Xh 3:7-10. 16tt,v.v.). Tuy nhiên, Người đòi hỏi phải tin tưởng vào Người (x. Xh 14:31) và đặt những điều kiện (x. Xh 20:3tt; Ðnl 5:7tt). Nếu dân tuân theo Lề Luật thì Chúa Giavê sẽ ban cho những điều Người hứa (x. Xh 19:5tt: 23:20-33); nếu họ bất trung thì sẽ phải lãnh chịu hậu quả (x. Ðnt 31: 16tt). Trong Cựu Ước, giao ước này được quan niệm trong nhiều cách khác nhau, tùy thời đại và hoàn cảnh. Dù sao, lịch sử Ítraen cũng cho thấy là dân tộc và các triều đại đã không một mực trung thành với giao ước: họ đã bội thề, thờ ngẫu tượng, sống như các dân ngoại,... Tiến trình lịch sử Ítraen đã sống qua kinh nghiệm đau thương của những biến cố đổ vỡ to tát: trước hết là sự việc ly khai Nam Bắc, làm cho Ítraen không còn là một nước thống nhất; kế đến là cuộc lưu đày, bắt đầu là miền Bắc, vào năm 722 trước công nguyên, rồi đến miền Nam vào năm 581 trước công nguyên. Như thế, triều đại Ðavít đã bị tiêu hủy; vì vậy, cần phải tìm cho ra ý nghĩa mới – còn tiềm ẩn – của những lời Chúa Giavê hứa (thí dụ 2Sm 7:13). Ðất hứa đã mất, thì lời Thiên Chúa hứa (x. Xh 32:13) sẽ mang ý nghĩa như thế nào? Ngôn sứ Giêrêmia đã công bố lời Chúa nhắc nhở: “Chúng đã hủy bỏ giao ước của Ta” (Gr 31: 32), điều mà ngôn sứ Hôsê gọi là hành động “ngoại tình,” bởi Giavê yêu thương Ítraen như chồng thương yêu vợ mình (x. Hs 2:4: Ed 16:15-43). Dẫu thế, Giavê vẫn luôn trung thành với ý định cứu độ của Người (x. Gr 31:35tt; 33:20tt). Vì vậy, cần phải lập lại giao ước, nhưng là trong một cách thức khác, thiêng liêng hơn, nội tâm hơn. Trong thời đại mới, sau một cuộc xuất hành mới, Thiên Chúa sẽ thiết lập một giao ước mới, mà Hôsê trình tả như là một cuộc “hôn ước vĩnh cửu” (Hs 2:18-21). Sấm ngôn truyền qua miệng ngôn sứ Giêrêmia đã miêu tả giao ước mới này như sau: “Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta” (Gr 31:33). Ngôn sứ Êdêkien khai triển thêm: “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi” (Ed 36:26tt). Giao ước này đổi mới giao ước lập trên Sinai (x. Ed 16:60) cũng như giao ước lập với Ðavít (x. Ed 34: 23). Giao ước nhiệm mầu này làm như tập tụ tất cả vào một nhân vật được chỉ danh là Người Tôi Trung: “Ta đặt ngươi làm giao ước với dân, làm ánh sáng chiếu soi muôn dân” (Is 42:6; 49:6), tức sẽ gồm cả “dân ngoại” nữa. Dù khi trở về quê hương, dân Do thái đã tái thiết thành phố Giêrusalem cũng như Ðền thờ, thì dân nước họ cũng không còn là một quốc gia độc lập nữa: đầu tiên là bị Ba tư đô hộ, rồi tới Hy lạp, và cuối cùng là Rôma; tình trạng quả là thảm hại như đọc thấy qua lời cầu – vẫn đượm đầy hy vọng – của ngôn sứ Ðanien (x. Ðn 9: 5-19). Niềm hy vọng ấy đã được trọn vẹn mãn nguyện nơi Ðức Kitô. Trong bữa tiệc ly, Ngài đã hiến dâng “máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người” (Mc 14:24). Cuộc khổ nạn là lễ tế vượt qua hiến dâng ngày xưa, nhưng vẫn còn tồn tại và mãi mãi tái diễn trong Thánh Thể (x. 1Cr 11:25). Thư Do thái trình bày suy tư về giao ước mới này (x. Dt 8:8-12; Gr 31:31t), coi đó là một giao ước hoàn hảo hơn (x. Dt 8:6; 12:24), vì được ký kết bằng máu của Ðức Kitô (x. Dt 9:20; 12:24; Xh 24:8); và như vậy là những hình ảnh tiên trưng trong Cựu ước đã ứng nghiệm (x. Dt 10:1-22). [23] Số còn sót.