|
CHƯƠNG I TruyỀn giáo hỌc
Sau công đồng
Vaticanô II, đã có nhiều sách viết về chủ đề
này; tạp chí chuyên đề “Truyền Giáo” cũng đã
thi nhau xuất hiện theo đà trăm hoa đua nở. Tiếp theo
lời công đồng khẳng định rõ là Giáo hội mang “bản
chất truyền giáo,” thần học đã dốc lực minh
giải để cố giúp cho thấy “bản chất” ấy là
như thế nào. Từ đó, đọc thấy nhiều tác phẩm
bàn về các đề tài liên quan đến truyền giáo,
như: “rao
giảng Tin mừng,” “đối thoại liên tôn,” “hội
nhập văn hóa,” “phát triển và truyền giáo,” v.
v. Vấn đề là trong
khi sách vở viết về
truyền giáo ngày càng nhiều thì, ngược lại, số
thừa sai – tức các nhà truyền giáo – ngày càng
ít đi. Sứ vụ truyền giáo đã gặp phải khủng
hoảng, cách riêng là vì hai lý do: 1) lý do lịch
sử: vì công cuộc truyền giáo đã phần nào dính
líu với phong trào đế quốc Tây phương; do đó, khi
các thuộc địa dành được độc lập, tự do, nhiều
người từ chối làm việc truyền giáo, coi đó là
việc làm của thực dân. Phía Tin lành, World
Missionary Conference (Bangkok 1972-73) đã yêu cầu tạm
ngưng truyền giáo. Phía Công giáo, nhà Truyền giáo
học, Ludwig Ruetti, đã dùng và khai triển từ ngữ
“shalom (hòa bình) thay cho ‘truyền giáo’”;
[1]
2) lý do thần học
(thần học về các tôn giáo): giáo lý cổ truyền
dạy rằng bất cứ ai cố gắng sống theo lương tâm,
làm lành lánh dữ thì đều có thể được cứu
độ. Lập trường này được Vaticanô II phê chuẩn
(x. GH 16). Nhưng, trong thời hậu công đồng, nhiều
tác giả đã đi xa hơn, và đã phổ biến những
giả thuyết về: “kitô giáo vô danh,” “Giáo hội
ẩn tàng và hiển hiện,” “Lịch sử cứu độ chung
và riêng,” “Kitô học vũ trụ,” “hạt giống
Ngôi Lời,” v.v., hoặc về hoạt động của Thần Khí
ở trong các tôn giáo, về đối thoại liên tôn,
v.v. Nhiều thừa sai bối rối, không còn hiểu sứ
vụ của mình là gì nữa; thần học làm như không
còn dám giữ các lập trường cổ truyền về Ðức
Kitô, về sự việc Ngài là Ðấng Cứu độ phổ
quát duy nhất. Tòa thánh đã phải can thiệp qua
việc công bố thông
điệp Sứ Mệnh Ðấng Cứu Ðộ (Redemptoris Missio:
năm 1990).
[2]
Vì thế, thần
học đã phải suy xét lại về quá khứ và trù bị
cho tương lai, nhằm góp phần vào trong sứ vụ chí
thánh Ðức Kitô đã ký thác cho Giáo hội, hiền
thê của Ngài, ở giữa lòng lịch sử. TruyỀn
giáo hỌc Nói chung, “Truyền
giáo học” là khoa
suy tư thần học về sứ vụ rao giảng Tin mừng của
Giáo hội. Suốt bao thế kỷ, từng ngàn vạn vị
thừa sai đã dấn thân cho công cuộc lớn lao ấy;
Giáo hội đã công bố nhiều tài liệu về công
tác truyền giáo; dù vậy, vẫn không thấy thần học
soạn ra một khoa chuyên đề, thiết lập một bộ môn
đặc biệt, và cũng không thấy các đại học mở
phân khoa về “Truyền giáo học.” Từ thế kỷ 16,
đã có nhiều tác phẩm do các thừa sai viết về
lịch sử và về điều mà bây giờ có thể gọi
là
“nhân chủng học.” Trong
lãnh vực này, Dòng
Tên đã có những
đóng góp lớn, do các bài trình thuật gửi về Bề
trên Tổng quyền, cũng
như do các thư (của
thánh Phanxicô Xaviê, chẳng hạn), hoặc những sách
viết về công trình truyền giáo (như các tác phẩm
của cha Ðắc Lộ). Truyền giáo
học có hệ thống đã khởi xuất từ phía các anh
em Tin lành,
với Karl Graul († 1864)
và nhất là với Gustav Warneck († 1910). Phía Công
giáo đã có Rudolf Cornely († 1908), Friedrich Schwager (†
1929) và nhất là Josef Schmidlin (1876-1944: chết trong
trại tập trung Ðức quốc xã), người thường
được gọi là ông tổ của Truyền giáo học công
giáo. Cha Schmidlin đã ảnh hưởng sâu rộng trên tư
tưởng công giáo qua trường Muenster (ở Ðức
quốc, sáng lập năm 1910) với đặc điểm là nêu
bật việc trở lại của dân ngoại. Song song với trường
Muenster thì có trường Louvain (Bỉ), do cha Pierre
Charles, sj, sáng lập, với chủ trương cho rằng mục
tiêu của việc truyền giáo không phải là “cứu
rỗi các linh hồn,” hoặc “làm cho dân ngoại trở
về với Chúa,” v.v., song là “mở rộng biên
cương Giáo hội hữu hình, nhằm hoàn tất tiến trình
lớn lên, hầu bao phủ toàn thế giới với lời
cầu nguyện và việc phụng thờ, tức là để mang
lại cho Ðấng Cứu Thế toàn bộ gia sản của Ngài.”
