|
PhỤc Sinh : KhỞi ÐiỂm CỦa Kitô HỌc
1. VẤn ÐỀ KhỞi ÐiỂm Khoa học nào cũng đều phải chọn một khởi điểm; Kitô học cũng vậy. Việc lựa chọn đó không phải là không quan trọng hay vô bổ, bởi tựa như một quan điểm, nó sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ luận lý của công trình nghiên cứu. D. Bonhoeffer, một mục sư Tin lành bị Ðức quốc xã xử tử năm 1945, đã nhận xét rằng Kitô học khởi sự trong im lặng. Chỉ khi biết làm cho im đi tiếng ồn ào của những âu lo trần tục và để tai lắng nghe sự lặng thinh của đức tin, thì mới có thể nhận ra được diện mạo của Ðấng Phục sinh, đang âm thầm hiện diện ở trong mầu nhiệm: mầu nhiệm mãi mãi khôn lường khôn tả, dẫu có được Thiên Chúa mạc khải. Con đường dẫn đến cùng Ngài không phải là ngôn từ hay suy luận, song là Thần Khí truyền ban sức năng biến đổi tâm lòng và dắt dìu trí khôn đến với chân lý. Vengal Chakkarai (1880-1958), một người tân tòng ấn độ, đã viết: “Ðức Kitô của kinh nghiệm quả là một thực tại đối với mọi bhaktas [1] —Tôi không có thể diễn giải vấn đề ngoài căn bản này. Bất cứ thần học kitô nào ở ấn độ cũng chỉ có thể thành tựu khi biết dựa vào kinh nghiệm trực tiếp về Thiên Chúa, theo những cách thức khác nhau Người dùng để tác động trên ta và trong ta. Vì vậy, tôi thiết nghĩ không nên kéo nhau đến bên Ðền thánh này nếu trước đó đã không cảm nghiệm về Người.” [2] Thế nên, Kitô học cần phải biết nhìn nhận nguyên tắc cơ bản này ngay từ đầu. Tuy nhiên, để xây dựng và bảo toàn bản chất “khoa học” của mình, Kitô học cần phải dựa vào những dữ liệu có thể nắm được, đo lường được, cân nhắc được cách nhãn tiền, hơn là vào kinh nghiệm thần cảm. Vì thế, nhiều tác giả bắt đầu với kinh nghiệm của Giáo hội về Ðức Kitô, như thấy được ở giữa lòng dân Chúa. Walter Kaspers viết: “Khởi điểm của Kitô học là hiện tượng học về đức tin vào Ðức Kitô, đức tin mà bây giờ các Giáo hội kitô đang tiếp nhận, cảm nghiệm, tuyên bố và thể hiện. Chỉ có thể đón nhận đức tin vào Ðức Kitô qua việc gặp gỡ với các tín hữu kitô.” [3] Mặt khác, vì Kitô học giả thiết về một lógos, tức là một quan điểm về Ðức Kitô, nên có tác giả đã muốn làm một bước dự bị bằng cách phân tích “triết lý” (theo nghĩa rộng) hiện thời của dân Chúa, với việc xem xét hoàn cảnh, tâm thức, hệ thống giá trị, nhân sinh vũ trụ quan, v.v... dựa theo đó, xã hội nắn đúc nên một cách kiểu nhận thức và quan niệm về thực tại trước mắt. Hiện nay chẳng hạn, nhân loại nói chung và dân Chúa nói riêng, đang đặc biệt lưu tâm đến những giá trị liên quan đến thế giới, đến lịch sử, đến đà phát triển và công cuộc xây dựng công bằng xã hội, đến công tác đối thoại trong mọi lãnh vực, v.v...; còn các nhà trí thức trong Giáo hội thì nhấn mạnh đến những sự kiện, như: hai bình diện tự nhiên và siêu nhiên không loại trừ lẫn nhau; lịch sử nhân loại ngay từ đầu là một thiên sử cứu độ; Thiên Chúa mạc khải ý định của Người qua những biến cố thường nhật, v.v... Như vậy, nhân học trở thành một chiều kích của Kitô học; còn hơn thế nữa, “con người” làm nên “nguồn liệu” cho thần học; khuynh hướng siêu nghiệm trùng hợp với ơn gọi của Thiên Chúa: đào sâu đáy lòng là tìm thấy Thiên Chúa tại đó, v.v... Cụ thể hơn, nhiều tác giả khởi đầu từ Kinh Thánh. Bởi nhờ mạc khải mới biết được Ðức Kitô, mà Tân Ước thì chứa đựng mạc khải về Ðức Kitô, nên nhiều tác giả đã bắt đầu từ đó. Thực ra, Tân Ước chính là Ðức Kitô, hay đúng hơn, Tân Ước bao hàm nhiều mẫu dạng Kitô học. Thế nên, thần học có thể dựa vào Kinh Thánh để khởi đầu việc nghiên cứu về Ðức Giêsu theo nhiều cách kiểu khác nhau: hoặc xem xét toàn bộ Tân Ước, hoặc chọn lấy một tác giả (chẳng hạn Gioan, Phaolô, v.v...) và nghiên cứu về dạng Kitô học của tác giả ấy, hoặc lấy những lời Ðức Giêsu nói về mình trong Phúc Âm để khám phá ra dạng Kitô học tiềm ẩn ở trong những