|
CHƯƠNG IV NhỮng VẤn ÐỀ ThẦn HỌc
Việc truyền giáo hiện đang trải qua một cơn khủng hoảng trầm trọng. Tại sao? Thần học đặt nhiều vấn đề liên quan đến cứu độ học; cụ thể là vấn đề về ơn cứu độ lương dân, và cụ thể hơn nữa là về giá trị cứu độ của các tôn giáo khác. Ngoài ra, còn có vấn đề mục vụ: làm sao để điều hòa quan hệ giữa việc truyền giáo và công cuộc phát triển xã hội; vấn đề “chính trị”: hoạt động truyền giáo bị một số người coi là ý đồ bành trướng “đế quốc tôn giáo” hoặc là một hình thức “xâm lăng văn hoá,” v.v. Phải nghĩ thế nào về các khó khăn này? I. Ơn CỨu ÐỘ Lương Dân Lịch sử truyền giáo cho thấy là ngày
trước, căn cứ vào Rm 10:15-17, đại đa số các
thừa sai dấn thân vào việc rao giảng Tin Mừng với
thâm tín kiên vững rằng có minh nhiên đón nhận
đức tin kitô thì con người mới được cứu rỗi;
trường hợp điển hình là thánh Phancicô Xaviê.
Vậy, khi thần học đề xuất và phổ biến học
thuyết về ơn cứu độ lương dân, tức là về sự
việc cả những người không nhận biết được
Ðức Kitô một cách minh nhiên, thì cũng có thể
nhận được ơn cứu độ, thì đà hăng say và
nhiệt huyết truyền giáo lắng nguội dần: số những
người nuôi lý tưởng làm thừa sai giảm đi rất
nhanh.
[1]
Vấn đề xuất hiện lần đầu ở trong
truyền giáo học với cuốn sách của
Lange Le problème
théologique des missions,
xuất bản ở Louvain, năm 1928. Vấn đề đã
trở thành đầu đề tranh luận sôi nổi trong những
dịp nhóm họp về truyền giáo, như: cuộc triển lãm truyền giáo ở Barcelona
(Tây
ban nha)
năm 1929, Tuần VIII về truyền giáo ở Louvain
(Bỉ) năm 1930, và hội nghị của Hiệp hội
giáo sĩ truyền
giáo
(L’Union Missionaire
du Clergé) tại Pháp năm 1932. Nhà thần học P. Glorieux chủ trương rằng việc truyền giáo không phải là
chuyện sinh tử đối với phần rỗi lương dân, mà
chỉ là tác vụ nhằm mang lại cho họ niềm viên
mãn của ơn cứu độ; trái lại, E. Hugeny, O.P., coi
đó chỉ là giả thuyết gây tai tiếng. Henri de Lubac, và cả L. Capéran đứng ra
giải
hòa
giữa
hai lập
trường.
[2]
Dựa vào kế hoạch cứu độ, Henri de Lubac
giải thích rằng mọi ơn thánh đều bởi Ðức Kitô
mà đến và đều dẫn đến với Giáo hội là Thân
thể của Ngài. Từ đó, Otto Semmelroth, SJ, đi đến
kết luận xác quyết rằng Giáo hội cần thiết như
thế nào thì công tác truyền bá Phúc âm cũng cần
thiết như thể
ấy. Kết luâïn như thế vì thần học không coi ơn
cứu độ như là chuyện
cá nhân riêng lẽ, chuyện “được lên thiên
đàng hay là phải xuống hỏa ngục,” nhưng là ân huệ
nằm trong toàn bộ công trình cứu độ của Ðức
Kitô và nằm trong vai trò Giáo hội đóng giữ theo
kế hoạch Thiên Chúa. Mục đích sứ mệnh Giáo hội
là không gì khác ngoài mục đích của chính Ðức
Kitô, đó là: “Vì loài người chúng ta và để
cứu rỗi chúng ta,
Người đã từ
trời xuống thế.” Viễn ảnh ấy mở rộng tầm nhìn
cho thấy rõ sứ mệnh truyền giáo quả là cần
thiết để cho thế gian được cứu rỗi.
[3]
Nếu thời tiền công đồng Vaticanô II
đã nghe các tác giả nói tới vấn đề lương dân có
thể được cứu rỗi, thì thời hậu công đồng
đã có dịp chứng kiến nhiều thần học gia (như E.
Hillmann, W. B. Frazier, H. Halbfas, v.v.) chủ trương rằng
kitô hữu và lương dân đều có cái nhiên ngang nhau, tức là đều có thể –
trong mức độ như nhau, không hơn không kém – nhận
được ơn cứu độ. Thái độ “lạc quan cứu độ” (salvific optimism) ấy
quả đã gây hại trầm trọng đến đà hướng
truyền giáo, như K. Rahner và P. Arrupe đã chính xác
nhận định. Hiện nay, đối với hoạt động truyền
giáo, đó là vấn đề sinh tử. Về mặt tri luận,
thần học đối diện không phải với một vấn
đề mà là với một mầu
nhiệm, bởi lẽ những ai được cứu độ,
những ai không được rốt cuộc chỉ một mình Thiên
Chúa biết. Vì thế, có lẽ cần phải nhìn về một
phía khác để cùng kết luận với đức Phaolô VI:
“Nhờ lòng thương của Thiên Chúa, nhiều người
có thể được cứu rỗi theo một cách khác, dù
chúng ta không rao giảng Tin Mừng được cho họ; tuy
nhiên, nếu không truyền bá Phúc âm, hoặc vì sao
lãng, sợ sệt hay ái ngại – thánh Phaolô gọi là
“hổ thẹn vì Tin Mừng” (Rm 1:16) – hoặc là vì suy nghĩ sai lầm, thì liệu
chúng ta có được cứu rỗi không.”
