|
CHƯƠNG II Quá trình LỊch sỬ công cuỘc TruyỀn giáo
Muốn hiểu
Giáo hội, và tiến trình phát triển của Kitô giáo,
thì phải nhìn lại lịch sử. Thời gian hai mươi thế
kỷ đã ghi lại rất nhiều biến cố làm những bài
học dệt nên như một ngành “khoa học thực tiễn,”
ngành Truyền giáo học.
[1]
Câu chuyện
bắt đầu với Ðức Giêsu Nadarét; sau khi bị giết
chết, Ngài đã sống lại và truyền cho các môn
đồ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan
báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15; x. Mt
28:18-20). Chẳng bao lâu sau (lối năm 30), Phêrô khởi
sự việc rao giảng Tin mừng ở Giêrusalem. Lúc
đầu, các tông đồ sinh hoạt trong môi trường Do
thái giáo, không nghĩ đến chuyện thiết lập một
tôn giáo mới. Hai biến cố
đã thúc đẩy các vị thay đổi lập trường: dân
ngoại được rửa tội và dân Do thái, nói chung,
không chịu tin nhận Ðức Giêsu là Ðấng Kitô. Dù
tin vào hoạt động của Thần Khí, nhưng sử gia ý
thức rằng Người thường dùng những sự kiện
lịch sử làm “chất xúc tác.” Vậy, khi bị bách
hại, cộng đồng ở Giêrusalem đã buộc phải tản
mác ra ngoài (x. Cv 8): Philípphê rao giảng ở Samaria (dân
‘lạc giáo’) và Xêdarêa (thành phố dân ngoại);
một số kitô hữu khác đi đến đảo Sýp và thành
Antiôkia (x.Cv 11:19-20). Antiôkia trở thành trung tâm
truyền giáo đầu tiên. Và cứ lần theo các
đường thương mại, Tin mừng đã lan đến bờ Ðịa
Trung Hải và Biển Ðen; rồi các thừa sai tiếp tục
tiến xa hơn về
phía bắc: sang tận Âu châu, và về phía nam: xuống
đến Ai cập. Vị thừa sai
được biết đến rõ nhất là Phaolô thành Tácxô.
Sau khi trở lại (vào những năm 34/35), ngài đã
hăng say, can trường đi gieo hạt giống Tin mừng tại
nhiều thành phố vùng Tiểu Á và Hylạp qua ba cuộc
“hành trình tông đồ” cam go vào những năm 46-49,
50-53, 54-58; rồi cuối cùng đã đến Rôma và
tại đây ngài đã chịu tử đạo chẳng bao
lâu sau khi Phêrô bị đóng đinh, trong cuộc Nêrô
bách hại (năm 64). Phaolô thiết lập nhiều giáo hội
địa phương và cắt đặt các thừa tác viên để
tiếp tục sứ mệnh của ngài. Hoạt động truyền
giáo của thánh Phaolô tiến hành theo bốn nguyên
tắc sau đây: — ưu tiên
của kerygma (= sứ
điệp, x. Rm 15:15, Gl 1:15, Pl 1:18, vv,); — chứng tá
đời sống (x. Cv 18:21, Pl 3:17, vv); — thích nghi (x.
1Cr 9:19-23); — thiết bị
các cộng đoàn với đầy đủ thừa tác viên (x. Cv
14: 23, 20:28, Tt 1:15).
[2]
Dường như
các tông đồ và
các giảng viên
khác cũng tiến hành theo cung cách ấy. Và như thế,
từ từ Tin mừng lan rộng trong khắp đế quốc Rôma,
đặc biệt là nhờ hoạt động của nhiều thừa sai
vô danh, như các bà vợ, các binh sĩ, những người
buôn bán, v.v. Không rõ ai đã sáng lập các giáo
hội mẹ như như
Rôma, Antiôkia,
Alêxănđria...
Những ai đã tỏ ra dễ
dàng nhất trong việc đón nhận đức tin? Ðó là
những người sống niềm đợi trông, như các nhóm
Do thái đạo đức, các tân tòng trong Do thái giáo,
những người nghèo, nô lệ, di dân, v.v. Thật ra, Giáo
hội hòa nhập vào trong xã hội theo một nhịp độ
tương đối chậm và không đều. Khi hoàng đế
Clauđiô trục xuất dân Do thái khởi Rôma (năm
51/52), số người tin vào Ðức Kitôâ đã khá
đông, nhưng dư luận chưa coi họ như là nhóm đặc
biệt. Ðến thời Nêrô bách hại (64), thì khác,
dân chúng đã phân biệt người kitô với Do thái.
Một trăm năm sau, trong thời giáo hoàng Cornêliô,
cộng đồng kitô ở Rôma đông khoảng 30.000 người
(2 hoặc 5% dân số thành phố). Tại vùng nước
Pháp, năm 314 công đồng Arles đã nhóm họp với 16
giám mục Pháp và 3 Anh. Tại Tây ban nha, khoảng năm
300, cộng đồng Elvira cũng đã nhóm họp với 19
giám mục.
[3]
Hồi thế kỷ
thứ hai, theo báo cáo sử gia Pliniô gửi cho hoàng
đế Trajanô (năm
112)
[4]
thì Tiểu Á là
vùng có đông kitô hữu nhất. Phía Ðông đế
quốc, công cuộc truyền giáo cũng thịnh đạt. Một
tiểu vương là Abgar, đã chịu phép rửa tội (khoảng
các năm 206-214), và nước Osrhoene đã theo Kitô
giáo. Thủ đô Edessa đã trở thành trung tâm kitô
giáo quan trọng nhất tại Trung đông; từ đó Kitô
giáo sẽ lan rộng ra cho
đến Trung quốc. Tại vùng Trung đông này, Giáo hội
dùng tiếng Siry và khai triển một nền thần học
không Hylạp. Công cuộc truyền giáo tại vùng
Ácmênia đã khởi đầu với một nô lệ trở lại
tại Capađôxia, là Grêgôriô “Soi sáng” (The
Illuminator). Ông đã rửa tội cho nhà vua là
Tiriđates II (năm 295) và được phong chức Catholicos,
tức giáo chủ, của Ácmênia. Tại một nước láng
giềng Ácmênia là Gêócgia, nữ nô lệ Nino, một
khi trở thành vợ của vua nước Gêócgia, đã làm
cho chồng tin vào Ðức Kitô; và từ đó, một giáo
hội cường thịnh phát sinh. ÐẶc
tính công cuỘc truyỀn giáo ban đẦu Trước thời
Cônxtăntinô, Giáo hội không có tổ chức hoặc
dự án truyền giáo quy mô. Mỗi cộng đồng tự
động đảm nhận công tác rao giảng Tin mừng cho dân
ngoại; thêm vào đó, các tín hữu nhiệt thành
hằng tìm cách rộng rãi phổ biến Lời Chúa. Ðời
sống kitô thể hiện qua cuộc sống đạo gương mẫu,
nhưng rất đơn sơ về cơ cấu tổ chức: bất cứ
kitô hữu xứng đáng nào cũng có thể trở thành
giám mục, linh mục, thừa sai để đi sáng lập một
cộng đoàn giáo hội khác. Giữa xã hội,
người kitô ra sức sống như những công dân tốt,
nhưng cũng không phải vì thế không mạnh dạn gạt
bỏ những điều không thể chấp nhận được (các
đền chùa, đấu trường, rạp xiếc, nhà tắm tập
thể, những hành động bất lương hoặc dị đoan,
v.v.). Họ khước từ việc tôn thờ hoàng đế và
nhiều tư tưởng cùng chủ hướng của nền triết
học La-Hy, được coi như căn tính của xã hội thời
đế quốc Rôma. Vì thế, những người theo đạo
thường là thuộc tầng
lớp ngoài lề hoặc giới
trí thức không
xu thời. Không hội nhập
văn hóa cho lắm! Vì không rập theo mos
majorum (‘lề thói tổ tiên’) nên họ bị gọi
là ‘kẻ thù của nhân loại’ và là tertium
genus (‘loài giống thứ ba’), tức là vừa
Rôma vừa ngoại quốc, lai căng. Ngôn ngữ họ dùng,
nghe lạ tai vì chứa nhiều đặc ngữ và ý niệm Do
thái. Cả ở Rôma, họ cũngï nói tiếng Hylạp,
thứ tiếng phổ thông ở Ðông phương. Họ cũng
không để các thứ tiếng địa phương du nhập vào
phụng vụ và thần học: ở Ðông phương họ dùng
tiếng Hylạp, còn bên Tây phương thì tiếng Latinh.