ngôn từ ấy, hoặc tìm hiểu và đào sâu những tước hiệu chỉ về Ðức Kitô để đọc thấy dạng Kitô học của Giáo hội sơ khai, v.v..., tức là bắt đầu từ “Ðức Giêsu lịch sử.” [4] Hiện nay, còn có những tác giả chọn “tiểu sử” Ðức Giêsu làm khởi điểm và dựa theo đó mà suy diễn. Cuối cùng, cũng có thể bắt đầu công tác nghiên cứu Kitô học bằng cách đặt ra và thử giải đáp những câu hỏi cơ bản liên quan đến Ðức Kitô: Ngài là ai, đã và đang làm gì, như thế nào, tại sao, v.v...? Mỗi phương pháp đều có những lợi điểm cũng như những vấn đề cần phải đối diện. Lý tưởng là nhà thần học sống thật kinh nghiệm về Ðức Giêsu tựa như các tông đồ ngày trước: gặp gỡ Ngài như một người bạn, như một vị Thầy, như là Chúa của mình; chú tâm tìm hiểu cuộc đời Ngài trong những gì tầm thường nhất cũng như trong những gì phi thường và độc đáo cao cả nhất, tức là ngẫm nhìn Ngài trong tư cách là một người Do thái, là Vị Thiên Sai, và là Con Thiên Chúa Phục sinh. Như thế có nghĩa là phải khởi đầu với niềm tin tín hữu, rồi tiếp tục với việc nghiên cứu Kinh Thánh dưới ánh sáng của Thần Khí trong Giáo hội. Tóm lại, Kitô học chỉ là kinh nghiệm hiểu biết của một môn đồ về Thầy mình – Ðức Kitô – và xét cho cùng, chỉ có một phương pháp duy nhất để đạt đến kinh nghiệm ấy là dấn bước theo Ngài. 2. ÐỨc Giêsu PhỤc Sinh: KhỞi ÐiỂm CỦa ÐỨc Tin Kitô Nếu loại trừ biến cố phục sinh đi, thì không thể hiểu được cách hợp lý, sự kiện xuất hiện và đà triển phát của Kitô giáo. Sinh thời dương thế, Ðức Giêsu đã cho thấy Ngài coi bản thân và sứ mạng mình như là một; vì thế, khi Ngài bị giết chết – và chết trên thập giá! – chương trình của Ngài, nhóm môn đồ cũng như mọi dự án liên quan đến Ngài đều xem như tan biến hết. Thế mà ít năm sau những tai ương ấy, lịch sử cho thấy “phong trào kitô” nhân danh Ngài lại rất thịnh vượng. [5] Sau ngày thứ sáu ấy – ngày Ðức Giêsu chịu tử nạn – nhóm môn đồ đã tản mát ẩn trốn mất hút vì sợ người Do thái (x. Mc 14:50; 16:11; Ga 20:19). Nếu họ đã đặt niềm tin vào Ngài, đã ước mong một điều gì, thì thập giá cũng đã làm cho tiêu tán như mây khói, cũng đã biến tất cả thành ảo tưởng: họ không còn hy vọng gì nữa cả (x. Lc 24:21). Là những người ít học, không có địa vị trong xã hội, đến từ một miền quê xa... thế nên, vắng Thầy là họ trở thành bơ vơ, chẳng biết xoay xở như thế nào (x. Cv 4: 13). Lịch sử biết đến một số trường hợp tương tự như thế trong thời ấy: lãnh tụ bị giết là những kẻ a tòng liền tan rã, phong trào cũng biến mất (x. Cv 5:34tt). Thế nhưng, các môn đồ của Ðức Giêsu vẫn còn. Một dữ liệu lịch sử chắc chắn là chỉ ít năm sau khi Ðức Giêsu chịu chết, Giêrusalem đã chứng kiến sinh hoạt của nhóm tín hữu tin vào Ngài: họ rao giảng và kiên vững làm chứng – trong tư thế là những chứng tá đã thấy tận mắt, nghe tận tai – về Ngài, về sự việc Ngài đã sống lại và đang sống, v.v... dù có phải chịu đòn vọt, tù đày và giết chết. Ngoài ra, họ còn nói rõ về kinh nghiệm tác động của Thần Khí làm việc ở trong họ, đổi mới họ... rồi nhân danh Ðức Kitô, họ tụ họp thành một cộng đoàn – Giáo hội – với nghi thức phụng tự riêng, và cho đến nay, 20 thế kỷ sau, đức tin ấy vẫn tiếp tục tồn tại nguyên vẹn. Có thể tóm lược như sau về sự việc “đổi mới” ấy: nhóm môn đồ đã trở thành tông đồ, những người tin theo một vị Thầy (Giêsu) đã trở thành nhân chứng của Ðấng Thiên sai, vốn là người Do thái (giáo), nhưng nay họ đã trở thành kitô hữu, nhóm người Do thái, môn sinh của một Rabbi, nay đã trở thành ekklesia, Giáo hội. Họ tin vững rằng chính kinh nghiệm về Ðức Kitô phục sinh đã làm cho nẩy sinh nên lòng tin cá nhân nơi mỗi người trong họ, cũng như sứ điệp cộng đồng họ loan báo. Ðiều gì đã xảy ra? [6] Cách thức họ tuyên xưng đức tin ấy
mang nhiều mẫu dạng khác nhau: có thể là một lời
khẩn cầu, như Maranatha! “Xin
Chúa hãy đến!”