Rất phổ biến trước Vaticanô II, lập trường này
đã được công đồng chấp nhận và điều hòa
với các quan điểâm khác (x. TG 6). Hai trường Tây
ban nha và Paris thì hầu như hoàn toàn rập theo chủ
hướng của trường Louvain. Trường Tuebingen, ở
Ðức, do J. S. Drey († 1853) sáng lập, quan niệm Giáo
hội như một cơ thể sống động nhờ Thần Khí hiện
diện. Theo giáo
thuyết này, công cuôc truyền
giáo chính là bản chất của Giáo
hội, một Giáo hội đang tự xây dựng mình lên;
nghĩa là nhờ Thiên Chúa thúc đẩy Giáo hội cố
gắng vun trồng, nuôi
dưỡng, hoàn thiện và
hoàn chỉnh đức tin trong bác ái, giữa lòng mọi
dân tộc. Ðức Bênêđíctô XV († 1922) đã muốn
thành lập một Viện Cao Học về Truyền giáo học,
[3]
nhưng cho đến năm
1932, Phân khoa Truyền giáo học đầu tiên mới
được thiết lập tại Ðại Học Grêgôriana (Rôma),
và năm sau, tại Ðại Học của Propaganda Fide
(bộ Truyền bá Ðức tin). Tiếp sau đó, nhiều phân
khoa Truyền giáo học đã xuất hiện, chẳng hạn như
tại Ðại Học Comillas (Tây ban nha), Institut Catholique de
Paris, Louvain (Bỉ), Fordham (Hoa Kỳ), v.v. Sau Vaticanô II,
vì công việc truyền giáo gặp phải khủng hoảng cả
về mặt lý thuyết lẫn
trong bình diện thực tiễn, nên những quan niệm tri
thức không còn có ảnh hưởng gì mấy nữa. Phía
Tin lành, Donald A. McGavran sáng lập trường Church
Growth School, hướng về việc đào tạo cho có
những thừa sai thực sự thành thạo và hứng
khởi; còn phía Công giáo, Ðức Gioan Phaolô
II đã một
lần nữa,
qua thông điệp Sứ
Mệnh Ðấng Cứu Ðộ (Redemptoris missio), khẳng
quyết về ý nghĩa đích thực của tác vụ truyền
giáo. Danh
TỪ và Ý NiỆm Muốn tìm hiểu về một bộ môn mang tính chất “khoa học,” thì cần phải dùng đến những khí cụ đặc biệt là các thuật ngữ riêng của nó. Như thần học nói chung thì Truyền giáo học nói riêng cũng có một số ý niệm chuyên biệt cần phải biết đến. Về bộ môn học này, tiếng Việt thường dùng thành ngữ “truyền giáo” hoặc “rao giảng Tin mừng” để biểu đạt nội dung sinh hoạt của nó, và gần đây, lại dùng một hán từ khác, đó là “phúc-âm-hóa,” để dịch sát nghĩa từ evangelization! Các tiếng Tây phương, gốc Latinh, thường dùng thuật ngữ missio với những ý nghĩa khác nhau, tùy theo trường phái hoặc tác giả. Ở đây, xin được lưu ý cách riêng đến một số thuật ngữ: i. Missio,
Mission._
Nói chung, “missio” là đối tượng của “missiologia.”