Chỉ tại một số miền có tinh thần dân tộc mạnh
mới dùng tiếng bản xứ, như Cốpt, Xiry, Ácmênia,
v.v. SẮc
chỈ Cônxtăntinô ban bỐ tẠi Milanô Năm 313, hoàng
đế Cônxtăntinô chấp nhận Kitô giáo là religio
licita, tôn giáo hợp luật, và được tự do sinh
hoạt. Và năm 380 hoàng đế Thêôđôxiô đặt
Kitô giáo làm tôn giáo chính thức. Các quyết
định ấy không phải là có hậu quả đối với
việc truyền giáo: Trước hết,
Giáo hội bắt đầu
sống công khai và tiến hành việc thiết đặt tổ
chức cơ cấu có hệ thống. Cho đến thập kỷ đầu
thế kỷ 4, Kitô giáo chỉ hiện diện và sinh hoạt
giống như một phong trào thiêng liêng, ít quan tâm
đến việc tổ chức phẩm trật, phụng vụ, giáo
luật, v.v. Thứ đến, vì thường phải hoạt động
ngoài vòng hợp pháp và bí mật nên Giáo hội
thời đầu thường sống tách biệt khỏi giới chính
trị. Từ nay thì khác, được quốc gia ủng hộ, Giáo
hội có thể dùng đến những phương tiện truyền
giáo đại chúng. Giáo hội dồn cả chú tâm vào nỗ lực ‘kitô hóa’ các đồng bào trong vùng, ít khi nghĩ đến dân ngoại (một thí dụ: thánh Âugutinô đã không nghĩ đến việc truyền giáo cho dân chúng chung quanh). Giáo hội ‘kitô hóa’ văn hóa và phong tục: biến các đền thờ thành nhà thờ, lấy các ngày lễ thần linh làm dịp lễ kitô giáo, lành mạnh hóa những cuộc biểu diễn dã man, v.v., nhưng không thay đổi hệ thống chính tri, pháp luật, v.v.; vì thế mà chế độ nô lệ chẳng hạn, vẫn còn tồn tại. Phong trào truyền giáo lan dần ra các vùng ‘nhà quê’ (pagani) nhằm rửa tội và huấn luyện dân chúng trong đức tin; một thí dụ điển hình là công trình hoạt động của thánh Máctinô thành Tours, Pháp (316-397). ThỜi
Trung cỔ Ðầu thế kỷ
5, ‘dân ngoại’ (barbarians)
xâm chiếm đế quốc Rôma. Các dân tộc này (Frank,
Lombard...) giữ đạo riêng của họ; dân Goth theo lạc
giáo Ariô. Ở tây Âu, cơ cấu xã hội sụp đổ,
một mình Giáo hội sống còn. Sứ mệnh cụ thể bấy
giờ của Giáo hội là dẫn đưa các dân ấy vào
Giáo hội và khôi phục trật tự kitô giáo, tức
là khai hóa, làm cho họ quen dần với văn minh, kỹ
nghệ và đạo đức.
[5]
Thời
ấy, cơ cấu phẩm trật
của Giáo hội gồm có hai giới: giáo dân và giáo
sĩ, thường được quan niệm như là giới thụ
động và giới chủ động. Phía xã hội thì cũng
vậy: cấp trên nắm quyền và có sáng kiến, cấp
dưới cứ phải răm rắp vâng theo. Vì thế, để thu
nạp đại chúng, Giáo hội gia công chinh phục không
phải là từng cá nhân, song là toàn thê dân tộc,
toàn bộ cơ cấu chính quyền, bởi nếu nhà vua trở
lại thì toàn dân cũng chịu phép rửa. Trong số các
lương dân trở lại trước hết, nổi tiếng nhất
là dân Frank (Pháp), đã trở lại khi vua Clovis chịu
phép rửa dịp Giáng sinh năm 496. Rồi sau đó là
những dân theo lạc giáo Ariô; đáng kể nhất là
dân Vidigoths, ở Tây ban nha: họ theo vua Rêcarêđô
khi vua
này
được rửa tội trong
công đồng
Tôlêđô III (năm 589).