[4]
Bất cứ ai, dù lương dân hay vô
thần, cũng đều có
thể được cứu rỗi; trái lại, người kitô
cũng vẫn có thể đi lạc ra ngoài con đường cứu
độ; giáo lý này – giáo lý chung ở Giáo hội
công giáo
[5]
– đã được Hiến chế Ánh Sáng Muôn
Dân nhắc lại ở trong số 16. Tuy nhiên, Vaticanô
II cũng đã minh nhiên khẳng quyết về
tính chất cần thiết của công việc truyền
giáo, bởi đó là ý định cứu độ của Thiên
Chúa (x. TG 7). Loài người càng phải sống giữa
những điều kiện
khó khăn của thực trạng thế giới ngày nay,
thì như công đồng nhận định, “Giáo hội càng
được kêu mời khẩn
thiết hơn để cứu vớt và canh tân mọi loài”
(AG 1b). Trong vấn đề này, thần học ý thức
là phải tiến hành cuộc tìm hiểu với thái độ
cẩn trọng tối đa, bởi việc cứu độ con người
tự do là một mầu nhiệm hết sức tế nhị, mầu
nhiệm diễn ra trong nơi sâu thẳm của cá nhân từng
người (x. TG 6d, 9c, v.v.), nhưng đồng thời lại
vượt hẳn lên trên khuynh hướng cá nhân chủ
nghĩa cũng như quan niệm riêng tư của mỗi người,
và nêu bật liên đới tính giữa nhân loại như
là một yếu tố thiết cốt của bản tính loài
người. Ðấng Tạo hóa đã dựng con người nên
với bản tính như thế,
thì Ngài cũng cứu chuộc con người theo cách
thức tiến hành của bản tính ấy: “Ý Thiên Chúa
là muốn thánh hoá và cứu rỗi loài người không
phải cách riêng rẽ, tách khỏi mọi quan hệ liên
đới, nhưng bằng cách quy tụ họ thành một dân
tộc để họ nhận biết Người trong chân lý và
phụng sự Người trong thánh thiện,”
[6]
để trong Ðức Kitô loài người trở
thành một gia đình duy nhất, một Dân duy nhất của
Thiên Chúa” (x. TG 2b). Ðó là đường lối cứu
độ Thiên Chúa đã chọn, như nhận biết được qua
mạc khải. Làm công tác truyền giáo, Giáo hội
không chủ yếu nhằm vào việc cứu từng cá nhân
cho khỏi sa xuống hỏa ngục, (cho dù không được
quên khía cạnh này), nhưng là ra sức quy tập mọi
người vào trong Thân thể Ðức Kitô, vào trong thân thể Giáo hội, nghĩa là giúp họ
thành toàn trong chiều kích xã hội, thành toàn con
người của mình trong Chúa. Ý định và hoạt động
cứu độ của Thiên Chúa (x. 1Tm 2:4) không chỉ đơn
thuần thu hẹp vào trong lãnh vực nội tâm (x. TG 3a),
vô hình, nhưng còn mở rộng ra cho hết mọi chiều
kích, mọi lãnh vực của Nhập thể: thế nên, cần
phải có chiều kích hữu hình và tập thể hệt như
bản chất con người vậy. Mục tiêu tối hậu của
kế hoạch Thiên Chúa là vinh quang của chính Thiên
Chúa; nhưng sự cứu rỗi của con người là một
khía cạnh của vinh quang Chúa: hoạt động cho vinh quang
Thiên Chúa mà lại không quan tâm gì đến công tác
cứu rỗi con người là một việc làm mâu thuẫn.
Vì thế, sắc lệnh về đại kết viết: “Giáo hội
duy nhất và hữu hình được Thiên Chúa sai đến
với toàn thể thế giới, để thế giới trở về
với Phúc âm và nhờ vậy được cứu rỗi hầu
làm vinh quang Thiên Chúa” (HN 1b). Trong chiều hướng suy tư ấy, Ðức Gioan Phaolô nhận định
rằng: “Ðiều
hiển nhiên là ngày nay cũng như trong quá khứ,
nhiều người không thể biết đến để chấp nhận
mạc khải của Phúc âm hầu gia nhập Giáo hội. Họ
sống trong những hoàn cảnh xã hội và văn hoá
gây chướng ngại cho đức tin kitô, cho dù thường
khi, họ đã được nuôi dưỡng trong các truyền
thống tôn giáo khác. Họ có thể đạt đến được
ơn cứu độ của Ðức Kitô qua ân sủng; và dù
có quan hệ nhiêïm mầu với Giáo hội, ân sủng
này vẫn không đưa họ vào trong cộng đồng kitô.
Ân sủng soi sáng đầy đủ cho họ theo trạng hướng
nội tâm và xã hội của họ. Ân sủng phát sinh
từ Ðức Kitô, tức là hoa quả của cuộc Ngài hy
sinh, và được Thánh Thần ban cho. Nhờ ân sủng
ấy, mỗi người có thể được cứu rỗi nếu biết
hợp tác đúng mức.”
[7]
ơn
cỨu đỘ là như thẾ nào?
Qua thông điệp Sứ
mêïnh Ðấng Cứu Ðộ [Redemptoris missio], Ðức
Gioan Phaolô II đã giải đáp cho vấn nạn: “Ðức
Kitô đã mang lại cho chúng ta ơn cứu độ toàn
vẹn, ơn cứu độ bao gồm con người toàn diện và
hết thảy mọi người, đưa con người vào trong lãnh
vực kỳ diệu của tử tính Thiên Chúa” (số 11).
Tuy nhiên, các thừa sai cũng phải lưu ý đến
những quan niệm khác nhau về việc cứu độ trong
các tôn giáo không-kitô.
[8]
Trước hết, sự cứu độ là một
ơn, một ân huệ nhưng không: không ai xứng đáng
để nhận được ơn ấy. Thứ hai, không ai có thể
tự cứu rỗi lấy mình: ai đã chết vì tội thì
không thể nào làm cho mình sống lại được. Thứ
ba, ơn cứu rỗi thuộc lãnh vực siêu nhiên, thế
nên con người tự nhiên không thể với tới bình
diện siêu nhiên để tự sức mình nhận lấy ơn ấy
được: dù có tu thân đức độ đến đâu đi
nữa thì con người – thuần túy tự nhiên – cũng
chưa phải là một kitô hữu. Bẩm sinh, con người
đáng phải chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa (x. Ep
2:3), và do bởi sức riêng cũng như việc mình làm
thì không thể trở nên công chính, hay được công
chính hoá; như thế để không ai có thể tự hãnh
diện (x. Ep 2:9; Rm 3:20; 9:12; Gl 2:16, v.v.). Tuyệt đối
không một thuật khổ chế nào có sức năng biến
con người thành con Thiên Chúa. Chúa Cha sai Con mình
đến để cứu rỗi thế gian (x. Ga 3:16-17), và ngoài
Ngài ra, không một ai có thể làm gì được để
cứu độ (x Ga 15:5). Theo mạc khải kitô, kế hoạch
cứu độ nhắm mục đích này: làm cho mọi người
trở nên con Thiên Chúa trong Ðức Kitô. Và Thiên
Chúa đã dựng nên con người với định mệnh siêu
nhiên và đời đời này: hoặc là hoàn thành con
người mình với và trong Thiên Chúa, hoặc là thất
bại, rơi vào con đường hư hỏng và phải xa cách
Người đời đời; nhưng không ai đến được với
Chúa Cha mà không qua Ðức Kitô (x. Ga 14:6). Vì Thiên
Chúa đã sai Con Một làm Ðấng Cứu thế (x. 1Ga 4:14)
để cứu độ hết thảy mọi người (x. 1Tm 2:4). Ơn
cứu độ tiên khởi và cội nguồn
đã được thể hiện nơi bản thân Ðức
Kitô, và toàn bộ ân sủng được ban
cho hết thảy những người khác đều mang “Kitô
tính.” biẾn
cỐ ơn cỨu đỘ Ơn cứu độ là sự việc con người
tham dự cách tự do vào đời sống của Thiên
Chúa; vì thế, ơn ấy phải biến thành chính con
người vậy, nếu không thì chỉ là một cái gì
ngoại lai. Thần học nói về “lịch sử cứu độ,”
nghĩa là về một quá trình vừa của toàn thể nhân
loại mà cũng vừa của từng cá nhân. Ơn cứu
độ không phải là do bẩm sinh, nhưng là từ
nơi khác mà đến, như Ðức Giêsu đã nói với
dân Samaria: “Ơn cứu độ phát xuất từ dân Do
thái” (Ga 4:22); thế mới hiểu tại sao trong kế
hoạch của Thiên Chúa, công tác truyền giáo là
việc cần thiết. Cần có thời gian, cần có nơi
chốn để biểu hiện, biểu thị “giá trị” cứu
độ; thí dụ: Giáo hội làm bí tích cứu độ, Thánh
Lễ hiện diện hoá biến cố Phục sinh, v.v. Công
đồng hiểu rằng việc cứu độ hiện “đang xảy ra”
trong Giáo hội (x. chẳng hạn HN 2). Vì thế, có thể
dựa theo thánh Âugutinô mà nói: “danh hiệu ‘kitô
hữu’ là danh hiệu ân sủng, danh hiệu cứu độ”
(GH 32 cuối). Hẳn là ơn cứu độ cũng hoạt động
ngoài Giáo hội; nhưng nếu ơn ấy không “được
giáo hội hoá” thì – theo ý định Chúa –
là “ơn dang dở.” Ðược cứu rỗi là cuộc biến đổi
toàn diện, nghĩa là không chỉ có tính cách đơn
thuần ‘thiêng liêng’ mà còn mang cả tính cách ‘vật
chất,’ không chỉ liên quan đến một mình linh hồn
mà cả đến xác thể, không chỉ là biến cố riêng
tư mà còn là tập thể, v.v. (x. MV 3a). Tắt một
lời, được cứu độ là được thông phần vào
ân huệ của chính bản thân Ðức Kitô, “con
người hoàn hảo,” theo khả năng không ngừng tăng
trưởng của mỗi người, hoặc nói cách khác, theo
nguyện vọng thiêng liêng của các cá nhân, nguyện
vọng được Ðức Kitô làm cho thỏa mãn đến một
mức vượt hẳn lên trên mọi ước vọng có thể
có (x. TG 13a). Hết mọi khía cạnh của nhân tính và
của nhân loại đều phải được cứu độ; nếu
Ðức Kitô dạy phải “bỏ mình” thì chính là để
có thể “thủ đắc mình” cách trọn vẹn và đầy
đủ hơn. Mang xã hội tính, con được cứu độ
không phải là riêng lẻ một mình, song là trong mối
liên đới với “tha nhân,” với mọi nguời; vì
thế, cá nhân phải gia nhập Dân Chúa hoặc gia đình
của Thiên Chúa, v.v.