[7]
hoặc
là một câu tuyên tín ngắn gọn, như
“Thiên
Chúa đã khiến Ngài sống lại,” được nhắc lại
nhiều lần trong
Tân
Ước.
[8]
Cũng
có những công thức phức hợp và phong phú
hơn,
như 1Cr
15:3-5, Rm 1:3-4. Tập khảo luận sẽ có dịp bàn rộng hơn
về các công thức này. Dù sao thì đức tin ấy cũng
kiên vững, không gì lay chuyển nổi và hoàn toàn
đồng nhất ở khắp nơi trong các vùng quanh Ðịa Trung
Hải thời đó. Tín
hữu kitô tin rằng sau khi chịu khổ nạn và chết trên
thập giá, Ðức
Giêsu đã sống lại và
vẫn
đang sống, vì Thiên Chúa đã “đánh thức” Ngài
dậy từ cõi chết, không còn chết nữa, và đã
lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa là Cha Ngài.
Ngài
là
Ðấng Thiên sai, “Ðấng Kitô,” Vị
Cứu Tinh duy
nhất của toàn thể nhân loại; Ngài đang sống giữa
Giáo hội cho đến hồi thế mạt, và sẽ trở lại
xét xử kẻ sống và kẻ chết. Ðức tin này phát
sinh từ đâu? Không
ai đã tận mắt chứng kiến biến cố sống lại; dù
có xưng là “nhân chứng” của sự việc Ðức
Kitô sống lại (x. Cv 2:32; 3:15; 5:32; 10:39), thì không bao
giờ các tông đồ nói là các vị đã có mặt ở
bên mồ lúc biến cố xảy ra. Trái lại, chỉ các ngụy
thư mới dám ‘cả gan’ miêu tả – cho thỏa mãn
tính tò mò bẩm sinh của con người – Ðức Kitô
lúc Ngài sống lại, đi ra khỏi mồ.
[9]
Vì
thế, có nhiều giả thuyết đã được đưa ra nhằm
giải thích sự kiện “đổi mới” nói trên; điều
đó cũng không có gì là lạ, bởi một khi đã
phủ
nhận chứng từ của Tân Ước, thế tất phải sáng
tác ra những giả thuyết hầu chống đỡ lập trường
chủ trương.
[10]
Theo cách kiểu biện
luận đó, có kẻ cho rằng cảm nhận ra
kinh
nghiệm
“trở lại” và được tha thứ, các tông đồ đã
tưởng đó là do ảnh hưởng tác động của Ðức
Giêsu, thế nên họ mới nghĩ nhất thiết Ngài “phải” đang
sống, tức
là đã sống lại; kẻ khác lại chủ trương
rằng các môn đệ đã được “soi sáng” qua một
kinh nghiệm siêu nghiệm, và sau đó họ giải thích coi
đó là “sự việc sống lại” thực sự của Thầy mình; hoặc giả các môn đệ đã tin Thầy mình là Mêsia (Ðấng
Kitô), thế rồi sau khi Ngài chết, họ đã “nhớ lại”
những điều học được và sống theo giáo thuyết
của
Ngài,
do
vậy, họ cho
rằng Ðức Giêsu vẫn còn sống giữa họ, v.v... Ðể
làm sáng tỏ vấn đề, thì thử hỏi: Các
môn đồ của Ðức
Giêsu đã hiểu và đã tin những gì lúc Thầy mình
còn sống cuộc đời dương thế? Mt
16:16 ghi lại lời tuyên xưng của Phêrô: “Thầy là
Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”; nhưng các
văn bản song song Mc
8:29 và Lc 9:20 thì không ghi vế: “Con Thiên Chúa,” vì
thế, các nhà chú giải nghĩ rằng Matthêu đã lấy
lại một công thức đức
tin của thời hậu Phục sinh. Chính Matthêu cũng đã ghi
lại trong câu 14:33, một lời tuyên xưng của các môn
đồ: “Quả thật Thầy là Con Thiên Chúa,” nhưng
tiếp theo đó, không thấy Ðức Giêsu lên tiếng khen
các ông như Ngài đã khen Phêrô (x. Mt 16:17); và nếu
lời tuyên xưng qua câu Mt 14:33 đã được nói lên
trước,
thì
câu trả lời của Phêrô trong Mt 16:16 sẽ không còn phải