Cũng tương tự như thế, dân Ba lan đã theo vua
Mieczyslav để gia nhập Giáo hội năm 966; dân Hungari
theo vua Stêphanô để trở lại (năm 985), còn dân
Nga thì theo Vlađimir (năm 988) v.v. Thói
lệ ấy ăn sâu vào
trong phương sách truyền giáo của thời Trung cổ:
chinh phục lãnh đạo trước đã để rồi cả dân
tộc cùng theo. Mặt khác, thời ấy không có chuyện
phân biệt giữa chính trị và tôn giáo: xâm chiếm
một nước là buộc con dân nước đó phải theo
tôn giáo của mình; theo cách thức đó, Charlemagne
đã buộc dân Saxon phải chịu phép rửa (năm 782),
Olag Tryggvason đã ép dân Na uy (năm 1000) theo đạo,
v.v. Nhiều Dòng hiệp sĩ cũng áp dụng chính sách
này; đôi lúc, đó cũng chính là mục đích của
Dòng. Tuy nhiên, trong
thời Trung cổ, các đan sĩ chính là những vị anh
hùng đã can đảm rao giảng Tin mừng và truyền bá
đức tin. Có công
đặc biệt là
Vincent Lerins thành
Marseille (khoảng năm 410), Xêdariô
thành Arles (410-542), thánh Biển Ðức và đan viện
Montecasino (khoảng năm 520-530); từ các nơi ấy đã
phát sinh nhiều vị thánh từng ảnh hưởng sâu đậm
đến việc biến đổi xã hội Châu Âu. Ai Len là một
trường hợp đáng đặc biệt lưu ý: sau khi được
Germain d’Auxerre
phong chức “giám
mục vùng
Ai Len” (432), Patrick, gốc người Anh, đã dấn thân
đi truyền giáo. Ngài hoạt động hăng say, khôn ngoan và
khéo léo đến độ đã biến “hòn đảo xanh”
thành “hòn đảo thánh.” Ai Len là giáo hội Châu
Âu duy nhất không có tử đạo và không tổ chức
theo kiểu Latinh (không chia thành địa phận). Chẳng bao
lâu sau, Ai Len làm nẩy lên hàng ngàn “đan sĩ
phiêu cư” đi khắp Châu Âu rao giảng Phúc âm. Trong
số các đan sĩ này, có những thừa sai lừng danh
như Côlumba (521-597), Côlumbanô (543-615), gốc Ai len,
và Bônifaxiô, gốc Anh quốc, là vị tông đồ lừng
danh nước Ðức (680-754). Thời ấy, giám mục Rôma
không trực tiếp để tâm cho mấy đến công việc
truyền giáo, trừ thánh Grêgôriô Cả (540-604) là
vị giáo hoàng đã phái Âugutinô Canterbury sang
truyền giáo bên Anh quốc. Nhưng từ thế kỷ 13, Tòa
Thánh đã trực tiếp đảm nhiệm công việc truyền
giáo coi đó là bổn phận của mình. Trở ngại
lớn nhất là Hồi giáo: quân của họ xâm lăng
chiếm bá các nước kitô giáo ở Bắc Phi và Trung
Ðông, rồi tiêu diệt đế quốc Bydănxiô. Tại Châu
Âu, Giáo hội dồn dập trải qua nhiều cơn khủng
hoảng vì các lạc giáo, vì những trận xung đột
với các chính quyền phong kiến, cũng như vì tội
mại thánh trong thừa tác vụ, và cuối cùng là vì
ảnh hưởng tiêu cực của các cuộc viễn chinh chữ
thập. các
dân tỘc Xlavơ trỞ lẠi Sống
tại các đồng bằng
mạn bắc sông Ða-nuýp và mạn đông sông Ôđer thì
có các dân thuộc chủng tộc Xlavơ; một số trong
các dân này di trú về phía nam (Crôát, Xécb...),
và một số khác đi về phía đông (Nga). Trước
thời Charlemagne (742-814), chỉ có dân Crôát là đã
được truyền giáo; sau này, hai đế quốc kitô (Frank
và Bydănxiô) sẽ cạnh tranh
với nhau để dành thắng thế về cả tôn giáo lẫn
chính trị, đưa lại những hậu quả thê thảm và
khốc liệt như còn thấy cho đến ngày nay. Năm 863, phó
tế Cônxtantinô (lấy danh hiệu là Xyrillô) và em là
linh mục Mêthôđiô đã tới miền Môravia trong tư
cách là đại diện của hoàng đế Micae II. Hai vị
đã chuẩn bị rất chu đáo: đã học tiếng địa
phương, đã phát minh một loại chữ cái đặc biệt
(bản vần chữ cái Xyrillíc) để viết tiếng địa
phương và đã phiên dịch các sách thánh ra thứ
tiếng ấy. Dùng loại chữ ấy, hai vị đã soạn ra
văn bản của phụng vụ Xlavon; đó sẽ là khí cụ
rất hữu hiệu trong nỗ lực kitô hóa các dân tộc
khác, như Bungari, Kiev, Nga... Xyrillô qua đời tại
Rôma (869); Mêthôđiô được phong chức giám mục
(ở Rôma) và được phái đi Môravia; nhưng đã có
chuyện xung đột với giáo hội Ðức: ngài bị giam
và qua đời năm 885. Các môn đồ
Mêthôđiô rao giảng Tin mừng tại Bungari và miền
nam Balan. Năm 864 Bungari thua trận Bydănxio và vua Boris
đã xin chịu phép rửa: thượng phụ Phôxiô cử
hành bí tích và hoàng đế Micae III làm bõ đỡ
đầu. Từ Bungari đức tin đã được truyền lan qua
Nga. Dã
man, dân Hungari
(không phải là Xlavơ) đã bị Ôttô I
(Ðức) đánh bại (955). Hoàng tử Stêphanô lấy
vợ công giáo là Ghidêla, nước Baviera, rồi lên
ngai, và đã dẫn cả toàn dân đến với Phép rửa
cùng “với Thánh Phêrô.” Nhà vua cho xúc tiến
việc thiết lập hàng giáo phẩm và thành lập Dòng
Biển Ðức để huấn luyện dân chúng trong đức tin. Theo mô mẫu
ấy, dân Balan cũng theo Kitô giáo khi vua Miscô (hoặc
Mieczyslav) lấy vợ công giáo là Ðôbrôvka và chịu
phép rửa năm 966. Cư trú tại
thảo nguyên Ðông Âu thì có dân Russ, và
Bydănxiô đã có quan hệ với họ. Khi hoàng hậu
Olga thành Kiev theo Kitô giáo (954-5), có người đã
nuôi hy vọng lớn cho một cuộc trở lại quy mô,
nhưng dân chúng không chịu theo.
[6]
Năm 987/8, vua
Vlađimir đã xuống sông Dnieper với đông đảo dân
chúng để chịu phép rửa: một cuộc trở lại vì
những lý do trộn lẫn, vừa tôn giáo vừa chính
trị; dù sao thì toàn dân cũng đã theo, và ông
được mệnh danh là “tông đồ dân Nga.” Thật ra,
suốt mấy thế kỷ trước, dân chúng đã được
nghe giảng về đạo, nhất là từ thời Yaroslav
(1016-1054): ông thiết lập hàng giáo phẩm tại các
trung tâm
Kiev và Nôvgôrốtđ.
Dùng tiếng xlavon (không phải tiếng địa
phương, phụng
vụ đã đóng một vai trò quả là độc đáo,
có sức thu hút
được đông đảo dân chúng. Kitô giáo đã làm
cho các dân tộc khác nhau ấy trở thành một quốc
gia, và coi kitô tính và Nga tính chỉ là một. Cao
trào kitô giáo đã lên đến tột đỉnh lúc Yvan IV
“Dữ tợn” (The
Terrible) lên ngôi (1547) ở Maxcơva, “Rôma thứ
ba.” Giáo hội Nga đã lớn rộng thêm dần về phía
Xiberi và cho đến Alaska. ThỜi
đẠi mỚi cỦa công cuỘc truyỀn giáo Một số cải
cách thực hiện trong các thế kỷ 11 và 12 đã đổi
mới Giáo hội ở Tây Âu; đó là công trình của
những phong trào do Cluny và Citeaux cổ xướng. Trong
thế kỷ 13, một mẫu tu sĩ mới xuất hiện: các dòng
khất thực, đặc biệt là dòng Phanxicô và Ðaminh.