– Khái niệm này Kinh Thánh thường dùng để chỉ số dân [Do thái] còn lại sau một cuộc thảm họa, và có khả năng làm mầm giống cho cộng đoàn mới. [24] Trong các cuộc chiến thời xưa, thường chỉ một nhóm nhỏ sống sót (x. 1V 19:15-18). Thiên Chúa lưu ý trước cho Ítraen biết rằng nếu bất trung, không giữ giao ước, thì chỉ còn một nhóm nhỏ trong dân được tồn tại (x. Ðnl 4:27tt). Các nhà chú giải phân biệt ba loại “số còn sót”: 1) là nhóm sống sót sau những thảm họa lịch sử (x. Am 5:15; Is 37:4, v.v...); 2) là cộng đoàn sẽ hưởng được ơn cứu độ cánh chung (x. Mk 5:6tt; Is 10:20t; 44; v.v...); 3) là số nhỏ trung thành giữa dân tộc hờ hững (x. Kg 1:12; Dcr 8:6). Sau cuộc lưu đày trở về, loại thứ hai và thứ ba kể trên đây, coi mình như là những kẻ thừa kế lời hứa. Họ sẽ quây quần chung quanh Ðấng Mêsia, mà các ngôn sứ gọi là “cái gốc” còn sót lại, là “mầm giống thánh” (Is 6:13; 11:1t) sẽ mang hoa trái của ân huệ Thiên Chúa đến cho muôn dân (x. Mk 5: 6). Người Tôi Trung trong Isaia là hiện thân của số còn sót trung thành trong dân Ítraen (x. Is 49:3; 52:13; 53:12), và được ủy thác cho sứ mạng đóng giữ vai trò của Vị Thiên Sai (x. Is 49: 6; 53:11). Trong Tân Ước, chủ đề này xuất hiện rõ qua lời nói và việc làm của Ðức Giêsu; chẳng hạn như khi Ngài chọn mười hai tông đồ, đại diện cho mười hai chi tộc Ítraen, hoặc khi Ngài nói về “đàn chiên nhỏ bé” (Lc 12:32), và về sự việc “kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít” (Mt 22:14); tóm lại, chính Ngài là Số còn sót, là Người Tôi Trung. Thánh Phaolô áp dụng ý niệm “số còn sót” cho số ít người Do thái đã tin vào Ðức Kitô trong Hội Thánh (x. Rm 11:5): họ là bằng chứng Thiên Chúa trung thành sẽ cứu độ toàn thể Ítraen (x. Rm 11:26). [25] 4. NhỮng Hình Ảnh Chính ChỈ VỀ ÐẤng CỨu ThẾ Ítraen Mong ChỜ Niềm chờ mong cứu độ.– Ítraen chờ mong Ðức Chúa sẽ giải cứu dân Người. Kinh nghiệm cho thấy rằng Ítraen không thể cậy dựa vào sức loài người được. Giêrêmia cảnh cáo: “Ðáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời” (Gr 17:5). “Cứu độ” là gì? [26] Theo nghĩa đen, từ Hibá yesa, hoặc từ Hy lạp sôtêria, muốn nói là: giải phóng, sửa chữa, cứu vớt, v.v... Lúc đầu, “cứu độ” có nghĩa là giải cứu dân cho khỏi kẻ thù (x. Ðnl 22:27), với kinh nghiệm căn bản là việc Thiên Chúa giải phóng Ítraen khỏi ách Ai cập (x. Xh 14:30): Ðức Chúa là Ðấng cứu tinh duy nhất. Ítraen hiểu rằng các cuộc chiến thắng đều là công trình do Thiên Chúa thực hiện; con người chỉ hãnh diện vì được hợp tác với Người (x. Tl 6:36; 1Sm 11:13; v.v...). Ý nghĩa lịch sử này dần dần được mở rộng ra hơn và được áp dụng cho những hành động cứu giải