“Missio” bởi động từ Latinh mittere (“sai
đi”) mà ra. Trong Kinh Thánh, không đọc thấy từ
này, nhưng các lãnh tụ như Môsê (x. Xh 3:15) hoặc
Ghêđêôn (x. Tl 6:4), và các tiên tri (x. 2Sb 24:19, Gr
7:25, v.v.) đều đã được Thiên Chúa “sai đi.”
Chính Ðức Giêsu đã áp dụng cho mình những lời
trong Is 61:1 để miêu tả sứ vụ của Ngài (x.
Lc 4:18). Khi
huấn luyện các môn đồ, Ðức Giêsu cũng đã “sai
phái” mười hai môn đồ “đi”; chính vì thế mà
các ông được gọi là tông đồ. Trong tiếng
Hylạp, apóstolos có nghĩa là “người được
sai đi,” hệt như missionarius trong tiếng Latinh.
Phúc âm Gioan thường giới thiệu Ðức Giêsu như
là Ðấng Chúa Cha sai đi/đến; và sau khi sống lại,
chính Ngài sai các môn đồ đi như Cha đã sai Ngài,
nghĩa là trao phó sứ vụ của Ngài vào tay các
tông đồ, tức vào tay của Giáo hội (x. Ga 20:21). Vì
vậy, toàn bộ sứ vụ của Giáo hội tóm gọn ở
trong sự việc được sai đi và không ngừng được
sai đi. Hồi thời tân
đại, với Inhã Loyola, từ missio đã bắt đầu
mang ý nghĩa chỉ về việc rao giảng Tin mừng cho các
dân tộc ngoài Hội Thánh. Sau đó, Thánh bộ Propaganda
Fide đã nhận missio theo nghĩa vừa nói, làm
đối tượng và mục đích của mình. Khi Truyền giáo
học xuất hiện, nhiều cách thức đã được đề
xuất để định nghĩa missio
cho thật chính xác. Các chuyên
gia về khoa môn này coi đó là “vấn đề then chốt
của Truyền giáo học,”
[4]
tuy nhiên, họ lại
không đồng ý với nhau. Cả các thành viên Uỷ ban
về truyền giáo trong công đồng Vaticanô II cũng
không nhất trí về những cách thức định nghĩa. Có
trường phái nhấn mạnh đến yếu tố địa lý;
[5]
có nhóm khác lại
chọn đức tin làm tiêu chuẩn;
[6]
cũng có trường
phái lấy Giáo hội làm quy tắc để phân biệt các
hoạt động tông đồ hoặc mục vụ.
[7]
Thật ra, trong
các thứ tiếng Tây phương, từ missio hàm ngụ
nhiều ý nghĩa khác nhau. Theo Giáo
luật, missio là: 1) sứ vụ
hoặc sứ mạng của Giáo hội nói chung, bao gồm tất
cả những việc Giáo hội có bổn phận chu toàn (x.
khoản 114 và 794), hoặc mục đích cụ thể của một
người hoặc một tổ chức (x. kh 801). 2) một giáo
khu, một lãnh địa, nơi các thừa sai rao giảng Tin
mừng, hoặc đơn thuần là vùng đất thuộc Thánh
bộ Truyền giáo (x. kh 790 và TG 29b). 3) một sứ vụ
hoặc công tác tông đồ giữa dân ngoại với tất
cả những gì đi kèm theo (x. kh 791). 4) một hoạt
động đặc thù hiểu theo cách định nghĩa của
Vaticanô II: “là ‘việc truyền giáo’ tất cả
những công tác đặc biệt qua đó các nhà rao
giảng Phúc Âm, được Giáo hội sai đi khắp thế
gian, thi hành nhiệm vụ rao giảng Phúc Âm và ‘vun
trồng’ Giáo hội nơi các dân tộc, cũng như giữa
những nhóm người chưa tin vào Chúa Kitô” (TG
6c) Và khoản 786
giáo luật định nghĩa như sau: “Hoạt
động truyền giáo chính danh, qua đó Giáo hội đâm
rễ vào giữa
lòng các dân nước hay các chủng tộc, là hoạt
động tiến hành chủ yếu qua việc Giáo Hội phái
gửi những người ra đi rao giảng Phúc Âm và như
thế cho đến khi các tân Giáo Hội được
thiết lập toàn vẹn,
nghĩa là có đủ nhân lực riêng và phương tiện
đầy đủ để tự mình thực hiện công tác truyền
bá Phúc Âm.” Thật ra, TG 1-5
dùng từ missio theo nghĩa rộng; rồi từ số 6
trở đi, lại
bắt đầu bàn về missio theo nghĩa hẹp, tức
đề cập đến việc truyền giáo cho những người
không-kitô. Ðể tránh lối hiểu mập mờ sinh ngộ
nhận, Ðức Gioan Phaolô II đã dùng thành ngữ
“missio ad gentes”
trong thông điệp Sứ
Mệnh Ðấng Cứu
Ðộ cũng như về
sau. Trong Giáo
Lý Hội Thánh Công Giáo, từ missio
cũng được hiểu tương tự như ở trong Giáo luật
(x. các số 849-856). Hiện nay, các
tác giả nêu lên những yếu tố này nọ tùy theo
lập trường riêng. Trong chiều hướng đó, D. A.