Không thuộc giáo hội địa phương, họ trực thuộc
giáo hoàng Rôma, và vì thế, môi trường hoạt
động của họ là thế giới. Phía nội bộ, họ phải
chống cự với lạc giáo và cả một hàng giáo sĩ
hư hỏng; phía đối
ngoại, họ xả thân
cho công cuộc truyền
giáo. Hai đối tượng họ lưu tâm đến cách riêng
là: Hồi giáo và Châu Á. Những ai có đầu óc
đều hiểu rằng chiến tranh không phải là lối hành
động phù hợp với tinh thần Phúc âm, và vì thế
cũng chẳng phải là phương thế chính đáng dùng
để giành giật cho thật nhiều
môn đồ về với Chúa; nhưng là
phải ‘rao giảng’ verbo
et exemplo, tức là qua lời nói và gương sống.
Thánh Phanxicô đã qua Ai cập để trình bày cho nhà
vua về Ðức Kitô (năm 1219). Raimund Llull (1235-1316) là
người đầu tiên đã đề xuất một phương pháp
truyền giáo có thể nói là “tân thời”: muốn
chinh phục người Hồi thì phải nói tiếng của họ,
học biết về tôn giáo của họ, chung sống với họ
như những người bạn... Ông bị giết chết vì đạo
ở Tunis. Thánh Ðaminh cũng đã muốn đi giảng Tin
mừng cho dân cuman (Thổ nhỉ kỳ); anh em Dòng
ngài làm việc ở giữa dân này hồi năm 1221.
Nhưng đến năm 1241, quân Mông cổ đã tiêu diệt
giáo hội tại đó. Ðầu thế kỷ
13, quân Mông cổ xuất hiện ở Ðông Âu: biến cố
được hiểu vừa như là một mối đe dọa mà cũng
vừa như là một niềm hy vọng. Giáo hoàng sai sứ
giả đi gặp các khan Mông cổ, với ý là lập liên
minh chống lại người Hồi và yêu cầu được tự
do truyền giáo.
[7]
Khan Kubilai (1214-1294)
đã xin gửi thừa sai đến.
Bước theo “đường
buôn lụa,”
các tu sĩ Phanxicô và
Ðaminh đã tới Trung Á và Trung quốc. Trong lãnh địa
Mông cổ, dòng Phanxicô đã thiết lập hai giáo
phận, sống du mục và ăn mặc như dân địa phương.
Năm 1286, hy vọng đã bừng lên khi hoàng hậu Yailak
trở lại, rồi sau đó khan Toqtai cùng toàn thể gia
định đã lãnh nhận phép rửa (1290).
Năm 1291, Gioan
Môntêcorvinô, ofm, đã tới Kambaliq (Bắc kinh), giảng
Tin, mừng mang lại kết quả tốt đẹp, và đã đưa
vua Georg, nước Ongut, từ Cảnh giáo về với
Giáo hội
công giáo. Giáo
hoàng Clêmentê V bổ nhiệm
Môntêcorvinô làm tổng giám mục
(1307) với một số
giám mục khác, và truyền thành lập tu viện
Phanxicô tại Trung quốc. Hồi thế kỷ 14, đã có
hàng trăm Giáo hội rải rác ở trong vùng Trung Á.
Tại vùng Nam Á, có Giócđan Cathala de Severac, dòng
Ðaminh, làm việc ở Quilon (Ấn độ); năm 1329, Ðức
Gioan XXII bổ đã nhiệm vị này làm giám mục tại
đấy, nhưng rồi Giáo hội ấy đã tàn dần. CẢnh
giáo Những thừa
sai đầu tiên rao giảng Tin mừng ở Châu Á đều
thuộc Giáo hội Canđê
cũng gọi là Asiry hay
Nestôriô. Họ ở phía ngoài đế quốc Rôma, trong
miền Trung lưỡng hà. Ba tư bách hại họ dữ dội
đến nỗi hồi thế kỷ 4, Giáo hội Canđê đã có
hơn 16.000 vị tử đạo. Có lẽ để cho thấy mình
không thuộc quyền đế quốc Bidănxio, hội đồng
Ctêsiphon (năm 486) đã từ chối giáo lý chính
thống của công đồng Canxêđôn. Tuy nhiên, họ vẫn
nhiệt tâm truyền giáo. Trong thế kỷ 4, họ giảng
đạo ở Bahrain; qua hai thế kỷ 6 và 7, họ đã có
Giáo hội ở giữa các dân Tácta, Thổ nhỉ kỳ,
Mông cổ, Ấn độ, Trung quốc và Mã lai. Năm 635, đan
sĩ Olopen tới Trung quốc; năm 781, bia Sigan-fu được
dựng (hiện giờ ở Tây an), có khắc tên 70 giáo
sĩ. Giáo hội Cảnh giáo đã có nhà thờ và đan
viện trong khắp Châu Á, với 20 tổng giám mục và
200 giám mục hồi thế
kỷ 13.
Nhưng, đến cuối thế
kỷ 15, họ đã bị quân Hồi tiêu diệt hầu như toàn
bộ.
[8]
*
* * Trong các thế
kỷ 13-14, đà truyền giáo dâng cao và tiến phát
thật lạ lùng. Các dòng khất thực và Giáo hội
Cảnh giáo đã thiết lập nhiều cộng đồng kitô
trong các vùng kéo dài từ Ethiôpi cho đến Trung
quốc, Ấn độ và Xibêri. Nhưng đến cuối thế kỷ
15, tất cả đều sụp đổ. Tại sao? Hồi giáo chiếm
Ba tư năm 651, và năm 1043 đã chinh phục miền trung
Châu Á, rồi xâm lăng Ấn độ năm 1186. Ở Trung
quốc, nhà Minh đánh đuổi triều Mông cổ (1363-1368)
và dấy lên thái độ bài ngoại. Tệ hơn cả là
chiến dịch tàn bạo của Tamerlan, tức Timur Lang (Hồi
giáo) ở Trung Châu Á và Ấn độ; ít có cộng
đồng kitô sống sót. Thêm vào đó, ở Châu Âu
và vùng cận đông đã có dịch hạch, gọi là “thần
chết đen” (Black Death): tại Châu Âu, ¼ dân số và hơn ½ số các tu sĩ
đã thiệt mạng; tại Ba tư, tất cả các thừa sai
đều chết. Mặt khác, Kitô giáo sống chia rẽ, cạnh
tranh với nhau, không chịu hợp tác. Ðó có thể là
những lý do thấy được; còn lý do thực sự và
sâu xa thì chỉ mình Chúa biết. Tuy nhiên, các chuyên
viên cũng nêu lên một điểm: cả Công giáo lẫn
Cảnh giáo đều sống ỷ vào quyền bính, giáo quyền,
chỉ để cho một mình giáo sĩ đóng giữ vai trò tích
cực, dành công tác truyền giáo cho riêng “các
chuyên viên.” Cộng đồng mà tổ chức, sinh hoạt
rập theo kiểu ấy thì không thể tự túc được,
không thể thực thi sứ mạng chia sẻ Tin mừng với
dân ngoại được, và rồi sẽ tàn rụi dần đi
giữa một môi trường không thân thiện. công
tác TruyỀn giáo tỪ
thỜi HẬu công
đỒng Trentô cho đẾn
thẾ kỶ 20 Ðó là thời
gian kể từ thế kỷ 16 cho đến công đồng chung
Vaticanô II, bởi trong giai đoạn này, mẫu dạng theo
đó, các thừa sai thiết
lập Giáo hội, chính
là mẫu dạng đã được
công đồng Trentô
(1554-1563) ấn định. Suốt trong các
thế kỷ 16-18, đã có hai cách tổ chức công tác
truyền giáo: một là chế độ bảo trợ của Tây ban
nha và Bồ đào nha (patronato/padroado),
hai là cách thức của bộ Propaganda
Fide, tức bộ Truyền giáo của Tòa thánh.