có tính cách toàn diện và chung quyết, sẽ diễn ra vào “thời gian cuối cùng,” tức là trong thời đại của Ðấng Thiên sai. Ðó là ơn cứu độ Ítraen trông chờ, với một niềm hy vọng tôn giáo đích thực, là nội dung chủ yếu của lời Chúa hứa, và là đối tượng của niềm cậy trông (x. Tv 50:6; 67: 3; Is 45:8; v.v...). Trong Cựu Ước, Chúa Yavê được gọi là: “Ðấng cứu vớt Ítraen” (x. 1Sm 14:39), “Ðá tảng cứu độ” (x. Tv 68:20-21, v.v...). Ngôn sứ Giêrêmia đã khơi dậy một niềm hy vọng mới, không những cho riêng cá nhân mình (x. Gr 15:20), hoặc đối với việc cứu trợ Giuđa (x. Gr 4:14t), mà còn cho cả việc khai mở triều đại của một Ðavít mới – tức Ðấng Thiên sai – khi Ðức Chúa, “sự công chính của chúng ta,” ra tay cứu thoát Ítraen (x. Gr 23: 5-6). Niềm hy vọng này được diễn tả qua nhiều cách khác nhau, như đọc thấy ở trong Hb 3 hay ở trong Ed 36:29 chẳng hạn. Niềm chờ mong cứu độ đạt đến đỉnh cao trong phần hai Sách ngôn sứ Isaia, gọi là Isaia đệ nhị (từ chương 40 cho đến 55): đề tài này đã được nêu lên 21 lần. Tác giả kết liên việc cứu độ với cuộc hồi hương sau thời gian lưu đày (x. Is 41:17-20, v.v...), cách riêng là với ý niệm về một “cuộc tạo dựng mới” (x. Is 49:10-15). Ðó là tin mừng báo cho biết: “Yavê là vua hiển trị” (Is 52:7). Ơn cứu độ mang tính chất thật sự phổ quát (x. Is 45:22; 49:6; 51:5) và vĩnh viễn (x. Is 45:17; 51:6.8). Trong thời Ðền thờ thứ hai, hai ngôn sứ Dacaria và Isaia đệ tam (từ chương 56 cho đến hết) đã phải đối phó với tình trạng khủng hoảng về niềm hy vọng, vì chờ mong đã mòn mỏi mà dân vẫn không thấy “ơn cứu độ” đến. Từ đó mới đi thêm được một bước để nhận ra rằng công cuộc cứu độ mang tính chất “cánh chung” và “khải huyền” (x. Is 59:1-15; 63:1-6), với một nhân tố mới: “tử thần sẽ bị tiêu diệt” (Is 25: 8). Niềm trông chờ được nuôi dưỡng qua các Thánh vịnh: khi thì có tính cách quân sự (x. Tv 108), khi thì thể hiện qua hoài bão tái thiết Giêrusalem (x. Tv 69:36), hoặc qua ước mong được giải thoát cho khỏi tay kẻ thù (x. Tv 7:2; 12:6, v.v...), cho khỏi bệnh tật (x. Tv 6:5), v.v... Ðôi lúc, niềm chờ mong lại hướng tới một tiêu đích cao quý, siêu việt hơn (x. Tv 50:23; 62; 119:123, v.v...), thiêng liêng hơn (x. Tv 145:18-19; 149:4, v.v...). Tân Uớc khẳng tín rằng niềm chờ mong kia đã được trọn vẹn ứng nghiệm nơi Ðức Giêsu (x. Lc 2:29-32); vì thế, đã gọi Ngài là Ðấng Cứu tinh (x. Lc 2:11; Ep 5:23, v.v...). Và bây giờ sự việc đã lộ hiện rõ: ơn cứu độ là được thông phần vào đời sống của Thiên Chúa (x. Ep 2:5; 2Tm 4:18), ân huệ nhận được nhờ đức tin (x. Rm 10:9) và là ân huệ Thiên Chúa muốn ban cho hết thảy mọi người (x. 1Tm 2:4). Ðấng Cứu tinh được biểu trình trong nhiều dung mạo khác nhau. Xin nêu lên đây một số: Vua.– Bởi, qua sấm ngôn Nathan chuyển lại, Thiên Chúa đã hứa ban cho Ðavít một dòng dõi “tồn tại mãi mãi” (x. 2Sm 7:11-16), nên Ítraen coi nhà vua như là hiện thân của ơn cứu độ. Ðược Thiên Chúa chọn (x. 1Sm 10:24; |