[9]
Hơn nữa, vì Ðấng Cứu độ là “trưởng
tử muôn vật” (Cl 1:15), và muôn vật thì liên
đới với loài người (x. Rm 8:22-23), nên ơn cứu
độ cũng bao gồm cả chiều kích vũ trụ ấy của con
người. Ðược cứu rỗi là trở nên thành phần
của “trời mới và đất mới” nằm dưới quyền
thủ lãnh của Ðức Kitô là Ðầu (x. MV 39); thật
vậy, là “tạo vật mới” qua biến cố phục sinh,
Ðức Kitô đã “khánh thành” thời đại cuối
cùng ấy ở trong Giáo hội (x. GH 48b). Ơn cứu độ chung quyết mang tính cách
cánh chung, nghĩa là chỉ được hoàn thành ở đời
sau (x. GH chương 8). Bao lâu còn ở đời này con
người chỉ được cứu rỗi trong niềm hy vọng (x. Rm
8:24). Cả đến kitô hữu cũng cần phải không
ngừng cảnh giác (x. 1Cr 10:21; Pl 2:12; 1Pr 1:17), bởi
lẽ, song song với mầu nhiệm cứu độ, mầu nhiệm
tội ác cũng đang hoạt động mạnh (x. 2Th 2:7). Ðối
với những người quá cố đã được cứu độ,
thì thân thể của họ vẫn tàn lụi ra tro bụi và
chỉ được hưởng ơn cứu độ trọn vẹn trong ngày
xác loài người sống lại. ơn
cỨu đỘ và viỆc truyỀn giáo Ơn cứu độ toàn diện trên chỉ có
thể trọn vẹn thành tựu qua phương pháp chính Thiên
Chúa đã an bài, nghĩa là qua đức tin, phép rửa
và Hội thánh. Ðó là điểm giáo lý hiện đang
được bàn luận sôi nổi. Vaticanô II đã mạnh dạn
khẳng quyết: “Dựa trên Thánh Kinh và Thánh
Truyền, thánh công đồng dạy rằng: Giáo hội lữ
hành này cần thiết cho phần rỗi. Thực vậy, chỉ
một mình Chúa Kitô là Trung Gian và là con đường
cứu độ... Chính Ngài đã minh nhiên công bố sự
cần thiết của đức tin và của phép rửa (x. Mc
16:16; Ga 3:5), và đồng thời Ngài cũng đã xác
nhận sự cần thiết của Giáo hội mà mọi người
phải bước vào qua cửa của phép rửa” (GH 14a).
Vì là cần thiết nên đức tin được gọi là “đức
tin cứu rỗi” (fides salvifica):
đó là mục đích của việc truyền giáo (x. MV 24a).
Và được cứu độ là trở thành con Thiên Chúa,
nên phải được “sinh ra” theo một cách mới,
tức chịu phép rửa, như Ðức Kitô đã giải thích
(x. Ga 3:5). “Vì vậy, mọi người phải trở lại
với Ngài Ðấng mà họ đã nhận biết nhờ lời
giảng dạy của Giáo hội, và chịu phép rửa để
tháp nhập vào chính Ngài và vào Giáo hội, Thân
thể của Ngài” (TG 7a). Rồi, trong Giáo hội, tín
hữu hiệp thông với Ðức Kitô qua Thánh thể: đó
là ơn cứu độ tối hảo ở đời này. Như vậy,
ơn cứu độ kitô không chỉ do bởi “Thiên Chúa Duy
Nhất” (như tín đồ các tôn giáo khác có thể
nhận ra được), mà còn do bởi “Thiên Chúa Ba
Ngôi” (như chính Người đã tự mạc khải cho
chúng ta). Ðó chính là ân huệ Ðức Kitô hằng
muốn phân phát cho mọi người (x. Mt 28:19); đó chính
là ý Ngài muốn nói lên khi để lại giữa loài
người, “thịt của Ngài để cho thế gian được
sống” (Ga 6:51). Tuy
Nhiên Ðiều minh nhiên khẳng định trên đây
không phủ nhận một điểm giáo lý khác, đó là
ngoài Giáo hội hữu hình cũng có ơn cứu độ.
Vaticanô II bắt đầu chương 2 về “Dân Thiên Chúa”
với câu này: “Chắc chắn là trong mọi thời đại
và mọi dân tộc, bất cứ ai kính sợ Thiên Chúa
và thực hành đức công chính, thì đều được
Người đoái thương” (GH 9a). Chương này (“Dân
Chúa”) của công đồng bao gồm người dự tòng
(số 14), các kitô hữu thuộc giáo hội hoặc giáo
phái khác (số 15), những người ngoài kitô giáo,
và cả đến những người vô thần (số 16).
[10]
Ðức tin hẳn là cần thiết, nhưng “Thiên
Chúa có thể dùng những đường lối chỉ mình
Người biết được, để đưa những kẻ không vì
lỗi mình mà chưa được biết Phúc âm, đến với
đức tin” (TG 7a); đó là “đức tin cứu độ”
theo Dt 11:6 được công đồng trích dẫn.