Chế
độ bảo trợ Do hai Trọng
Sắc Tòa thánh là Inter
caetera (1493), của giáo hoàng Alêxăndrô VI, và Universalis
ecclesiae (1508) của
đức Julio II,
hai nước Tây ban nha
và
Bồ đào nha được
ủy thác (“ủy thác giáo luật”) nhiệm vụ truyền
giáo trong những miền họ đô hộ. Chính quyền chịu
trách nhiệm về an ninh cùng việc chuyển dịch của
các giáo sĩ, và đôi khi về cả việc tài trợ cho
các giáo hội địa phương. Trong những vùng hai
nước cai trị, như Châu Mỹ Latinh và Phi luật Tân,
giáo hội được thiết lập vững chắc; còn tại
Châu Phi và Châu Á, nơi Bồ đào nha không nắm
được thực quyền, thì tính cách nước đôi của
chế độ bảo trợ như thế đã gặp phải nhiều
trục trặc. Bồ
Đào Nha ở
châu
Vasco da Gama
tới Ấn độ năm 1498; chẳng bao lâu sau, tức là
vào năm 1533, địa phận Goa được thiết lập với
thẩm quyền trên toàn vùng từ Châu Phi cho đến
Viễn đông. Nhiều tu sĩ đến với các thuyền Bồ
và bắt đầu rao giảng Tin mừng khắp nơi: Ấn độ,
Tích lan, Malacca, Inđônêxia... Tại miền
tây nam Ấn độ, các thừa sai đã gặp
thấy Giáo hội Malabar và
đã ra sức dẫn nhập
họ vào Giáo hội Công giáo Latinh; kết quả có
nhưng cũng khó tránh khỏi những hậu ý nước
đôi. Nói chung, đợt thừa sai đầu tiên đã không
nghĩ gì đến điều mà bây giờ gọi là công tác
“hội nhập văn hóa” và không chú tâm đến
việc bản xứ hóa Giáo hội qua nỗ lực gầy dựng
giáo sĩ địa phương. Như thế, có lẽ vì họ là tu
sĩ dòng. Năm 1542,
Phanxicô Xaviê đến Goa. Ngài lặn lội rao giảng Tin
mừng khắp vùng bờ biển miền tây Ấn độ, rồi
sau đó đi qua Malacca, đến đảo Maluco, Nhật bản
(1549), để cuối cùng đã cập bờ nam Trung quốc và
qua đời tại đó (1552)... Như vậy ngài đã mở
cửa cho Tin mừng ở khắp vùng miền nam và đông
Châu Á, để sau đó nhiều thừa sai sẽ đến tiếp
tục công trình truyền giáo quy mô. Xaviê được coi
là vị thừa sai lớn nhất trong thời đại này.
Năm 1557, Bồ đào nha kiến lập Áo môn và
năm 1564 Dòng Tên đã đặt cơ sở tại đó, làm
hậu cứ và trung tâm truyền giáo. Nếu cần
phải nói đến các thừa sai tiếng tăm nhất đã
từng hoạt động dưới chế độ bảo trợ của Bồ
đào nha thì phải kể ra các vị sau đây:
Alétxănđrô Valinhanô, Máttêô Ricci, Rôbéctô de
Nobili, Ðắc Lô... Tại Ấn độ,
đã có mặt người kitô từ xa xưa (“kitô hữu
của thánh Tôma tông đồ”); thời Trung cổ, họ
đã được một ít thừa sai đến giúp đỡ. Nhưng
công tác truyền giáo theo cách thức mới đã chỉ
bắt đầu với Bồ đào nha. Giữa nhiều thừa sai
đã làm việc tại Ấn độ, nhưng nổi bật nhất là
thánh Gioan Britô và Rôbéctô de Nôbili, SJ
(1577-1656). De Nôbili hoạt động ở miền nam Ấn độ
từ năm 1606, và đã thực sự trở nên theo tinh
thần hội nhập văn hóa, một người brahmin
giữa các người brahmin. Cuộc tranh luận về
lễ chế Malabar bắt đầu với
sự bắt đầu có mặt tại Ấn độ của thẩm
quyền Propaganda
Fide. Suốt cả một
thế kỷ, tức là cho đến năm 1704, lúc Tin lành
đổ bộ vào Ấn độ, chỉ có một mình thừa sai
công giáo không thôi lo việc truyền giáo. Nhưng
ngoài Goa ra, tại Ấn độ, Giáo hội đã tiến phát
rất chậm. Lịch sử
truyền giáo tại Thần quốc Mặt trời (Nhật bản)
là một bài học bi đát.
Dòng Tên đầu tư
nhiều nhân sự vào nước này; dòng
Phanxicô cũng sai phái
nhiều tu sĩ đến. Nhưng đến cuối
thế
kỷ (1600) chỉ có
lối 300.000 kitô hữu với khoảng 150 thừa sai. Bắt
đầu hồi năm 1597, các cuộc bách hại đã trở
thành có hệ thống và đạt tới mức tàn bạo
tột độ vào năm 1613: Giáo hội bị diệt vong. Bị Nhật bản
trục xuất, các thừa sai Dòng Tên đã trở về
hậu cứ Macao, và từ đã sang truyền giáo tại
Việt Nam: năm 1615, ở Ðàng Trong, và năm1626, ở
Ðàng Ngoài, với kết quả hết sức khả quan. Năm
1659, các đức cha Pallu và Lamber de Lamotte được bổ
nhiệm làm Ðại diện tông tòa tại các khu truyền
giáo ở Việt Nam; nhưng đến năm 1664, một thừa sai
thuộc Hội Truyền giáo Paris (Missions
Etrangères de Paris)
mới đến Hội An; cuộc xung đột với chế độ bảo
trợ khởi đầu.
