|
PHÁT TRIỂN NHÂN BẢN VÀ PHÚC ÂM HÓA
Peter C. Phan
[1]
Chủ đích bài
viết này là tìm hiểu về mối quan hệ giữa
việc phát triển nhân bản và sứ mạng phúc âm
hóa của Giáo Hội hiểu theo thần học Châu Á
trong những thời gần đây. Có một cách để
tiến hành việc tìm hiểu này là điểm duyệt và
lượng định những biểu quyết và tuyên bố của
Liên Hiệp các Hội Ðồng Giám Mục Châu Á (FABC) cũng như của các
ủy ban và cơ quan trực thuộc.
[2]
Liên Hiệp các
Hội Ðồng Giám Mục Châu Á đã được thành
lập tiếp theo sau cuộc họp các giám mục Châu Á
tại Manila, Philippines, năm 1970.
[3]
Ảnh
hưởng Liên Hiệp có đối với các Giáo Hội
tại Châu Á, đã được đánh giá là tích
cực.
[4]
Chi đến nay, FABC đã họp khoáng đại
được sáu khóa, và sau mỗi khóa đều có đưa
ra những nghị quyết tổng kết.
[5]
Ngoài các kỳ họp
khoáng đại, FABC còn có những cơ quan trực
thuộc lo việc xuất bản nghị quyết của các kỳ
họp,
[6]
cũng như của các
cuộc hội thảo bất thường, các hội nghị và
các cuộc tham vấn.
[7]
Trong các năm từ
1974 cho đến 1986, Ủy ban đặc trách về Hoạt
động Xã hội (BISA) đã nhóm họp bảy lần, và
sau mỗi kỳ họp, đều có đưa ra những nghị
quyết. Dù bài viết
này chỉ tập trung chú ý vào sáu kỳ họp khoáng
đại của FABC và bảy kỳ họp của ủy ban BISA,
thì cũng xin được lưu ý về điểm trọng yếu
này: đối với các giám mục Châu Á, việc
tách hoạt động xã hội nhằm vào nỗ lực phát
triển nhân bản, ra khỏi hai hoạt động khác trong
các Giáo Hội Châu Á – tức công cuộc đối
thoại liên tôn và công tác hội nhập văn hóa
[8]
– là một sai lầm
trầm trọng về mặt thần học. Quả thế, các văn
kiện về công cuộc đối thoại liên tôn và
công tác hội nhập văn hóa thường đề cập
dài rộng đến vai trò của Giáo Hội trong nỗ
lực thăng tiến việc phát triển nhân bản. Vì
vậy, cần phải lưu tâm cho đủ đến cả hai lãnh
vực hoạt động ấy trong tác vụ của Giáo Hội. Ngoài ra, xét
vì các nghị quyết tập thể và chính thức
thường được hình thành từ việc dung hòa các
lập trường không hẳn đồng nhất để đạt
tới một quan điểm chung, bài viết sẽ xin dựa
trên tác phẩm của các thần học gia hiện đại,
đặc biệt là thần học gia Châu Á, để nêu rõ
một số điểm dị đồng đọc thấy trong các văn
kiện trưng dẫn. phát triỂn nhân bẢn và phúc âm
hóa Sự việc kỳ
họp khoáng đại đầu tiên của FABC, tổ chức
tại Ðài bắc, Ðài loan, năm 1976, đã chọn đề
tài “Công cuộc phúc âm hóa tại Châu Á
ngày nay” làm chủ đề, mang một tầm ý
nghĩa rất lớn. Ðiều đó khẳng định rằng “việc
rao giảng Ðức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Ngài
cho các dân tộc chúng ta tại Châu Á ngày nay
đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách, thiết
yếu và quy mô đến một mức độ chưa từng
thấy trong lịch sử đức tin kitô tại phần đất
này của thế giới.”