[11]
Theo Rm 1:20 (x. DS 3004), con người có thể
biết được Thiên Chúa qua vũ trụ, qua các tạo
vật, và sự hiểu biết ấy không chỉ là thuần túy
tự nhiên, vì khởi sự từ chứng tá của Ngôi
Lời tạo hoá (x. MK 3), có thể được quan niệm như
là “lời Chúa” theo cách loại suy. Những “hạt
giống (vết tích) của Ngôi Lời” (semina
Verbi) được Thánh Thần dùng để mời gọi mọi
người đến với Ðức Kitô (x. TG 15), và do đó,
việc đáp ứng “lời mời” ấy mang tính chất
siêu nhiên. Do thái giáo và Hồi giáo “tuyên xưng
đức tin của Abraham” (GH 16), và vì thế được
thực sự tham dự vào mạc khải kitô. Những
người khác có thể có đức tin theo dạng “đức
tin vũ trụ” (cosmic
faith) hoặc qua “việc dấn thân luân lý” (moral
commitment). Nội dung của “đức tin” này có thể
là thái độ tuân phục Ðấng [Sự] Tuyệt đối,
hoặc là ý chí tự do thực hành chân thiện. Kết
quả cứu độ thì chỉ một mình Thiên Chúa biết. Còn đối với phép rửa và Giáo
hội, thần học đã từng biết đến votum,
tức ước nguyện (lòng ao ước, cả đến một cách
vô thức) đối với ơn cứu rỗi: nếu bất cứ ơn
nào cũng đều là ơn của Ðức Kitô và đều mang
“khuynh hướng” quy về với Giáo hội, nên ước
nguyện cứu độ là ước nguyện thuộc về Giáo
hội vậy (cách mặc nhiên: x. GH 13 cuối). Sự thật
sẽ hiển hiện hồi cánh chung, khi “mọi người công
chính, từ Ađam, ‘từ Abel công chính cho đến
người được tuyển chọn cuối cùng’, sẽ được
tập họp trong Giáo hội phổ quát bên Chúa Cha” (GH
2 cuối).
[12]
Nếu vậy, thì còn cần gì truyền giáo?
Vaticanô II ý thức rất rõ về vấn nạn này; vì
thế, số 7 trong Sắc lệnh về Hoạt động Truyền Giáo khẳng quyết
rằng, dù sự thực là thế đối với cả hai phía
(ơn cứu độ ở trong và ở ngoài Giáo Hội hữu
hình), thì cũng không thể không xác nhận sự cần
thiết và tính chất thiết bách cao độ hơn của việc
truyền giáo. Quyết định cứu độ phổ quát (x. 1Tm
2:4) và mệnh lệnh truyền giáo là hai cách diễn
đạt cùng một ý định của Thiên Chúa trong việc
thực hiện kế hoạch cứu độ duy nhất: cách biểu
đạt thứ nhất vén mở cho thấy ý định của Thiên
Chúa, cách thứ hai nêu rõ nhiệm vụ của Giáo
hội. Vì thế, công đồng gọi sứ mệnh của Giáo
hội là “sứ mệnh cứu độ” (GH 30. 33; TÐ 33; TG
41), “sứ mệnh cứu độ phổ quát” (LM 10). Chẳng
thế mà Ðức Gioan Phaolô II viết: “Cần phải cùng
một lúc, nắm vững cả hai chân lý này: mọi
người có thể được cứu rỗi trong Chúa Kitô và
đồng thời Giáo hội cũng cần thiết để họ
được cứu rỗi.”
[13]
Việc truyền giáo cần thiết vì những
lý do ở trên; nhưng về phương diện “cứu rỗi
từng cá nhân” thì sao? Chắc đó không phải là
lý do thần học duy nhất, và quan trọng nhất, dẫu
có lẽ về phương diện tâm lý có thể là lý do
hấp dẫn mạnh nhất. Thái độ lạc quan về sự cứu
độ ngoài Giáo hội không cho phép nhắm mắt bưng tai
về thế gian. Hiến chế Ánh
Sáng Muôn Dân viết: “Con người thường bị ma
quỷ gạt gẫm làm cho phán đoán sai lạc đi, khiến
họ đánh đổi chân lý Thiên Chúa với sự giả
dối, đi phụng sự tạo vật hơn là phụng sự Ðấng
Tạo hoá (x. Rm 1:21 và 25)...” (số 16). Cứ lớn
tiếng chê trách “Giáo hội tội lỗi” để coi dân
ngoại là “cảnh vực thánh thiện” thì quả thật
là ngây thơ... Thế gian không ở thế “trung lập”
đối với ơn cứu độ, nhưng là “kẻ thù” chống
lại Thiên Chúa, và gây nguy hại trầm trọng cho số
phận của những ai sống theo tiêu chuẩn của nó (x.
Rm 12:2). Nếu sau khi đã được “tái sinh” nhờ
phép rửa và được củng cố nhờ các bí tích,
v.v... mà kitô hữu vẫn thấy còn bị lay động bởi
không biết bao nhiêu khuynh hướng xấu, thì còn nói
chi đến tình trạng nội tâm, thiêng liêng của
những người không hưởng được các ân huệ
vừa nói! *
*
* II. TruyỀn Giáo và Giá TrỊ CỦa Các Tôn Giáo Khác Có
quan hệ mật
thiết với chủ đề bàn đến trên đây, và có lẽ cũng chỉ là một khía cạnh của
nó, vấn đề
này chỉ mới xuất hiện gần đây và hiện nay
được thảo luận như là một vấn đề đứng
riêng. Muốn nói gì khi dùng từ “tôn giáo”?
Khoa học hiểu “tôn giáo” theo nhiều
cách khác nhau, nhưng bao giờ cũng muốn chỉ về
những yếu tố tín ngưỡng, hành vi và tình cảm.
Trong Anh ngữ, người ta gọi tắt là CCC (Creed, Cult, Code), tức tín ngưỡng, tế tự và quy tắc ứng xử;
ngoài ra còn phải có một tập thể. Tôn giáo là
cuộc “đối thoại” giữa con người và Ðấng
Tuyệt đối: cuộc đối thoại diễn ra trước hết qua
sự việc Thiên Chúa mời gọi, hằng không ngừng
mời gọi, và qua sự việc con người tìm kiếm cùng
được Thiên Chúa đáp trả, tức là bao giờ cũng
có một hình thức “mạc khải.” Tông huấn Giáo
hội tại Châu Á (Ecclesia in Asia), số 6, phân biệt
giữa “tôn giáo” và “truyền thống thiêng
liêng,” để gọi Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi
giáo và Ấn giáo là “tôn giáo lớn” [tầm cỡ
hoàn cầu] (Worl Religions);
rồi ngoài rất nhiều các “tôn giáo truyền thống
và bộ lạc” khó mà kể ra hết được, thì còn
có các “truyền thống thiêng liêng,” chẳng hạn:
Phật giáo, Ðạo giáo, Khổng giáo, tại Ấn độ thì
có Ðạo Giaina, Ðạo Sikh, và Ðạo Zoroastrô (Ấn độ
và Ba tư), còn tại Nhật bản thì có Thần Ðạo
(Shinto). Cách chung, các tác phẩm viết về “tôn
giáo” thường xếp Phật giáo vào hàng “các tôn
giáo lớn.” Thêm vào đó, còn phải kể đến
những phong trào tôn giáo mới, thường thì khá
mờ ảo, không dễ để phân loại.