[9]
Trung quốc
đóng chặt cửa đối với người ngoại quốc. Từ
Áo môn, dòng Tên đã thử đi vào. Năm 1583, Cha
Ruggieri và Ricci được phép vào ở lại Quảng
đông, và năm 1598, Máttêô Ricci đã lên tới
Bắc kinh. Việc truyền giáo bắt đầu. Có khiếu đặc
biệt trong việc học ngôn ngữ, cọng với khả năng
thích ứng sắc bén, Ricci đã thành công trong nỗ
lực chinh phục nhiều người hoa, cả đến những
người trong giới quan lại, theo đạo. Nhiều thừa sai
các dòng cũng bắt đầu đến truyền giáo, nhưng
lại theo một phương pháp khác hẳn. Vì nhiều lý do,
các thừa sai này từ chối mọi hình thức thích
ứng, và như thế, đã vô tình biến Trung quốc
thành “chiến trường thần học” (“Tranh luận về
lễ chế”), gây hại lớn đến hoạt động truyền
giáo. Thiên sử
Giáo hội Triều tiên (Ðại hàn) viết nên thì quả
là độc đáo: khi Nhật bản xâm lăng Triều tiên
(1592-99), có một ít ngưới bản xứ đã chịu phép
rửa; sau đó, một số các kitô hữu này chịu chết
vì đạo ở Nhật bản, và 9 trong số các vị này
đã được phong thánh; nhưng nhóm kitô đầu tiến
ấy đã biến mất hẳn. Giáo hội Triều tiên ngày
nay đã không do các thừa sai sáng lập: khi phái
đoàn Triều tiên đi Bắc kinh nộp thuế (1777), một
số văn sĩ đã
mua được cuốn Thiên
chủ chính ý do cha Ricci biên soạn; họ đã đọc,
học và chấp nhận giáo lý; rồi sau đó, khi một
phái đoàn trở lại Bắc kinh (1783), một học giả
đã được cha J. de Grammont rửa tội. Trở về Seoul,
ông truyền giáo cho thân nhân bạn bè và rửa tội
cho họ; công việc truyền đạo thành công đến độ
khi cha Chu, người Trung quốc, là linh mục đầu tiên
đi qua Triều tiên, thì đã thấy cả một cộng đoàn
4.000 kitô hữu. Năm 1801, cha Chu và 300 kitô hữu
khác bị giết vì đạo; Giáo hội đã lớn lên với
con số 10.000 tín hữu. Họ liên tục bị bách hại cho
đến năm 1883. Các thừa sai làm việc tại Ðại hàn
từ thời đó đến nay là linh mục thuộc Hội Thừa
sai Paris. Bộ
truyền
giáo và châu
Thật ra, Bộ
Truyền giáo được lập nên trước hết cũng là
vì và cho Châu Á. Qua trọng sắc Inscrutabili
Divinae công bố năm 1622, đức Grêgôriô XV cho
thấy rõ ý của Toà thánh muốn dấn thân trực
tiếp lo cho công cuộc tuyền giáo tại châu Á (và
một phần nào cả Châu Phi nữa) và giảm bớt ảnh
hưởng của Bồ đào nha. Chủ ý là đẩy mạnh tinh
thần truyền giáo, đào tạo các thừa sai và xuất
bản cùng phổ biến tài liệu, sách báo cần cho
công tác ấy. Trong chủ hướng đó, năm 1651 nhà in
của Propaganda
đã xuất bản cuốn Phép
Giảng Tám Ngày của cha Ðắc Lộ. Năm 1959 Thánh
Bộ đề xuất một bản huấn thị rất đáng thán
phục với đoạn viết như sau: “...Chư
huynh đừng bao giờ tìm cách sửa đổi, cũng đừng
tìm lý lẽ để buộc dân chúng sửa đổi những
phép xã giao, tập tuc, phong hóa của họ, trừ khi có
những điều hiển nhiên mâu thuẫn với đạo thánh
và luân lý: có gì vô lý thô bỉ hơn là mang theo
cả nước Pháp, nước Tây ban Nha, nước Ý, hay
bất cứ nước nào khác từ bên trời Âu sang cho
dân Á đông? Không phải mang những thứ ấy đến
cho họ, bèn là mang chân lý đức tin, một chân lý
không loại trừ nghi lễ và tập tục của bất cứ
một dân tộc nào, cũng không xúc phạm đến những
lễ nghi và tập tục ấy, miễn là chúng không xấu;
ngược lại, chân lý ấy muốn cho người ta bảo
tồn và duy trì chúng là đàng khác. “Có
thể nói tự nhiên ai ai cũng cho cái của mình và
nhất là của quê hướng xứ sở mình là hơn tất
cả, và yêu mến những báu vật đó hơn những
cái ngoại lai: nguyên việc sửa chữa những quốc
lệ của người ta cũng đủ gây lòng oán hận sâu
đậm rồi, nhất là những tập tục cổ đã có lâu
đời nhất mà các tiền nhân vẫn có thể nhớ
tông tích; càng tệ hơn nữa nếu chư huynh hủy bỏ
những tập tục đó để đem phong tục của quý quốc
mà thay thế vào! Vậy đừng bao giờ nên đem những
tục lệ Âu châu đến đối lập với tục lệ của
các dân tộc ấy; trái lại hãy hết lòng sống cho
quen với tập tục của họ. “Ðiều
gì đáng khen, thì hãy khâm phục và ca tụng. Còn
điều gì không đáng thì đừng để cao om sòm theo
kiểu ba phải; nhưng hãy khôn
ngoan đừng phê phán, cũng
đừng kết án một
cách thiếu suy nghĩ và quá đáng. Nếu điều gì thực sự
xấu, thì nên chống đối bằng thái độ dè dặt và
thinh lặng hơn là bằng lời nói; song dĩ nhiên khi
tinh thần người ta đã sẵn sàng chấp nhận chân
lý, chư huynh sẽ lợi dụng những cơ hội thuận
tiện để từ từ và âm thầm nhổ bỏ nó đi.”
[10]
Tiếc là sau
này Bộ và Tòa thánh đã quên bẵng đi văn kiện
ấy. Chỉ thành công trong việc cổ vũ công tác đào
tạo hàng giáo sĩ địa phương. Năm 1664, Hội Thừa
sai Paris (Missions
Étrangères de Paris) được thiết lập và trở
thành khí cụ đặc thù của Bộ Truyền giáo tại
Châu Á. Ngay từ đầu, Bộ đã bổ nhiệm một số
Ðại diện tông tòa cho Việt Nam (1659) như François Pallu (Ðàng
Ngoài) và Pierre Lambert de la Motte (Ðàng Trong); từ
đó, xuất hiện một ‘dạng’ giám mục mới, không
có ngôi tòa riêng, trực thuộc Rôma, tựa như các
“giám mục phiêu cư” thời Trung cổ. Chính sách
thời đó của Bộ Truyền giáo là tập trung quyền
quyết định về Rôma theo “tinh thần” công đồng
Trentô, và giữ thẩm quyền trên các vùng “không
công giáo.” Nhưng vì muốn rút nhiều miền ra khỏi
ách bảo trợ Bồ đào nha, nên đã phải dựa vào
Pháp. Ðể đào tạo linh
mục địa phương, năm 1627, Bộ thành lập chủng viện
ở Rôma, tức là đại học Urbaniana
hiện nay, và một nhà in đa ngữ. Bộ cũng khuyến khích
thành lập những hội dòng mới với mục đích
truyền giáo, và duy trì các tổ chức gọi là “hiệp
hội giáo hoàng truyền giáo.” Như thế, hoạt động
truyền giáo ở khắp nơi trong Giáo hội được tổ
chức cùng phối hợp một cách chặt chẽ hơn với
phương thức tiến hành hữu hiệu hơn; tuy nhiên,
cũng phải nhận là vì thế mà tinh thần truyền giáo
trong các Giáo hội địa phương bị sa sút, nguội lạnh
đi. Tranh
luận về nghi lễ Không thể kể
lại lịch sử công cuộc truyền giáo ở Châu Á mà
không đề cập đến vấn đề này.