là lời tuyên xưng đầu tiên, và không đáng
được Phúc Âm cẩn trọng
nêu
bật đến như thế. Xin ghi
ra đây một vài thí duï giúp
cho
hiểu về phương pháp hành văn của các tác giả
Phúc Âm: khi trình thuật
những
biến cố trước Phục sinh, các vị thường ghi kèm thêm
những ý nghĩa mà các vị chỉ ý thức ra được một
khi Ðức Kitô đã sống lại, nhờ ánh sáng Phục sinh
và ơn của Thần Khí sau ngày Lễ Hiện xuống. Phương
pháp này còn lộ hiện rõ hơn trong Phúc
Âm
thánh Gioan, đã được ngài biên soạn theo dạng
thức biện chứng “đức tin – vô tín.” Vì thế,
ngay từ đầu, Phúc Âm thứ tư đã ghi lại nhiều
lời tuyên xưng thật là rõ ràng; thí dụ Ga 1:49; 6:69;
16:30; v.v... Khi
sinh hoạt với Ðức Giêsu, các môn đệ không đặt
vấn đề theo cách kiểu trí thức: họ không tự hỏi
Thầy mình có phải là “Thiên Chúa” hay không, bởi
họ không thể nào ngờ được Thầy mình là Thiên
Chúa! Lòng tin của họ đã không có được một nội
dung rõ ràng, bởi đó chỉ là một thái độ hiện
sinh, tức là chỉ biết đặt hết tin tưởng vào Thầy
mình một cách vô điều kiện. Họ
đã biết Ngài
và tin vào Ngài, bỏ mọi sự vì Ngài và để theo
Ngài: đó là hạt giống đức tin sẽ triển nở và
mọc lên sau biến cố Phục sinh. Nếu họ nhìn nhận
Ðức Giêsu chỉ đơn thuần là Ðấng Thiên sai, thì
chắc hẳn họ đã hiểu lầm; tuy
nhiên, không
phải là chuyện lạ, vì tâm trí họ còn quá mù tối, thế tục.
[11]
Tuy
nhiên, hạt giống đức tin ấy cần phải có nội dung
khách quan. Lời nói và việc làm của Ðức Giêsu
chính là nội dung ấy: những lời nói và việc làm
mà các môn đồ ghi nhớ nằm lòng, và đã trở
thành mầm giống của đức tin sau Phục sinh. Xin được
kể ra đây một số: a.
Thái độ của Ðức Giêsu đối với Lề Luật Thiên
Chúa: chỉ có thể hiểu được nếu Ngài biết rõ ý
Thiên Chúa một cách chắc chắn và trực tiếp.
[12]
Ðặc
biệt là thái độ đối với ngày Sabát: “Ngày
Sabát được làm ra vì con người, chứ
không phải con người
vì ngày Sabát. Bởi đó, Con
Người làm
chủ luôn cả ngày Sabát” (Mc 2:27-28).
[13]
Về
Ðền thờ, Ðức Giêsu cũng đã đưa ra một lời xác định đầy
ý nghĩa: “Ở đây còn lớn hơn Ðền thờ nữa”
(Mt 12:6). b.
Ðức Giêsu hiểu về sứ mệnh của Ngài một cách
khác hẳn với “dư luận” Do thái, khác cả với
truyền thống của Ítraen nữa. Ngài không theo đường
lối của một “phái đảng” nào (Biệt phái, Sađóc,
Nhiệt tình); như thế nghĩa là Ngài có một sứ mệnh
hoàn toàn cá biệt và đặc thù. Ngài biết rõ cung
cách Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử (x. Mc 13:1tt; Lc
17:20-21; Ga 9:2-3; v.v...), tựa như Ngài có tương quan
trực tiếp với chính Thiên Chúa. c.
Hết sức quan trọng là sự việc Ðức Giêsu gọi
Thiên Chúa bằng danh hiệu abba,
“ba” (x. Mc 14:36); các môn đồ không thể không ngạc nhiên khi nghe
xưng hô như thế, và quả thật họ đã không quên
điều mạc khải trọng đại đó (x. Rm 8:15; Gl 4:6). d.
Ðức Giêsu ý thức mình được sai đến để hòa
giải những tội nhân và tha thứ mọi tội lỗi (x. Mt
11:4t; Mc 2:5-12,13-17; Lc 15; v.v...), ngoài sức tưởng
tượng của dân chúng và các luật sĩ. e.