McGravran, Tin lành, định nghĩa việc truyền giáo “là
sự nghiệp chuyên biệt nhằm tới việc tuyên báo
Tin mừng của Ðức Giêsu Kitô, cùng thuyết phục
mọi người trở thành môn đồ của Ngài và trở
nên thành viên tận tâm tận lực của Giáo hội
Ngài.”
[8]
5) ủy nhiệm (missio
canonica), tức quyền nhận được để có thể thi
hành thừa tác vụ Lời Chúa, hoặc để hành quyền
trong Giáo hội. Bộ Giáo luật mới không còn dùng
từ này; hiện giờ, ý niệm này được biểu đạt
bằng từ mandatum. ii. Missionarius,
missioner, missionary là thừa tác viên của missio,
tức nhà thừa sai. Vaticanô II dành trọn chương 4
của Sắc lệnh TG để nói về các vị này. Giáo
luật giải thích: “Các nhà thừa sai – tức những
người được thẩm quyền Giáo hội phái đi làm
việc truyền giáo – có thể được tuyển chọn từ
các người bản xứ hay không phải bản xứ, hoặc
từ các giáo sĩ triều, hoặc từ các phần tử
thuộc Hội Dòng tận hiến hay tu đoàn tông đồ,
hoặc từ các giáo dân” (kh 784). Ðáng chú ý là
giáo luật đã không đề cập đến yếu tố địa lý
(“missions étrangères”) như phải đi xa, đi
đến với các dân tộc khác, v. v.; như thế, có
thể là thừa sai ngay tại trong nhà, trong quê hương
đất nước và văn minh văn hóa của mình. Thế
nhưng, cũng không ai có thể tự sai phái mình đi,
song phải nhận ơn ấy từ “bề trên,” tức từ
người có thẩm quyền trong Giáo hội (có thể là
qua Hội Dòng, chẳng hạn); lý do là vì việc loan Tin
mừng cứu độ là việc trọng yếu, đến
từ bên trên và phải được chu tất với một số
điều kiện. Ðức Kitô cũng đã được Chúa Cha sai
đến, chứ không phải tự mình mà đến (x. Dt 5:5);
rồi chính Ngài đã sai các tông đồ đi, v.v. Lẽ dĩ
nhiên vẫn có thể có những trường hợp ngoại
lệ; tuy nhiên, để trở thành thừa sai thì phải
được sai phái, tức là nhận được sứ mệnh,
một sứ mệnh không phải tự mình đặt ra cho mình,
nhưng là của Ðức Kitô và Giáo hội. Dù không
cần phải đi ra nước ngoài, thì cũng vẫn còn phải
vượt qua một thứ “biên giới,” biên giới của
đức tin, ranh giới của Giáo hội, để bước sang
lãnh vực, thế giới “không-kitô.” iii. Xứ truyền
giáo hoặc “terre de mission” (x. kh 790) là gì?
Sắc lệnh TG 38 và 41 coi là “miền truyền giáo”
những vùng đất chưa có Giáo hội riêng, hoặc vì
số tín hữu còn quá ít hoặc vì số giáo sĩ còn
quá thiếu, v.v.; thường thì các vùng đất như thế
thuộc thẩm quyền Bộ Truyền giáo. Gọi là “xứ
truyền giáo” những nơi chưa có Giáo hội địa
phương với hàng giáo phẩm và những cơ cấu đầy
đủ; hoặc dù đã có như vậy, nhưng đại đa số
người dân chưa tin vào Chúa Kitô. Hiện nay, không
như ngày trước, thành
ngữ này ít được dùng đến, bởi tình
trạng đa dạng tôn giáo đang lan rộng hầu như khắp
nơi. Ðể xác định môi trường truyền giáo, có khi các
tiêu chí địa lý (như các nước
Ả rập, Nhật bản, v.v.), hoặc chủng tộc (như truyền
giáo cho dân H’mong), hoăïc tầng lớp xả hội (như mission
ouvrière, ở Pháp) cũng được dùng đến; song,
việc dùng danh xưng chỉ là vấn đề phụ. iv. Truyền bá
Phúc Âm (evangelization) là một ý niệm mập
mờ. Có khi muốn chỉ về “việc tông đồ” nói
chung, như đọc thấy trong các khoản 298 và 843 của
Giáo luật; có khi thì lại đồng nghĩa với “truyền
giáo,” như gặp thấy trong khoản 781 và 786. Danh từ
này phát nguyên từ evangelium (Phúc Âm), và
trong tiếng Việt được dịch ra là “phúc âm hóa”:
nghe qua, cũng hơi lạ tai. Có khi người không-kitô
dùng từ evangelization theo nghĩa là giảng đạo
hoặc tuyên truyền tôn giáo nói chung.