[11]
Ở Trung quốc (và
Ấn độ) Dòng Tên đã thử tìm cách thích nghi cách
sống đạo với bối cảnh văn hóa Trung quốc và Ấn
độ. Bất đồng ý bắt đầu chớm nở giữa các
nhóm thừa sai. Năm 1670, sách Lễ bằng chữ nho đã
được in ở Bắc Kinh. Sau đó, khi các thừa sai
khác đến, họ ngạc nhiên, nghỉ làm như thế là
làm sai giáo lý, nên đã tố cáo Dòng Tên lên
Tòa thánh. Ðó là điểm bùng nổ của một cuộc
tranh luận sôi nổi, sẽ kéo dài từ 1633 cho đến
1742. Không chỉ các Dòng và Tòa thánh không thôi,
mà còn nhiều đại học Châu Âu cũng tham gia vào
cuộc tranh luận. Năm
1645, căn cứ
vào một bản phúc trình của Dòng Ðaminh, Bộ Truyền
giáo đã kết án các “nghi lễ” mới. Nhưng, đến
năm1656, sau khi cứu xét một tài liệu Dòng Tên
đệ trình, Bộ lại chấp thuận. Cần phải giải
quyết và làm cho sáng tỏ ba điểm: Tên dùng
xướng Danh
Thiên Chúa, việc tôn kính Ðức Khổng tử và tổ
tiên. Cha Ricci đã dùng từ Thiên
hoặc Thiên Chúa; phe
bài nghi lễ cho rằng Thiên
là một tạo vật và vì thế “thờ Thiên” là
bái thờ ngẫu thần, còn nghi lễ kính Khổng tử và
các tổ tiên là những nghi thức sùng bái ngẫu
tượng. Phía Dòng Tên thì coi đó chỉ là những nghi
lễ văn hóa và dân sự. Dù
chỉ vì thiện chí mà mọi bên tranh luận, thì vụ bất
đồng ý kiến ấy đã phương hại trầm trọng đến
hoạt động truyền giáo tại Ðông Á. Ðã rắc rối,
vấn đề càng trở nên rắc rối hơn trước tiên
là bởi bị lẫn lộn với vụ xung đột giữa Bộ
Truyền giáo và Bồ đào nha, giữa Dòng Tên với
nhiều Dòng khác, thứ đến là bởi xảy ra giữa
lúc cuộc tranh cãi về học thuyết Ơn trợ giúp [De
auxiliis] cũng như về chủ thuyết của Giănxen [Jansenisme]
đang sôi nổi ở Tây phương, và cuối cùng là
bởi trùng vào lúc phong trào bài Dòng Tên đang
dâng cao tại Châu Âu. Tại Châu Á, nhiều Dòng tu
đã gây gương mù gương xấu, làm cho tính cách
đáng tin của Kitô giáo mất đi sức năng chinh
phục. Trong vụ tranh luận về “nghi lễ,” nhiều (tám
vị) giáo hoàng đã lên tiếng. Ðức Clêmentê XI
kết án “nghi lễ” hai lần vào các năm 1704 và
1715. Thấy thế, hoàng đế Khang Hy đã lên tiếng can
thiệp. Vị này đã nhận nhiều tu sĩ Dòng Tên – như
Adam Schall, Ferdinand Verbiest, Giuseppe Castiglione, v.v. –
vào làm việc tại một số dịch vụ ở Bắc kinh, và
nhờ họ mà Kitô giáo được phép sinh hoạt tự do
khắp trong nước (1692). Phật lòng đến cực độ khi
nhận được sắc lệnh của giáo hoàng, hoàng đế
đã lập tức trục xuất khỏi Trung quốc Maillard de
Tournon, là vị đại diện Tòa thánh đã mang sắc
lệnh đến, và đến năm 1706 thì ra lệnh buộc tất
cả các thừa sai không đồng quan điệm với Dòng
Tên, phải rời khỏi Trung quốc. Như vậy, dư luận
Châu Âu phân biệt rõ hai phía: một bên là Dòng
Tên với lương dân, và bên kia là các Dòng Ða
minh, Phanxicô, v.v. với Tòa Thánh! Cuối cùng, năm
1742, đức đã Biển Ðức XIV dứt khoát kết án
các “nghi lễ” và cấm chỉ các cuộc tranh luận
liên quan đến vấn đề. Trọng sắc năm 1715 buộc
phải dùng danh từ “Thiên Chúa” và cấm dùng
các từ “Thiên” và “Thượng đế,” để xưng
danh “Ðức Chúa Trời”; ngoài ra, còn
cấm cả việc tôn kính tổ tiên và buộc phải
cất bỏ bàn thờ trong các gia đình, cất khỏi các
nhà thờ tấm bảng ghi chữ “Kính Thiên” chính
hoàng đế đã đích thân truyền viết. Khó mà
lường được những hậu quả khốc hại do vụ tranh
cãi về “nghi lễ” gây nên: ở Trung quốc Kitô
giáo bị cấm cách; ở Việt Nam, Ðại hàn và Nhật
bản việc truyền giáo đã khó khăn, còn phải gặp
khó khăn chồng chất thêm. Viện cớ, phía chống
đối Dòng Tên tại Châu Âu xúi giục các nhà cầm
quyền trục xuất Dòng Tên khỏi Bồ đào nha và
vùng bảo trợ (1759), khỏi Pháp (1764) và Tây ban nha,
khỏi Châu Mỹ Latinh và Phi luật Tân (1767) v.v.; buộc
lòng phải nhượng bộ trước áp lực dồn dập,
năm 1773,
đức Clêmêntê XIV
đã quyết định giải tán Dòng Tên. Không một biến
cố nào trong lịch sử Giáo hội đã phương hại
trầm
trọng đến hoạt động
truyền giáo cho bằng vụ này. Cuối thế kỷ 18, Trung
quốc có chừng 250.000 tín hữu công giáo. Thiên
sử bi đát ấy đã kết thúc với quyết định của
đức Piô XI công bố ngày mồng 8 tháng 12 năm 1939,
cho phép cử hành các “nghi lễ” đã từng bị
kết án. Ở Ấn độ,
vụ tranh luận về “nghi lễ Malabar” cũng đã xảy ra
tương tự. Dù Gioan Brito có được phong chân
phước năm 1741, thì các “nghi lễ” cũng vẫn bị
kết án sau đó, vào năm 1744. Thật ra, trước đó,
De Nobili đã viết một bản phúc trình “biện hộ”
với kết quả là giáo hoàng và hồng y Bellarmino
(họ hàng với De Nobili) chấp thuận cách hành sử
của các thừa sai trong vụ ấy (năm 1615, 1623). Nhưng
đến năm 1704, Maillard de Tournon tới Pondichery và đã
kết án các nghi lễ Malabar. Sau nhiều cuộc tranh luận sôi nổi ở Rôma, năm 1739,
đức Clêmentê XII, năm 1739, buộc các thừa sai
phải thề hứa tuân theo các huấn lệnh cấm chỉ
những “tục lệ Malabar.”