Ðức Giêsu biết mình là “Ðấng phải đến” (Mt
11:3t; Lc 4: 18t; 10:23-24), là “Con vua Ðavít,” Ðấng “Thiên
sai,” dù chưa chắc Ngài hiểu rõ ý nghĩa của các
tước hiệu ấy (x. Mt 21:1tt; 22:41tt). f.
Sứ điệp của Ðức Giêsu không nói về “thế
giới tương lai” như các thầy Rabbi khác trong thời
ấy, mà là về “vương quyền của Thiên Chúa.” Hơn
nữa, Ngài đóng giữ vai trò quyết định ở trong “Nước
Thiên Chúa,” đến độ vương quyền ấy quả đã
thực sự hiện
diện ở nơi Ngài rồi (x. Mt 12:28; Mc 4:11; Lc 17:21). g.
Bữa
tiệc ly đã ghi lại trong tâm khảm các môn đệ một kinh
nghiệm sâu đậm, khi họ nghe Thầy mình nói về “giao ước
mới,”
về cuộc tử nạn Ngài sắp trải qua cũng như về ý
nghĩa của biến cố ấy. Chắc
hẳn, thay vì xóa mờ đi, thì
ngược lại
những thử thách của cuộc thương khó càng bền
chắc ghi khắc những kỷ niệm đó vào sâu trong tâm
khảm của các mộn đệ. h.
Cuối cùng, hẳn nhiều chi tiết trong đời sống Ðức Giêsu đã không thể không khiến các môn đồ
phải suy nghĩ. Trước hết là các phép lạ, việc
trừ quỷ, cách nói năng giảng dạy có “uy thế.”
Vậy, Ngài là ai? Một ngôn sứ? — Hẳn là hơn. Ðấng
Thiên sai ư? — Có lẽ còn hơn thế nữa. Bởi còn hơn cả
Salômon (x. Mt 12: 42), cả Ðavít (x. Mt 22:45), hơn Ðền
Thờ (x. Mt 12:6), và hơn cả Luật về ngày Sabát (x. Mt
12:8). Những bậc “hơn” đó là như những bậc thang
đưa dẫn các môn đồ bước dần lên tới căn tính
đích thực của Thầy mình. Cái
gì đã làm cho họ hiểu? Thưa: Biến cố Phục sinh.
Biến cố ấy là như ánh sáng soi dẫn cho họ nhận ra
những điều họ hằng nhìn mà không thấy. Bấy giờ
mọi sự đều có ý nghĩa, vì họ nhìn với “con mắt
đức tin,”
[14]
chứ
chẳng phải họ đã bịa đặt ra những biến cố ấy.
Các học giả đã giải thích như sau:
“Ðối với các tông đồ, Tin Mừng mà thiếu
đi Phục sinh thì chẳng những là một Phúc Âm cắt
cụt, mà thực ra không phải là Tin Mừng gì cả.”
[15]
“Kerygma – sứ điệp của Thiên Chúa – có đứng
vững hay không là tùy ở tâm điểm của nó, tức
là tùy ở sứ điệp Phục sinh. Sự
việc Ðức Kitô sống lại là
điều kiện tiên quyết để Giáo hội có thể xuất hiện, là căn
nguyên của niềm tin đặc thù kitô giáo vào Thiên
Chúa, cũng như của mối quan tâm Kitô giáo có đối với đời
sống con người ở thế giới này.”
[16]
“Nếu có một
khâu trong chuỗi dài các sự kiện để chịu toàn bộ
sức nặng của cả dây xích đang treo, thì, theo Tân
Ước, khâu ấy chính là biến cố Sống Lại.”
[17]
“Hiện
nay, đại đa số các nhà chú giải đều đồng ý là
Kitô học của Tân Ước đã khởi phát và hình
thành từ niềm tin của các môn đệ, hằng kiên
quyết tuyên xưng rằng Ðức Giêsu, người đã bị
đóng đinh, nay
đã được Thiên Chúa cho sống
lại từ cõi chết.”
[18]
Tắùt
một lời, có thể coi biến cố Sống Lại như là dấu
cộng (+) hay dấu trừ (-) đặt trước một biểu thức:
nó không thuộc về công thức nhưng lại đổi hết
số trị; đối với
toàn bộ cuộc đời và sứ mạng
của Ðức Giêsu, biến cố Sống Lại cũng giữ một
vai trò tương tự như thế: là làm cho tất cả mang ý
nghĩa tràn đầy, hay trở thành phi lý, vô ích. 3.
ÐỨc
Kitô Ðã SỐng LẠi ThẬt Nghiên cứu về
biến cố Phục sinh là một việc
làm hết sức phức
tạp. Không dễ mà chứng minh; phủ nhận thì xem ra
hiển nhiên hơn; thuyết phục cho tin thì đó là do ơn
của Thần Khí Thiên Chúa.