Vấn
Ðề Sau đây là lối lý luận vấn đề.
Trong bối cảnh đa dạng hiện nay, thái độ kính trọng
đối với các lập trường, phong tục và truyền
thống khác là thái độ hợp lý; thậm chí đó là
thái độ duy nhất hợp lý. Về mặt tôn giáo,
nhiều truyền thống và tín ngưỡng thường cùng
chung sống với nhau. Một đàng, tất cả những xác
tín và yêu sách tôn giáo của mình là chính thật,
có khi tuyệt đối nữa; đàng khác, cuộc sống xã
hội đòi hỏi phải đối xử hòa thuận với nhau;
trong bầu khí ấy, “hòa thuận” thay thế cho “chân
lý,” và quy trình đời sống bắt nguồn từ dưới
lên (đa số trong xã hội), chứ không phải từ
trên xuống (Thiên Chúa). Xác tín về những gì
tuyệt đối là cố chấp, thiếu khoan dung, và hơn
nữa, là mù quáng, không thấy được chân lý nơi
người khác, ở chỗ khác. Vì thế, thái độ thực
sự ‘trí thức’ chỉ có thể là tương đối
thuyết. Rối ren hơn nữa là tình trạng hỗn hợp
tôn giáo và văn hoá; đã đành văn hoá thì
tương đối, nhưng từ đó, tôn giáo cũng bị coi là
như thế. Rốt cục, bàn cãi về sự thật (vấn đề
chính thống) là việc làm vô bổ; tốt hơn là lo
làm điều thiện, bởi ai ai cũng hiểu được và
đều đồng ý (ưu tiên dành cho chính hành). Một lẫn lộn hay ngộ nhận khác nữa
là coi “kitô giáo,” “giáo hội” và tệ hơn
nữa, Giáo hội “tây phương” chỉ là một. Rồi
còn đem tôn giáo này so sánh với tôn giáo nọ,
đề cao điều tốt nơi nhiều tôn giáo, làm như để
phơi bày cho nổi bật hơn những sơ sót ở trong
Giáo hội. Tại nhiều nơi, hiện đang có phong trào đi
tìm “gốc rễ” của mình trong các nền văn hoá cổ
xưa, coi Giáo hội như là tổ chức đồng lõa với
thực dân. Tuy nhiên, thực dân cũng đã mang đến
nhiều điều tốt (khoa học và kỹ thuật, chẳng hạn),
thế nên không thiếu chi kẻ chỉ muốn lấy phần này
và bỏ phần kia, theo tiêu chuẩn “duy ích.” Về
phương diện này, việc truyền giáo gặp phải nhiều
khó khăn. thẦn
hỌc vỀ các tôn giáo Thần học dựa trên nền tảng đức
tin.
[14]
Thần học kitô là khoa học quy phạm (normative
science), gia
công tìm hiểu mọi sự trong ánh sáng của mạc khải
kitô. Triết lý về các tôn giáo dùng những tiêu
chí duy lý hoặc khoa học, còn thần học thì tiến
hành theo tiêu chí của mạc khải. Ðối diện với
vấn đề, thường có ba loại lập trường: 1. Lập trường chuyên nhất (exclusivist), chủ trương duy chỉ Ðức Kitô là nguồn
ơn cứu độ, duy chỉ đức tin kitô là đường giải
thoát, còn các tôn giáo khác thì hoăïc là “xấu”
hoăïc chẳng có lợi ích là mấy. Ðó là dạng
thần học của Karl Barth, E. Brunner, K. Kraemer,
và của trường phái duy văn tự hoặc bảo thủ
quá khích. Phúc âm “phán xét” các tôn giáo,
và trong đó chúng được thành tựu. 2. Lập trường gồm hàm (inclusivist),
chủ trương rằng các tôn giáo không-kitô có kinh
nghiệm và hiểu biết đích thực về Thiên Chúa,
nhưng mức viên mãn chỉ tìm thấy được ở trong
Kitô giáo. Mọi người có thể được cứu rỗi,
nhưng ơn ấy có được là nhờ Ðức Kitô và
hướng về với Giáo hội. Ðức Kitô là Ðấng
Cứu thế duy nhất và phổ quát, và tất cả những
gì là chân thiện đều phát sinh từ Ngôi Lời (x.
Ga 1:9). Giáo hội thì không chỉ đơn thuần là một “tôn
giáo,” mà còn và nhất là thân
thể Chúa Kitô.
Có thể nói đó là
lập trường phổ biến nhất giữa thần học công
giáo. 3. Lập trường đa dạng (pluralist),
chủ trương tôn giáo nào cũng đều tốt, đều là
đường cứu độ như nhau, là những lối ngả khác
nhau nhưng đều dẫn đến với cùng một Vị Tuyệt
đối. Là một yếu tố của văn hoá, nên tôn giáo
mang tính chất tương đối. Mỗi người và mỗi nền
văn hóa có tôn giáo riêng, thích hợp với nhu
cầu riêng của mình. Ba lập trường này còn xuất hiện
dưới nhiều sắc thái khác nhau tùy quan niệm các
tác giả hoặc các người chủ trương. Kinh thánh có
lối nhìn khá tiêu cực về tôn giáo của các dân
ngoại. Dù cho là mọi dân tộc có thể biết Thiên
Chúa qua vũ trụ (x. Kn 13, Rm 1:19-20), nhưng trong thực
tế, Cựu Ước là cả một quá trình bút chiến
chống lại chế độ đa thần và việc thờ tự các
ngẫu tượng, “vì chư thần các nước thảy đều
hư ảo” (Tv 96: 5; 1Sb 16:26), “ước gì những kẻ
làm ra hoặc tin ở tượng thần cũng giống như
chúng vậy” (Tv 115:8). Tệ hơn nữa, các thần ấy
là kẻ thù của Yahvê. Lúc đầu, Ítraen tin là mỗi
dân tộc đều có thần riêng của mình (thuộc một
loài gì đó), dẫu đối với Ítraen, Yahvê thì “cao
cả hơn hết mọi thần minh” của Ai cập (x. Xh 18:11;
Ðnl 4:7), và là Ðấng đã cấm ngặt Ítraen “không được có thần
nào khác đối nghịch với” Người (điều răn
thứ nhất: Xh 20:3). Còn đối với các dân ngoại
thì việc họ phụng sự các thần của họ được coi
là chính đáng (x. Rút 1:15). Các tiên tri đã cho thấy rõ các
ngẫu tượng không là gì cả (x. Gr 2:11), thậm chí coi
đó là những đồ vật đáng khinh bỉ (x. Is 41:21tt). Tân Ước được biên soạn trong một
xã hội đa tôn giáo, do các tác giả gốc Do thái
(trừ Luca ra), tức xuất thân từ một truyền thống
không đánh giá cao hành vi tôn giáo và luân lý
của lương dân. Ðiển hình là chương một của thư
gửi tín hữu Rôma, trong đó tác giả gọi họ ngu
si, điên rồ, buông theo dục tình đồi bại, thù
ghét Thiên Chúa, v.v. (x. Rm 1:21-32). Trong 1Cr 10:20, vị
tông đồ coi việc họ cúng tế là “cúng cho ma