[12]
Công
tác truyền giáo dưới
chế độ bảo trợ Tây
Ban Nha Các vùng này
gồm có Châu Mỹ Latinh và Phi luật tân.
[13]
Sau khi người
Tây ban nha đặt chân tới Châu Mỹ Latinh vào năm
1492, thì một quá trình chông gai phức tạp khởi
đầu trong nhiều lãnh vực: chính trị, kinh tế, tôn
giáo, văn minh, nhân chủng học, v.v., và một phần
nào đó, tất cả các lãnh vực ấy làm như liên
hệ chặt chẽ với nhau. Như thế là nhờ sự việc
không bao lâu trước đó Tây ban nha đã được
thống nhất, và Giáo hội trong nước đã dấn thân
sâu rộng vào trong cuộc cải cách. Công việc truyền
giáo bắt đầu từ năm 1493, nhưng nếu đã tiến
phát cường thịnh thật sự thì chính là nhờ các
dòng tu từng sống qua cao trào cải cách, như
Phanxicô (1501), Ðaminh (1510),
Ðức Bà thương
xót
(1519), Âugutinôâ (1532),
Dòng Tên (1548), v.v. Trong thế kỷ 16, đã có hơn 5.000
thừa sai Tây ban nha làm việc trên cánh đồng
truyền giáo. Chính ủy ban đặc trách của nhà vua
đích thân chọn những tu sĩ có đời sống đạo
đức cao để làm gương sáng, và để đặc biệt
sống khó nghèo. Kể từ năm
1534, đã có những nữ thừa sai đến Mêhicô để
lo việc giáo dục giới thanh thiếu nữ bản xứ. Hai
thế kỷ sau đó, đã có 130
nữ đan viện tại Châu Mỹ Latinh. Giáo
sĩ triều (chẳng hạn như Vasco de Quiroga, thánh Toribio
Mogrovejo, v.v.) cũng đã nhiệt thành dấn thân vào
nỗ lực truyền giáo. Giữa cảnh
bạo lực của chiến tranh và bóc lột, các tu sĩ
đả trở thành nơi nương tựa
cho dân bản xứ. Phương
pháp dùng đến gần giống như phương pháp thời
Trung cổ: tu viện là trung tâm giáo dục nhằm đào
tạo về tôn giáo, văn hóa cũng như nông nghiệp.
Nhiều làng ấp đã được thiết lập để đón
những nhóm dân sống rải rác về sống và sinh
hoạt chung; trong số các khu trù mật như thế, nổi
tiếng nhất là các khu vực gọi là Reducciones ở Paraguay; giữa thế kỷ 18, đã có hơn
một triệu thổ dân sống trong các khu như thế. Về
mặt văn hóa, Giáo hội lập nên nhiều nhà in để
phát hành ấn bản trong các thứ tiếng địa phương
(hồi thế kỷ 16, chỉ ở Mêhicô không thôi đã có
81 cuốn Giáo lý bằng tiếng địa phương). Về mặt
giáo dục, thì đã có 6 đại học hồi thế kỷ 16,
và con số ấy đã lên đến 25 trong thế kỷ 18, 25,
cọng với nhiều trường các cấp khác. Từ năm
1503, đã có nhiều bệnh viện được thiết lập;
trong thế kỷ 16, tại Mêhicô
không thôi, đã có 149 bệnh viện với nhiều cơ
sở có thêm trường y học). Giáo hội địa
phương được tổ chức theo kiểu mẫu Tây ban nha,
nhưng nhiều lúc cũng theo mẫu dạng mới là “địa
phận-tu viện” hoặc Reducción.
Các giám mục được
nhà
vua ủy thác nhiệm vụ
“bảo hộ thổ dân” chống lại lạm quyền địa
phương. Ðã có nhiều công đồng miền,
[14]
qua đó, Giáo hội
tiến hành công tác theo cung cách đoàn thể và rất
tự do đối với chính quyền. Khuyết điểm lớn
nhất của chế độ này là không chú tâm cho đủ
đến việc đào tạo giáo sĩ bản xứ. Vì việc
truyền giáo đi đôi với cuộc xâm chiếm toàn
châu, nhiều khi nhà nước lạm dụng quyền và bóc
lột thổ dân. Dù luật pháp Tây ban nha cấm chỉ
việc bắt buộc thổ dân Châu Mỹ làm nô lệ, và
đi bắt người da đen ở Phi châu đem về, nhưng lại
cho phép mua nô lệ người da đen do Tin lành bán.
Thánh Phêrô Claver († 1654) là vị tông đồ người
nô lệ da đen ở Colombia. Giữa thế kỷ
18, phần lớn dân chúng sống tại Châu Mỹ kể từ
California cho tới Chilê đều là công giáo, với
một lối sống đạo đặc thù: các người dân lai (mestizo)
sống đạo theo kiểu bình dân, biểu hiện rõ qua một
dạng mỹ thuật “lai,” mỹ thuật barốc-bản xứ
tuyệt đẹp. Hai thế kỷ 19 và 20 đã ghi lại một
chặng sử bi đát với hàng loạt cuộc cách mạng
lẩn quẩn nối đuôi nhau, đẻ ra những chính thể
kém cỏi làm cho vùng Châu Mỹ Latinh hiện đang phải
vật lộn hầu thoát cho khỏi tình trạng thiếu mở
mang. Phi luật tân cũng thuộc khu vực truyền giáo do Tây ban nha bảo trợ. Công tác truyền giáo khởi sự từ năm 1565, do các Dòng Âugutinôâ, Ðaminh, Phanxicô và Dòng Tên; một thế kỷ sau, đa số dân Phi đã được rửa tội, trừ miền nam hồi giáo ra. Năm 1579, địa phận Manila được thiết lập và năm 1595 đã trở thành tổng giáo phận. Do dòng Ðaminh sáng lập năm 1645, đại học Santo Tomás là đại học đầu tiên ở châu Á tổ chức theo kiểu Châu Âu. Ðiểm yếu ở vùng này |