[19]
Hiện giờ, các học giả đang tranh luận sôi nổi về
chủ đề này. Họ đã khảo tra mọi chi tiết, mọi
hoàn cảnh, mọi vụn mảnh sử liệu, để rồi đạt đến những
kết luận đủ thứ, những quan niệm đủ loại về
biến cố Phục sinh. Dĩ nhiên, đức tin Kitô giáo
không dựa vào cũng như không nằm trong phạm vi của
những kết luận các nhà học giả đưa ra.
[20]
Trước
hết, cần phải ý thức rõ đó là một mầu nhiệm,
và vì thế hàm chứa một nội dung vô tận. Thánh
Tôma Aquinô đã có dịp nhận định như sau: “Viết
về mỗi phép lạ và lời nói của Ðức Giêsu Kitô
có nghĩa là phải giải thích tầm quan trọng của mỗi
lời và mỗi việc. Mà mỗi lời nói, mỗi việc làm
của Ðức Kitô thì đều là của Thiên Chúa. Vì vậy,
nếu có ai muốn khai triển hoặc trình bày ý nghĩa của
mỗi việc như thế, thì hẳn là không làm nổi. Còn
hơn thế nữa, dù toàn thể nhân loại cùng làm, thì
cũng không thực hiện được việc này, vì những
lời con người có nhiều bao nhiêu mặc lòng thì cũng
không bằng một Lời duy
nhất của Thiên Chúa. Từ buổi đầu trong Giáo hội cho tới nay, bao giờ
cũng có những sách viết về Ðức Kitô, nhưng vẫn
không đủ. Dù
thế giới có còn kéo dài thêm một trăm triệu năm, thì những cuốn sách viết
về Ðức Kitô cũng vẫn tiếp tục xuất hiện mãi; tuy
vậy, những lời nói việc làm của Ðức Kitô vẫn
còn phải tiếp tục chờ để được giải thích cho
đầy đủ thỏa đáng.”
[21]
Còn
một học giả hiện đại thì đã thú nhận như sau,
lúc khởi công viết về chủ đề: “Tôi
phải khởi sự công việc nghiên cứu này với lời
thú nhận
(hiện giờ ít có ai dám nói rõ ra) là tôi sẽ bàn
đến một đề tài mà nói cho cùng, tôi cũng chẳng
có thể hiểu được.”
[22]
a.
Ðặc tính của vấn đề độc nhất vô nhị này.—
Sự việc Ðức
Kitô sống lại
không phải là một biến cố lịch sử “trung lập”
để có thể nghiên cứu một cách vô tư, bàng quan. Ðối với người kitô,
sự kiện ấy hoặc có sức minh chứng cho đức tin,
hoặc nên cớ ngộ nhận về đức tin này, coi đó là
hão huyền, là điên rồ (x. 1Cr 15:17). Phục sinh là
trọng tâm của đức tin kitô. Nếu chỉ coi Phục
sinh thuần túy như là một đề tài bàn luận, thì trí
óc thế gian sẽ cảm thấy đó là chuyện kỳ quặc,
khó tin, huyền
thoại...; xưa
cũng như nay, bao giờ “vấn đề ấy” cũng đều bị
xếp vào loại những chuyện ‘chướng tai’ (x. Cv 17:32). Thực
ra, công luận không có được một ý niệm cho đúng
đắn, chính xác về sự việc “sống lại”: Sự
việc Ðức Kitô sống lại khác hẳn với việc hồi
sinh một thể xác, cũng chẳng phải là việc đơn
thuần “sống lại/dậy” trong ký ức của các bạn
hữu, cũng không phải là “sự sống còn” trong
sứ mạng, chủ nghĩa hoặc công trình, v.v... của Ngài, và
khác hẳn với
các người được phép lạ làm cho sống lại – như
Ladarô chẳng hạn – để tiếp tục sống cuộc sống
ở đời này, như đọc thấy qua nhiều đoạn trình
thuật trong Kinh Thánh (x. 1V 17:17-24; 2V
4:
18-37; Mc 5:21-43; Lc 7:11-17; Ga 11:1-44; Cv 9:36-42; 20:7-12).
Không trở về lại với cuộc đời cũ,
Ðức
Giêsu sống lại đã tiến lên
để đi vào một cuộc sống mới, vượt ra ngoài phạm
vi giác quan, ra ngoài giới hạn ba chiều kích của vật
lý, ra ngoài vũ trụ này, một cuộc sống trường
cửu, không biết đến sự chết (x. Rm 6:9), theo cách
thể hiện hữu cánh chung trong Thiên Chúa. Do vậy,
cuộc sống ấy cũng vượt luôn ra ngoài tầm thẩm tra
hạn hẹp của các công cụ khoa học. Lại
nữa, biến cố đã xẩy ra tại Giêrusalem vào năm 30
(?) là biến cố duy nhất; không những đó là cuộc
sống lại đầu tiên mà còn là cuộc sống lại duy
nhất: chúng ta hy vọng sẽ được sống lại “giống
như” Ngài, nhưng sẽ không được “hệt như”
Ngài.