[9]
Ý niệm ấy xuất
xứ từ Kinh Thánh, với ý nghĩa chung là loan báo
Tin mừng (x. Lc 1:19; 2:10; 4:18, v.v.). “Tin mừng”
ấy có thể là sự việc Ðấng Mêsia đến (x. Lc
2:10), hoặc “Nước Thiên Chúa” đến (x. Lc 4:43;
16:16), hoặc niềm chờ mong của dân đã đến hồi
toại nguyện (x. Lc 4:18; 7:22; 9:6, v.v.). Sau Phục sinh, “Tin
mừng” là Chúa Kitô đang sống, đã lên trời,
đang hành sự như Ðấng Cứu thế của muôn dân,
v.v. Chính Ngài là nội dung của Tin mừng (x. Cv 5:42).
Vì thế, danh từ Tin mừng (evangelium, Gospel)
bao gồm toàn bộ biến cố Ðức Kitô với trọn ý
nghĩa cứu độ của nó; thế nên, rao giảng Tin mừng
hoặc loan truyền Tin mừng có nghĩa là làm cho
người ta biết Ðức Kitô, thuyết phục họ theo
Ngài, mở rộng cộng đồng môn đồ, v.v., như thánh
Phaolô đã từng nhắc nhở (x. Rm 1:1; 1Cr 1:17; Gl
1:6.7.11, v.v.). Trong lịch sử, tuyên bố Phúc Âm (evangelizare,
evangelize) là mục đích của Giáo hội: “Sở
dĩ có Giáo hội là để tuyên bố Phúc Âm,” như
Ðức Phaolô VI viết.
[10]
Vốn có gốc Tin
lành (thế kỷ 19), thuật ngữ evangelization đã
được Ðức Phaolô VI phổ biến giữa giới Công
giáo qua tông huấn Công Bố Tin Mừng (Evangelii
Nuntiandi, năm 1975). Ðể xác định
ý nghĩa của khái niệm bao quát ấy, thần học phân
biệt ba dạng rao giảng Tin mừng (evangelization): 1) rao giảng Tin
mừng lần đầu (prima evangelizatio, first evangelization)
– như nhiều tác giả thường nói – trong một vùng
đất, một lãnh vực văn hóa, một dân tộc, v.v.
chưa bao giờ đón nhận Tin mừng; 2) rao giảng Tin
mừng lần thứ hai (secunda evangelizatio, second
evangelization) trong một môi trường đã từng là
kitô giáo, nhưng nay đã mất đức tin, không còn
thuộc về cộng đoàn Giáo hội; 3) rồi, nhân
dịp năm thánh 2000, Ðức Gioan Phaolô II đã nói
đến new evangelization; và thành ngữ này đã
được hiểu nhiều cách khác nhau: hoặc là rao giảng
Tin mừng theo một cách thức mới, hoặc là rao
giảng lại một lần nữa, hoặc là cả hai... v. Pre-evangelization
tức “tiền phúc âm hóa,” là công tác hoặc giai
đoạn chuẩn bị cho việc rao giảng Tin mừng. Ðối
với ý niệm này, nhiều tác giả đã tỏ thái độ
phủ nhận hoặc lên tiếng sôi nổi đặt lại vấn
đề. Vaticanô II đã không dùng từ này. vi. Ðối thoại
liên tôn là một ý niệm tương đối mới. Vaticanô
II đã khuyến khích Giáo hội nói chung xây dựng quan
hệ giao hảo với mọi người, đặc biệt là
với tín đồ thuộc
các tôn giáo khác “bằng con đường đối thoại
và hợp tác” (NK 2); trong khoản 787, Giáo luật cũng
nhắn nhủ các thừa sai để tâm theo sát con đường
ấy.