quỷ.” Thánh Gioan đối sánh dân kitô với dân
ngoại và nói: “Chúng ta thuộc về Thiên Chúa, còn
tất cả thế gian đều nằm dưới ách thống trị của
Ác thần (x. 1Ga 5:19). Cho đến nay, các bản văn này
vẫn còn ảnh hưởng sâu rộng trên tư tưởng kitô
giáo. Nếu ý kiến về tôn giáo có tiêu
cực như thế, thì quan niệm về từng cá nhân lại
khác hẳn. Trước hết, về số phận của mỗi
người thì chỉ mình Thiên Chúa biết, thế nên không
thể kết án ai cả (x. Rm 2:16; 1Cr 4:5; 5:12-13). Bởi khi
sống theo lẽ tự nhiên thì cả lương dân nữa cũng
chu toàn lề luật, vì lẽ “điều gì Luật [của
Môsê] đòi hỏi, thì đã được ghi khắc trong lòng
họ” (Rm 2:14-15). Theo Phaolô, cả Luật Môsê lẫn
lương tâm con người đều bất lực trong việc cứu
độ, và chỉ đóng vai chỉ đường cho con người tự
do bước đi: có theo hay không là tùy quyết định
của mỗi cá nhân; còn việc cứu rỗi thì do một
mình Thiên Chúa thực hiện, và quả thực Thiên
Chúa muốn cho mọi người được cứu rỗi (x. 1Tm
2:4). Trong Sách Công vụ Tông đồ, chương 17, xem ra
Phaolô công nhận giá trị của tôn giáo thành
Athêna, bởi ngài khen họ “là người sùng đạo
hơn ai hết,” đặc biệt là vì họ kính cả thần vô
danh (x. Cv 17:22-23); nhưng không, Phaolô đã nổi giận
khi thấy những tượng thần ấy, và, không như dân
thành Athêna hiểu, tên gọi “thần vô danh” mang
một ý nghĩa khác hẳn đối với Phaolô. Ngài coi
một số các nghi thức – dù không rõ hẳn là
ngoại đạo, như việc ‘sùng kính các thiên thần’
– là ít ra, vô bổ và nguy hiểm đối với đức
tin kitô (x. Cl 2:16-18). Còn các Giáo phụ thì có thái độ hoặc tiêu cực
hoặc nước đôi đối
với các tôn giáo của lương dân. Thời ấy,
chưa ai nghĩ ra hoặc nghĩ tới việc “đối
thoại.” Lý luận theo lối triết, các ngài đã
nhận ra được “hạt giống Lời Chúa” (Giustinô)
hoặc một dạng “giao ước Hy lạp” (Clêmentê
Alêxănđria) ở trong thế giới lương dân. Thánh
Giustinô đã đánh giá rất cao nền triết lý Hy lạp
(nhất là trường phái Platô), nhưng cùng lúc đã
thẳng tay bài trừ các tôn giáo
và các thần thoại, coi đa thần là sản phẩm
của ma quỷ. Các Giáo phụ từ chối hẳn hết mọi
dạng đối thoại với “ác thần,” dù vẫn giữ
lòng kính trọng đối với những cá nhân bên
lương. Vaticanô II dạy rõ rằng bất cứ người nào
cũng có thể được cứu rỗi trong đời sống cụ
thể của mình. Công đồng coi trọng thái độ tôn
giáo của các cá nhân. Mọi người đều có thể
có một thứ lòng tin đo bởi Lời Chúa tiềm tàng
ở trong vũ trụ: “Mọi tín hữu,
dù thuộc tôn giáo nào đi nữa,
thì cũng đã từng không ngừng nhận ra tiếng
của Thiên Chúa và dấu biểu hiện của Ngài qua
tiếng nói của tạo vật” (MV 36c), cũng như qua tiếng
nói lương tâm (x. MV 16). Chính vì thế, Giáo hội minh
nhiên và mạnh mẽ bênh vực quyền tự do tôn giáo
của con người (x. TD 3). Giá trị của các tôn giáo cốt tại
ở những yếu tố cấu thành, tức là chân lý và
ân sủng, những yếu tố nói lên việc Thiên Chúa
hiện đang hoạt động trong chúng (x. TG 9). Và vì
Thiên Chúa không cứu rỗi con người một cách
riêng rẽ, nhưng là một cách tập thể, xã hội,
nên “những sáng kiến tôn giáo” có mọc lên
thì cũng là nhờ ơn Chúa (x. TG 3). Cụ thể hơn,
đạo đức học là kim chỉ nam cho đời sống của
các tôn giáo, là phản ảnh ánh sáng của Thiên
Chúa: Giáo hội nhìn nhận chân lý ấy (x. NK 2).
Một trường hợp đặc biệt là các truyền thống tu
hành: chúng đã được do chính tay của Thiên Chúa,
“gieo” vào giữa lòng của nhiều tôn giáo (x.
TG 18). Thực vậy, tín hữu của các tôn giáo
lớn và lương dân nói chung, đều có những liên
hệ khác nhau với Dân Chúa (x. GH 16); các liên hệ
này bao gồm cả chính tôn giáo của họ. Từ đó, thần học tự hỏi: phải
hiểu như thế nào về vai trò cứu độ của các
tôn giáo? Và đó là vai trò đóng giữ trong tình
trạng thông
thường của đại đa số giữa loài người mà Thiên Chúa hằng muốn cứu rỗi. Những ơn
Thiên Chúa soi sáng kết tinh ở nơi tôn giáo, lời Người mời gọi cũng thường vọng lên ở đó,
và con người có ứng đáp thì cũng thường
là qua hành vi tôn giáo. Mặt khác, thực trạng là
con người hẳn có tội, “thế gian” lối kéo về
đàng xấu, ma quỷ cám dỗ và đánh lừa các cá
nhân cũng như các tổ chức, v.v. Vì thế, cần phải
sáng suốt phân tích và nhận định. Thần học nhận
ra Thần Khí hiện diện và hoạt động ở mọi nơi
và mọi khía cạnh trong đời sống cá nhân và tập
thể xã hôi, nhất là trong hành vi tôn giáo.
[15]
Một số tôn giáo có sách thánh; các
sách ấy có chứa đựng mạc khải của Thiên Chúa
hay không? Có được linh ứng hay không? Chắc hẳn
ảnh hưởng và tác động của Thần Khí không thể
nào giống như trong trường hợp của Kinh Thánh Kitô
giáo. Có lẽ phải nhờ khái niệm “loại suy”
mới có thể tìm thấy ánh sáng cho vấn đề này.
Là khí cụ tôn giáo, tất loại văn chương ấy có
tiềm hàm dưới một dạng thức nào đó, bóng
dáng của Thần Khí;
nhưng
vẫn
không thể nào so sánh được với tính cách
đặc thù duy nhất của mạc khải Do thái-Kitô giáo.
Khi suy tư về mầu nhiệm Thiên Chúa, thần học phải
tiến hành hết sức cẩn trọng, vì sự việc không
phải minh bạch rành rành như trắng với đen, như có
với không, song là hơn kém thế này hay thế kia.