Thế
mới rõ: cuộc Ðức Kitô sống lại không xảy ra trong
lịch sử, cũng chẳng thuộc về lịch sử, nhưng đã
xảy ra phía “bên kia” của lịch sử, của tấm thảm
lịch sử. Bởi vậy, những phương pháp nghiên cứu
lịch sử không thể thấu đạt biến cố ấy được. Ðiều đã xảy đến
cho Ðức Giêsu thì không thể biết được, nhưng lịch
sử có thể biết được những gì đã xảy ra cho
các môn đồ, và làm cho các vị hiểu đó là do tác động của “Ðức
Kitô phục sinh” tạo nên.
[23]
Muốn
với cho tới biến cố sống lại của Ðức Giêsu, thì
chỉ có một con đường duy nhất phải đi qua là các
nhân chứng. Nhân chứng là người đã chứng kiến
một biến cố và ý thức rõ về biến cố ấy. Nhưng,
người làm chứng cho hoặc về một người, có
thể là
bạn hữu hay kẻ thù của người đó, tức là có
thái độ tích cực hay tiêu cực đối với người
ấy; thế nên, cần phải kiểm chứng và phê bình
những bằng chứng của người làm chứng. Ðối với
biến cố Phục sinh, bằng chứng là những tài liệu do
các môn đồ để lại, được soạn thành văn một
hay hai thế hệ sau biến cố. Do đó, các nhà phê
bình đặt vấn đề về chính xác hay xác thực tính của
các
tài liệu. Khác
với thời xưa – thời chứng kiến việc gieo rắc
lời tố cáo các môn đồ, cho rằng các vị đã
đánh cắp xác của Ðức
Giêsu!
– ngày nay, ít có ai đặt vấn đề về trung thực
tính của các tác giả văn liệu. Cũng còn có giả
thuyết nói là Ðức Giêsu đã giả chết hay chết
giả, hoặc ngất đi, chứ không chết thật; nhưng vì
chủ trương quá trái ngược với các sử liệu, nên trong thời này, giả thuyết ấy
chẳng
còn được ai theo nữa cả. Nhưng
nếu, thành tâm thật mà vô tình, các môn đồ đã
giải thích lầm đi những kinh nghiệm chủ quan của mình
thì sao? b.
Những vấn đề tâm lý.—
Sự chờ mong có ảnh hưởng lớn trên cách nhận
thức về một biến cố. Thế nên, theo nguyên tắc sử
học, nếu các sử liệu ghi chép về những gì đã
xảy ra đúng như người ta chờ mong, thì khoa phê bình
lịch sử cần phải giữ thái độ nghi ngờ theo phương
pháp để tạm coi đó có thể là chuyện bịa đặt.
Lẽ tất, cũng có thể xảy ra chuyện thật đúng như
người ta mong chờ. Ðó là trường hợp lời Thiên
Chúa hứa trong Kinh Thánh ứng nghiệm. Nhưng,
nói chung, nếu có tài liệu ghi lại
một
điều nào
đó đã xảy ra trái với lòng mong chờ của tác
giả tài liệu,
thì giá trị lịch sử của tài liệu ấy càng được
củng cố kiên vững hơn. Thế thì, trong thế kỷ ấy,
dân Do thái và nhóm môn đồ còn đang hy vọng, trông
chờ điều gì? Các
Phúc Âm phản ánh cho thấy những “tín ngưỡng”
trong dân Do thái thời ấy. Phái Sađóc không tin có
sự sống lại (x. Mt 22:23);
nhóm
Biệt phái lại tin, nhưng
cho rằng loài người sẽ sống lại vào hồi thế mạt, trong “thế giới tương
lai;” họ xác tín là thể xác sẽ hồi sinh. Dù sao
thì cũng chẳng có ai trông chờ một vị Thiên sai
phục sinh.
[24]
Bởi thế, các môn đồ của Ðức Giêsu cũng không
mong chờ gì khác hơn về điểm này. Thật vậy, khi
thấy Thầy mình bị xử quyết, mọi hoài bão đã ra
mây khói, họ rơi hẳn
vào cảnh tuyệt vọng (x. Lc 24:21). Các
Tông đồ quyết thông truyền cho các thế hệ sau
những kinh nghiệm về Ðấng Phục sinh (x. 1Cr 15:3t).
Nghiên cứu kỹ những văn liệu các vị để lại, thì
sẽ thấy có những hình thức cấu trúc giống nhau.
Có phải đã có một dạng thức mẫu, “chính
thức”
để tất cả các văn bản đều phải noi theo hay không?