Giáo Lý
Hội Thánh Công Giáo
nhiều lần nhấn mạnh đến điểm này,
cả đến trong đoạn
văn nói về công tác truyền giáo (x. số 856). Thần
học Châu Á đã đặc biệt khai triển rộng rãi và
tiến hành công tác ấy. vii. Công tác
phát triển quả có quan hệ chặt chẽ với công
cuộc truyền giáo, nhất là qua hoạt động giáo dục
của Giáo hội. Trong thập niên 70, lúc thần học
giải phóng đang thịnh, có tác giả đã cho rằng
công cuộc truyền giáo và công tác phát triển là
hai hoạt động đối nghịch nhau. viii. Hội nhập
văn hóa là điểm quan trọng, đặc biệt tại Châu
Á và Châu Phi. Từ lúc khởi nguyên, Kitô giáo
đã bắt tay ngay vào công tác này, tức là đã
tiến hành nỗ lực bản xứ hóa ở khắp nơi.
Nhưng, suy tư về quan hệ giữa Phúc Âm và văn hóa
cùng về quá trình “hội nhập văn hóa” là sự
việc mới. Các văn kiện của Vaticanô II cũng như
bộ Giáo luật không biết đến từ này, và Giáo Lý
Hội Thánh Công giáo
cũng chỉ ám chỉ tới từ này có một lần (x. số
854). Vậy mà, hiện giờ, trong Truyền giáo học không
một chủ đề nào được khai triển nhiều qua các
bài viết và sách vở cho bằng chủ đề này. Tòa
thánh cũng đã đề xuất một số tài liệu về chủ
đề. Ðức Gioan Phaolô II định nghĩa công tác ấy
là “sự biến đổi sâu xa của các giá trị văn
hóa đích thực một khi được sáp nhập vào Kitô
giáo, và là việc Kitô giáo hòa nhập vào một
nền văn hóa cụ thể.”
[11]
Nhân
loẠi thỜi nay đỐi vỚi Kitô
giáo Hai mươi thế
kỷ sau Phục sinh, sứ mạng Ðức Kitô phó thác cho
các tông đồ chưa hoàn tất. Lệnh truyền “làm cho
muôn dân trở nên môn đệ” đã có kết quả
tích cực ở một phần thế giới, song lại xem ra
thất bại ở một số nơi khác, như tại Châu Á. ( Các con số trong bảng thống kê dân số dưới đây phải x1,000)
Nếu nhìn vào Châu Á, thì sẽ thấy tình trạng còn bi đát hơn nữa:
(Annuarium
Statisticum Ecclesiae 1997, tt. 37-39)
* * * Những con số lạnh
lùng ấy chưa kể ra hết chuyện. Châu Âu và Bắc Mỹ có
vẻ như là kitô giáo; nhưng thật ra đa số không sống đạo,
và thế hệ trẻ hoặc không theo đạo hoặc không được
rửa tội. Tại các Châu này, số người vô thần hoặc vô
tôn giáo thật ra lớn hơn nhiều, nhất là số những
người sống “như không có Thiên Chúa.” Tại “thế giới thứ
ba,” tức là tại những vùng đất có “nhiều tôn giáo
nhất,” thì còn thấy được những hiện tượng có thể
có ảnh hưởng đến lãnh vực truyền giáo. Xin nhắc tới
hai hiện tượng sau đây: đô
thỊ hóa Trong tương lai gần
đây, đa số dân thế giới, kể cả người
Châu Á và Châu Phi, rồi sẽ sinh sống và hoạt động
ở trong các đô thị lớn. Vào lối năm 2025, một phần
nửa thế giới sẽ sống ở thành phố. Hiện tượng này
đặt ra nhiều vấn đề về mọi phương diện. Ðối với việc
truyền giáo, nên lưu ý điểm này là Kitô giáo đã bắt
đầu ở trong các đô thị: các tông đồ – nhất là
Phaolô – đã chọn các thành phố để rao giảng Tin mừng. Giáo hội cần phải
chuẩn bị thừa sai đặc biệt cho các đô thị. Vô số dân
chúng đang sống trong một tâm trạng lộn xộn, vì đã đánh
mất đi những tọa độ cổ truyền từng đóng góp để
giữ vững trật tự xã hội và tôn giáo qua bao nhiêu thế
kỷ. Trong các đô thị, họ phải sống cô đơn, vô danh, bơ
vơ về mặt luân lý, dễ bị lôi cuốn về đàng xấu, nhưng
cũng dễ mở ra cho hướng đi mới về phía tín ngưỡng tôn
giáo. Giáo hội có thể cống hiến cho họ, cho hàng triệu