Các tôn giáo với những nghi thức và sách thánh
của họ, là những khí cụ cứu độ, nhưng theo một
cách thức tiến hành, với một mức độ tác
động và ở một bình diện hiệu lực khác hẳn
với Kitô giáo. *** Trong hoàn cảnh như thế, sứ mệnh
truyền giáo phải được tiến hành theo phương thức
nào? – Trước
hết, phải tạ ơn Chúa vì đã gieo lời Người trong
khắp thế gian, dù hạt giống có sinh hoa kết quả
khác nhau: hạt thì được gấp trăm, có hạt lại
không được gì hết, Ðức Giêsu đã cho thấy qua
dụ ngôn gieo giống (x. Mt 13:1tt). Thấy thửa ruộng
tôn giáo nào được sinh nhiều hoa trái, thì người
thừa sai phải vui mừng. Thế thì, giữ lập trường
thần học lạc quan về phần rỗi lương dân, người
kitô sẽ không quá lo âu về số phận đời đời
của đại đa số trong nhân loại, mà vẫn ý thức
đầy đủ bổn phận truyền giáo của mình, vì những
lý do kể trên. Văn kiện Ðối
thoại và Loan báo Tin Mừng viết rằng: đối với
các tôn giáo, Giáo hội đóng vai trò làm tiên tri,
nghĩa là đặt vấn đề cho các tôn giáo bằng cách
làm chứng cho Phúc âm, đồng thời sẵn sàng đón nhận mọi thách đố từ phía các tôn giáo.
[16]
Quả vậy, thông điệp Sứ
Mệnh Ðấng Cứu Ðộ (1990) đã minh nhiên trả
lời về những vấn nạn các tôn giáo đặt ra.
Chấp nhận giá trị, mà đồng thời cũng nêu bật
những thiếu sót của các tôn giáo, thông điệp
khẳng định – một lần nữa – về tầm bách thiết
cao độ hơn bao giờ hết, của công tác truyền giáo;
vì, dù Thánh Thần có hoạt động nơi mọi nền văn
hoá và mọi tôn giáo, thì tác động tiềm tàng ấy
cũng không thể thay thế cho Ðức Kitô được; hơn
nữa, “bất cứ những gì Thần Khí thực hiện trong
lịch sử các dân tộc, cũng như trong các nền văn
hoá và các tôn giáo, đều là để dọn
đường cho Phúc âm, và không thể không quy
chiếu về với Ðức Kitô, là Ngôi Lời nhập thể
do tác động của Thần Khí, ngõ hầu Ðức Kitô, là
con người hoàn hảo, cứu rỗi tất cả và thu họp
tất cả về dưới sự lãnh đạo của mình,
là Ðầu” (số
29). Nhưng Ðức Kitô lại chỉ thực hiện
được nhiệm vụ ấy qua việc truyền giáo của Hội
thánh. Cuối cùng, vấn đề cơ bản ở đây là vấn
đề sự thật: Thiên Chúa là sự thật, Ðức Kitô
là sự thật, và Thiên Chúa “muốn cho mọi người
biết sự thật” (2Tm 3:7), không phải một sự thật
của kiến thức khoa học, triết lý hoăïc lịch sử,
song là “chân lý của Phúc âm” (Gl 2:5.14), “lời
chân lý” (Eph 1:13), “sự thật ở nơi Ðức Kitô”
(Ep 4:21). Vậy không thể nào buông xuôi đầu hàng
trước chủ thuyết tương đối. III. Phát triỂn kinh tẾ và viỆc TruyỀn giáo Trước cảnh nghèo khổ hiện thấy trong
nhân loại, tất kitô hữu phải phản ứng như chính
Ðức Giêsu đã dạy: hãy cho kẻ đói ăn! Có làm
thế, mới mong được đón nhận để nói tới
những nhu cầu khác. Vốn quảng đại, có lòng
thương người và chính trực công bằng, các thừa
sai không thể không phản ứng mạnh mẽ khi tận mắt
chứng kiến dân chúng bị bóc lọt và áp bức một
cách lộ liễu hết sức, tình trạng cách biệt quá
lớn giữa một số ít người giàu và đại đa số
người bần cùng trong xã hội. Trong các thập kỷ 60
và 70, chủ nghĩa phát triển đã dấy lên thịnh
hành, nhất là tại Châu Mỹ Latinh, khiến nhiều
giới kitô giáo hăng say dấn thân vào việc cổ võ
công bằng xã hội, bởi coi đó là nhu cầu ưu tiên
tuyệt đối. Chủ nghĩa ấy cũng đã ảnh hưởng
trên các giới truyền giáo sâu rộng đến độ đưa
tới nhiều xung đột. Dồn cả tâm lực lo cho việc
phát triển, nhiều thừa sai “không còn thì giờ
để làm công tác truyền giáo.” Ði xa hơn, có
những người khác đã chủ trương tạm gác bỏ
việc “thiêng liêng” lại để dồn hết khả năng
lo cho việc giúp đỡ những người nghèo. Và cuối
cùng, còn có kẻ cho rằng làm việc truyền giáo là
góp phần làm cho cảnh bóc lột ra tệ hại thêm;
thế nên, tốt hơn là đừng nói chi đến chuyện
truyền giáo!
[17]
Ngay cả trong công đồng Vaticanô II,
vấn đề cũng đã gây ra bầu khí sôi động: khi
bàn luận về Lược đồ 13 – sau
này sẽ trở thành Hiến chế Vui
Mừng và Hy Vọng –
và Sắc lệnh về Truyền giáo, một số
nghị phụ (chẳng hạn như đức hồng y Frings đối
với văn bản trước, hoặc đức cha J. Gay đối
với văn bản sau)ï đã lên tiếng phàn nàn:
dường như công tác truyền giáo đã mất đi tầm
trọng yếu vì quá nhấn mạnh đến việc dấn thân cho
nỗ lực phát triển.
Những lập trường “khuynh tả” (dù là cực đoan)
đã được dư luận rầm rộ hoan hô, nhưng ít khi mang
lại được kết quả tích cực đáng kể. Cái khó
là làm sao giữ cho được thái độ quân bình
giữa hai đòi hỏi của Phúc âm là yêu mến Thiên
Chúa và yêu thương tha nhân (x. Mc 12:28tt): cả hai
đều thiết yếu, cả hai luôn đi đôi với nhau, và
cả hai cũng chỉ là một bổn phận duy nhất (x.
1Ga 4:20).
Thời ấy,
Giáo hội Châu Mỹ Latinh đã đưa ra khẩu hiệu:
“[phục vụ] người nghèo là việc cần phải chọn
trước hết” (preferential
option for the poor); vấn đề là đã có người “chỉ
đơn thuần chọn” người nghèo... và vì hồ hởi
tin vào chủ nghĩa mácxít (lúc mà đế quốc cộng sản còn đang đứng ở
thế rất mạnh),
họ đã bỏ quên đi sứ mệnh thiêng liêng của
mình. Giáo hội thừa biết mình được sai
đến với muôn dân, và công tác truyền giáo đang
tiến hành đặc biệt là giữa các tầng lớp dân
nghèo, mà công đồng gọi là “các quốc gia đang trên đường phát triển”
(x. MV 9b, 6f, TÐ 14c); tại những nơi đó, vô số kể
nhu cầu vật chất hiện rõ rành rành, cực độ
bách thiết. Noi sát gương Ðức Giêsu, vị thừa sai
phải biết thi ân giáng phúc (x. Cv 10:38), và thực
sự, lịch sử đã cho thấy rất nhiều gương anh dũng
(x. TG 12). Vì thế công đồng nhận định: “Trong lịch
sử loài người, dù xét về phương diện trần
thế, Phúc âm quả đã đóng vai làm men tự do và
tiến bộ” (TG 8). Về nguyên tắc, giáo lý đã rõ
ràng; tuy nhiên, trong thực tế, xung đột có thể
vẫn còn. Nhưng, tốt nhất là noi theo cách thức
nhận định và hành động của các tông đồ, để
khi không thể làm tất cả, thì phải chọn những gì
thiết yếu hơn, coi đó là ưu tiên số một: “Chúng
tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo
việc ăn uống, là điều không phải” (Cv 6:2).