Một phần nào đó là như thế, vì các văn bản ấy
nói lên cùng một lời tuyên tín duy nhất. Vì vậy,
các lời chứng ấy bao gồm luôn cả lời giải thích.
Thực ra, mọi lời chứng, mọi lời trình thuật hoặc
kể lại một biến cố đều là những lời giải thích
về biến cố ấy: đó là luật tâm lý! Ðã đi vào
con đường truyền lưu, thì bất cứ kinh nghiệm nào
cũng đều phải lồng mình vào khuôn mẫu của ngôn
ngữ thường thức, và mặc lấy não trạng của
người kể cũng như người nghe; như thế, kinh nghiệm
trở thành một “câu chuyện.” Vì phải thích nghi
với môi trường, nên câu chuyện kể cũng đổi
khác dần đi so với câu chuyện gốc. Khi hình thức,
chi tiết đổi khác đi mà nội dung vẫn trung thực, thì
câu chuyện đã bảo toàn được giá trị lịch sử. Lắm lúc một câu chuyện đúng phân nửa,
nhưng lại minh họa
chân dung của một người rõ hơn tốt hơn là một
thiên mô tả từng chi tiết một về người đó.
[25]
Về
Ðức Giêsu Phục sinh, các Phúc Âm kể một số điều
về các cuộc hiện
ra với nhiều chi tiết khác nhau,
thậm
chí còn đối nghịch
nhau: đáng tin hay không? Ðể giải đáp cho câu hỏi
thì cần lưu ý đến điểm này: mục đích chính của
các trình thuật ấy không phải là miêu tả một biến
cố, nhưng là làm chứng về một con người, là
thông truyền niềm xác tín kiên vững, không gì lay
chuyển được, về việc họ đã gặp thấy Ðức
Giêsu đang sống, và sống một cách lạ lùng khôn
tả. Vốn đơn sơ, lương thiện và nhất là không sợ
phải – và thực sự đã – hy sinh mạng sống vì
chứng từ của mình: những người chứng như thế
quả là rất đáng tin. c.
Từ ngữ về sự sống
lại.— Tất nhiên, trong lãnh vực này, ngôn ngữ
buộc phải dùng tới phép ẩn dụ. Tựa như khi Ðức
Giêsu nói về “Nước Trời” thì đã dùng đến
dụ ngôn, khi các thi sĩ diễn tả tình cảm sâu kín,
hoặc khi các bậc thần nghiệm viết về những cảm
nhận thiêng liêng siêu việt, v.v... thì phải dùng
đến hình ảnh, thí dụ minh họa; cũng vậy, khi tuyên
giảng về mầu nhiệm “sống lại,” các tông đồ
đã phải dùng đến ẩn dụ.
[26]
Ngôn ngữ loài người
không có được những ý niệm trực
tiếp về các thực
tại siêu việt và siêu nghiệm. Ðể minh họa, xin
được nêu lên sau đây một số trường hợp dùng
đến ẩn dụ: —
Trong Kinh Thánh, từ egeirein
có nghĩa “thức dậy,” “đứng dậy,” được dùng đến 75 lần; từ anistanai có nghĩa “dậy,” “sống lại,”
được
dùng
đến 33
lần. Người
chết cũng như người bệnh được quan niệm như đang nằm trong mồ. Vì thế, Phúc Âm
thuật là Ðức Giêsu đã cầm tay bà nhạc mẫu của
Simon mà “đỡ dậy” (x. Mc 1:31; Ðn 12:2; Ep 5:14). Hoặc
coi kẻ chết như là kẻ “đã
ngã gục” (2Sm 1:25); vì thế, có
lời tiên báo: “Các
vong nhân của ngài sẽ sống lại, xác họ sẽ đứng
lên” (Is 26:19). Cựu Ước chỉ đơn thuần cho thấy ý
nghĩa chỉ về sự sống lại cánh chung vào hồi thế
mạt; điều mới lạ trong Tân Ước là tuyên bố về
sự sống lại của một nhân vật đương thời. Phép
ẩn dụ dùng ở đây, dựa vào tính chất tương
đồng giữa hai sự kiện: cũng như kẻ ngủ và
người thức là một, thì cũng thế, kẻ chết và
người sống lại là một. Tuy nhiên, phương thức
hành văn như thế cũng có giới hạn của nó, bởi
không thể diễn đạt được hết tất cả; vì vậy,
trong 1Cr 15, tông đồ Phaolô đã cố gắng giải thích
được chừng nào có thể, về mầu nhiệm đó. — Từ hypsoo [27] có nghĩa “nâng lên,” được dùng để biểu trình thân phận của Ðấng Phục sinh, như ngầm thấy được (hypsoo), trong lời kinh Maranatha! “xin Chúa hãy đến!” hoặc minh nhiên nói lên ở trong Pl 2:8t: “Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài lên,” “đã nâng Ngài lên” (Cv 2:33; 5:31; 1Tm 3:16). Ẩn dụ “ngồi bên |