triệu người, một “gia đình” thiêng liêng, một căn tính
mới, cả tâm lý lẫn tôn giáo. Trong môi trường vô danh
nơi các đô thị, Kitô giáo phải suy nghĩ lại cho kỹ về
cách tổ chức cộng đoàn Giáo hội làm sao để các tín
hữu tìm được cơ hội sống đạo theo một cung cách mới,
giữa những đoàn nhóm thật sự thân tình, ưu ái, có
khả năng đón nhận thành phần mới và dẫn
nhập họ vào đời sống đức
tin,
chia sẻ Lời Chúa, cầu nguyện,
tương trợ, v.v. Các cộng đoàn cơ bản có thể đóng một
vai trò hết sức tính cực và hữu hiệu trong lãnh vực
mục vụ đô thị mai ngày. toàn
cẦu hóa Hiện tượng nước
đôi này trước hết mang tính chất kinh tế và văn hóa,
nhưng cũng sẽ kéo theo những hậu quả khó xử về mặt
tôn giáo. Cứ vào một siêu thị thì sẽ thấy đủ mọi
thứ hàng hóa đến từ khắp nơi trên thế giới; cứ
đánh một vòng tham quan thì sẽ thấy không biết
bao nhiêu công ty địa
phương đang chế tạo sản phẩm cho các “công ty mẹ” ở
nước ngoài. Người ở đâu đâu trong thế giới, nhất
là người trẻ, cũng đều trang phục hệt như nhau, cũng
đều nhảy đều vũ cùng một điệu như nhau, cũng đều chạy
theo những “phong trào” như nhau, cũng đều coi những
chương trình TV và phim ảnh hệt như nhau, v.v. Trong các tiệm
sách, lẫn trộn những tác phẩm nội ngoại; trong các đại
học, giao thoa những luồng tư tưởng khác nhau, tác dụng
vào nhau, đẻ ra những khái niệm lai căng, v.v. Phong tục,
tập quán cũng có vẻ đang hướng về tình trạng đồng
nhất hóa, vì ngày càng nhiều người, vốn xuất thân từ
những nền văn hóa khác nhau, thường đi lại, tiếp xúc,
sống chung và hợp tác với nhau trong những dự án chung,
cùng nhìn về một tương lai chung, v.v. Một loại ngôn ngữ
phổ quát đang hình thành để làm khí cụ trao đổi chung. Về phương
diện tôn giáo, đa số các
nước có nhiều tín ngưỡng khác nhau đều sống chung với
nhau, trong một bầu khí khoan dung
và tự do. Có người còn
gợi lên hình ảnh “siêu thị tôn giáo,” làm như thể mỗi
người có thể tự chọn lấy tôn giáo cho mình hoặc tuy nghi
lẫn trộn những yếu tố của các tôn giáo theo sở thích
riêng. Làm thế thì quả là khó để mà nói về “tôn
giáo thật.” Tình huống này khơi
dậy những phản ứng khác nhau. Nhiều người lo sợ sẽ
đánh mất căn tính và chủ trương bênh vực đặc nét của
riêng nước mình, của riêng nền văn hóa, bộ lạc mình
v.v.; và từ đó, một mực từ chối tất cả những gì là
“ngoại lai” và đi theo những chủ nghĩa dân tộc hay quốc
gia, chủ nghĩa công xã (communalism) hoặc là tôn giáo,
v.v. Có khi những nỗ lực hội nhập văn hóa cũng bị nhiễm
một thứ ý thức hệ tương tự như thế. Về phương diện truyền
giáo, tình trạng này đặt ra một thách đố lớn. Có tinh
thần tông đồ thực sự thì người kitô có thể ảnh
hưởng đến hàng triệu người đang khát Tin mừng về
Ðức Kitô. Việc hội
nhập văn hóa ở đây mang một ý nghĩa khác. Ngày nay,
kitô hữu nào cũng có thể dễ dàng dấn thân cho việc
truyền giáo, nhất là chỉ trong một thời gian tương đối
ngắn, bởi lẽ điều kiện di chuyển và di trú đã trở
nên đơn giản; cũng tương tự như thế đối với việc trao
đổi tư tưởng với người xa lạ: chỉ cần dựa vào
những giá trị và phạm trù chung của dạng văn hóa phổ
quát là có thể có được phong thái “công giáo = phổ
quát” trong cách thức ứng xử. Mặt khác, trong cuộc chung