[18]
Giáo hội nhận ra rõ rằng sự tiến
bộ của loài người không chỉ tùy thuộc ở số
lượng thu nhập, song còn tùy thuộc vào nhiều yếu
tố khác nữa (Liên Hiệp Quốc dựa theo 17 nhân tố
để tính mức độ phát triển của mỗi nước),
cách riêng là những yếu tố nhân bản: sự tiến
bộ cốt tại ở điểm con người trở nên tốt hơn,
chứ không phải ở việc có nhiều phương tiện vật
chất hơn. Ðiều kiện đầu tiên phải có để phát
triển là một vũ trụ quan mới, và đó chính là
điều Phúc âm đã mang lại. Quả thực, trong thế
giới có nhiều mô mẫu phát triển khác nhau; chính
vì thế thông điệp Sứ Mệnh Ðấng Cứu Ðộ đã nhận định về bổn
phận của công tác truyền giáo đối với nỗ lực
“phúc âm hoá” các trung tâm quyết định về mô
mẫu cho việc phát triển xã hôi, chẳng hạn như là
các thành thị thời nay (x. số 37). Ðà tiến bộ kinh
tế và kỹ thuật đã không giải đáp được các
vấn đề, đã không đáp ứng được các nhu cầu,
trái lại tệ hơn, đã gây thêm nhiều vấn đề nan
giải và nhu cầu bách thiết gấp bội (x. MV 4), bởi
đã quên bẵng đi rằng tiến bộ là để phục vụ
con người, chứ không trái lại (x. MV 26c, 35).
Ðiều mà trước tiên công tác
truyền giáo mang lại cho một dân tộc, là thái độ
mở rộng đón nhận sự thay đổi, đón nhận tiến
bộ, coi là điều tốt, mà đồng thời vẫn biết ý
thức rõ về tính chất nước đôi của nó. Phúc
âm soi sáng, giúp cởi bỏ những điều cấm kị
đối với thiên nhiên, lối quan niệm vũ trụ theo chu
kỳ, óc định mệnh, v.v... gây trở ngại cho đà
phát triển. Thêm vào đó, Kitô giáo đặt nền
tảng kiên vững cho một xã hội mới, qua một hệ
thống giáo
lý và
đạo đức
học
minh chính về thế giới,
về lao
động, về nhân quyền, về bình đẳng, chống lại
mọi hình thức phân biệt giai cấp, chủ nghĩa, tôn
giáo, v.v. Trước kia, các hoạt động “văn minh hoá”
được xếp vào loại công tác gọi là “tiền
phúc âm hoá” (pre-evangelization);
nhưng Vaticanô II đã chính thức coi đó là
những hoạt động thuộc tác vụ “phúc âm hoá”
(x. TG, chương 3), vì nằm trong nhiệm vụ của Giáo hội
đối với mọi dân tộc. Nhiệm vụ phát triển này
là đặc nhiệm của giáo dân: bởi đã thông phần
vào chức vụ vương giả của Ðức Kitô (x. MV 36),
nên giáo dân nhận được sức năng và bổn phận
ra sức hoạt động thế nào để ảnh hưởng mạnh
mẽ đến việc cải thiện các cơ cấu xã hội, kinh
tế, chính trị, văn hoá, v.v. làm sao cho công bằng
hơn. Quả thật, tự bản chất, những thành tích như
thế có giá trị lớn trong kế hoạch cứu độ của
Thiên Chúa (x. TÐ 7). Nhìn vào thực cảnh ngày nay, Sứ
Mệnh Ðấng Cứu Ðộ ghi nhận rằng: “Sứ mệnh
đến với lương dân (ad gentes) đang thể hiện đặc biệt là tại các vùng
phía nam địa cầu. Bởi tại các vùng này,
nhu cầu phát triển toàn vẹn và giải phóng cho
khỏi những chế độ áp bức thì bách thiết hơn.
Trong các dân tộc đã được phúc âm hoá, thì
Giáo hội không ngừng cổ xúy việc tiếp tục đẩy
mạnh hơn nữa đà tiến bộ. Ngoài ra, hơn trong
những thời trước, hiện nay, các thừa sai được
các chính phủ và các chuyên viên quốc tế coi là những
người hằng chăm lo khuyến khích mở mang” (số
58).
[19]
Cùng với nhãn quan ấy, đã xuất
hiện ý niệm “phúc âm hoá toàn diện” (integral
evangelization), là
công tác bao gồm nhân tố vật chất cũng như
thiêng liêng, văn hoá cũng như tôn giáo, cá nhân
cũng như xã hội, thế tục cũng như vĩnh cửu (x. RM
42), bởi các thừa sai cũng phải góp phần vào
việc xây dựng một thế giới mới trong hoà thuận,
công bình và tình thưong. Vì thế, Ðức Phaolô VI
đã quả quyết rằng tương lai của nhân loại tùy
thuộc vào sự phát triển toàn diện trong mối liên
đới trọn vẹn giữa tất cả.
[20]
Do đó, truyền giáo học phải ra sức
làm sao để biểu trình cho thật rõ mối quan hệ mật
thiết giữa việc rao giảng Tin Mừng và công tác
phát triển.
[21]
Evangelii
nuntiandi viết: “Có nhiều mối quan hệ sâu xa giữa
công tác rao giảng Tin Mừng và việc con người
tiến bộ, giữa việc phát triển và nỗ lực giải
phóng. Những mối liên hệ này có tính cách nhân
học, vì con người được phúc âm hoá không phải
là chuyện trừu tượng mà là một hữu thể thuộc
lãnh vực xã hội và kinh tế, và cũng mang tính
chất thần học, vì không thể tách biệt kế hoạch
sáng tạo ra khỏi kế hoạch cứu chuộc. Việc cứu
chuộc trải rộng để bao gồm cả việc cụ thể chống
lại tình trạng bất công và nỗ lực khôi phục
công bình. Chúng cũng đượm nhuần đặc thù tính
của Phúc âm, tức là gồm chứa những đòi hỏi
của tình thương: làm sao có thể loan báo điều răn
mới, nếu không chịu dấn thân vào việc cổ vũ
sự tiến bộ đích thực của con người, trong công
bằng và hòa bình?” (số 31). Hơn bao giờ hết, trong thế giới ngày nay, mối quan hệ giữa Phúc âm và công bằng xã hội mang một ý nghĩa và một tầm quan trọng đặc biệt. [22] Giữa nền văn minh mới hiện đang nhanh chóng biến thành phổ quát, những giá trị vật chất được nêu bật, đề cao, và tiêu chuẩn tiến bộ xem ra chỉ được rút ra từ những nhân tố kinh tế; kết quả là một tình trạng bất công toàn diện và toàn cầu.< |