sống với các tôn giáo khác, Kitô giáo hiện phải đương
đầu với thái độ coi mọi giá trị đều là tương đối,
tôn giáo nào cũng đều tốt. Trong bối cảnh này, Ðức
Kitô xuất hiện chỉ như là một giữa các vị sáng lập tôn
giáo. Nếu phải so sánh, thì theo con mắt loài người, Kitô
giáo và các kitô hữu chưa chắc đã xuất sắc hơn các
tôn giáo khác và các tín đồ của họ, v.v. Ðể làm thừa
sai trong thời nay, thì không phải chỉ cần được đào tạo
cho chu đáo hơn mà thôi, nhưng nhất là còn cần phải trở
nên thánh thiện hơn, để có thể qua cuộc sống của mình,
làm chứng cho Tin mừng mình rao giảng. Hơn bao giờ hết, bây
giờ là lúc giáo lý và đời sống, lý tưởng và thực
tế phải thực sự đi đối với nhau. trao
đỔi thỪa tác viên Ngày
trước thường nghe nói các “nước kitô giáo” gửi
thừa sai đến các “vùng đất truyền giáo.” Bây giờ
tình trạng đã thay đổi nhiều. Xin xem sau đây thống kê
thực hiện hồi cuối thế kỷ 20:
* * *
Từ những con
số trên đây, có thể rút ra một bài học. Trước
hết, mỗi lục địa (mỗi Giáo hội địa phương) đều
phái gửi và đón nhận thừa sai. Thứ đến, các
Giáo hội Châu Âu hiện đang phái gửi nhiều thừa
tác viên đi truyền giáo, lại đang thiếu ơn gọi. Vì
thế, trong tương lai, sẽ không còn hay còn rất ít
người để đến truyền giáo nước ngoài. Các “Giáo
hội trẻ” sẽ phải đảm nhận nhiều hơn công tác
truyền giáo. Tại Châu Á, Ấn độ, Plilippines, Ðại
hàn, v.v. đã có những hội truyền giáo. Vì tự
bản tính, Giáo hội là truyền giáo, và vì hiện
trạng tôn giáo trong thế giới đòi hỏi, nên mỗi
Giáo hội sẽ phải vừa phái gửi mà cũng vừa
đón nhận thừa sai; như thế, công tác rao giảng Tin
mừng sẽ là việc trao đổi giữa các Giáo hội
địa phương.
* nhỮng
khuynh hưỚng mỚi trong
thẦn hỌc vỀ truyỀn giáo Sau Vaticanô II,
các ngành thần học đã sôi nổi đề xuất những
giả thuyết mới về hết mọi khía cạnh của Giáo
hội, trí thức lẫn thực tiễn. Riêng Truyền giáo
học đã bị ảnh hưởng nặng do cuộc khủng hoảng
xảy ra trong quan niệm đối với hoạt động truyền
giáo; thế nên, liên quan đến truyền giáo, thần
học đã đề xuất nhiều luận đề mâu thuẫn với
nhau, xuất xứ từ nhiều chủ trương rất khác nhau:
từ những nhóm bảo thủ tuyệt đối không muốn
đổi thay gì cả
(thường là
các giáo phái nhiệt tâm), cho đến
những người chủ trương phải ngưng hẳn hoạt động
truyền giáo. Trước tình cảnh ấy, các nhà truyền
giáo học đã ra sức giải đáp các vấn nạn do
khủng hoảng đặt ra và phối
hòa nhiều yếu tố suy tư xem ra mâu thuẫn (chẳng
hạn: truyền giáo và đối thoại); rất nhiều sách
vở đề cập đến vấn đề.
[13]
Giáo hội Công giáo đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề và đã chính thức lên tiếng. Khóa họp năm 1974 của Thượng Hội Ðồng Giám Mục do Ðức Phaolô VI thiết lập (1965), đã chọn “truyền giáo” làm chủ đề, và Evangelii Nuntiandi (1975) là kết quả của kỳ nhóm họp ấy. Khi Vaticanô II chưa hoàn toàn kết thúc, thì Ðức Phaolô VI đã công bố Ecclesiam suam (1964) với chủ đề “đối thoại” và nhấn mạnh đến nhiệm vụ số một của Giáo hội là rao giảng Lời Chúa. Sau đó, trong Populorum progressio (1967) ngài đã đưa toàn thể Giáo hội dấn thân vào công cuộc phát triển, coi đó là “tên gọi mới của hòa bình.” Thông điệp này ảnh hưởng đến tư tưởng về | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||