[9]
Tuy nhiên, theo
nhận định của FABC,
trong “thời đại mới
của truyền giáo,” công tác phúc âm hóa không
còn được hiểu như là đà “chuyển động một
chiều đi từ ‘các Giáo Hội cố cựu’ đến
với ‘các Giáo Hội non trẻ,’ từ các Giáo
Hội trong thế giới kitô giáo ngày trước đến
với các Giáo Hội trong các vùng đất thuộc
địa.”
[10]
Ðúng hơn: “mỗi
Giáo Hội địa phương [đều tự bản chất] là
và không thể không phải là truyền giáo. Mỗi
Giáo Hội địa phương đều được Ðức Kitô
và
Chúa Cha “gửi đi”
để mang Tin Mừng đến
cho môi trường chung quanh, cũng như vào trong toàn
bộ thế giới.
Ðó là nhiệm vụ
đầu
tiên
của
mỗi Giáo Hội địa
phương.”
[11]
Hơn nữa, công tác
phúc âm hóa không thể được quan niệm đơn
thuần như là một cuộc công bố Tin Mừng độc
hướng cho một nền văn hóa nào đó, một loại
độc thoại trong đó, chỉ một mình Giáo Hội nói,
còn dân chúng thì chỉ biết nghe. Khác vậy: theo
FABC, “đối thoại” phải là “cung cách chủ
yếu” theo đó công cuộc phúc âm hóa tiến
hành tại Châu Á ngày nay; hay nói cho rõ hơn,
cần phải tiến hành công tác phúc âm hóa bằng
đối thoại “qua một nỗ lực hội nhập văn hóa
cương quyết hơn, có sức sáng tạo phong phú hơn,
và cả óc nhận định chính thực cùng tinh thần
trách nhiệm
cao độ hơn; qua
một cuộc đối thoại liên
tôn tiến hành với tất cả thái độ nghiêm
chỉnh; qua tình liên đới và hành động chia sẻ
với người nghèo, cũng như qua hoạt động bênh
vực cho nhân quyền...”
[12]
Tiêu đích nhắm
tới qua thể cách đối thoại thứ ba – tức
đối thoại với người dân, đặc biệt là
người nghèo – là “việc phát triển nhân bản
toàn vẹn” hoặc “việc phát triển nhân
bản toàn diện.”
[13]
Nghị quyết của BISA
III (= trong kỳ họp III của Ủy ban BISA) nhận định
rằng: “Chúng ta cần phấn đấu để xây dựng
một xã hội mới trong đó, mọi người có
được cơ may đạt đến mức phát triển toàn
vẹn về mặt nhân bản. Hoạt động của chúng ta
phải nhằm tới việc phát triển con người toàn
diện và cho mọi người. Tính chất toàn diện ấy
của con người bao gồm không những mức thành
toàn sung mãn cá nhân, mà cả mức tăng
trưởng và triển nở của toàn bộ thực tại
trên mặt đất nữa.”
[14]
Và như thế,
rõ ràng là đối với FABC, việc phát triển
nhân bản (1) là một chiều kích chủ yếu
trong sứ mệnh phúc âm hóa của Giáo Hội, và
(2) cần phải nhắm tới con người toàn vẹn. Phát triỂn nhân bẢn: chiỀu kích
cẤu thành cỦa công tác phúc âm hóa
FABC nhấn mạnh
nhiều lần đến điểm này: việc phát triển và
đà tiến bộ nhân bản với hết mọi khía cạnh
của nó – chính trị, xã hội, kinh tế, kỹ thuật
và văn hóa – là một chiều kích nội tại, một
chiều kích cấu thành trong sứ mạng phúc âm hóa
của Giáo Hội. Các giám mục Châu Á cũng
thường nhắc đến văn kiện Công lý trong thế
giới (Justice in the World) của khóa họp Thượng
Hội Ðồng Giám Mục Thế
Giới, năm 1971, ghi rằng “là điều hiển nhiên
đối với chúng tôi: hoạt động cho công lý và
hợp tác vào nỗ lực biến đổi thế giới là
một chiều kích cấu thành trong công tác rao giảng
Tin Mừng, tức trong sứ mệnh của Giáo Hội đối
với công trình cứu độ nhân loại và giải
phóng con người khỏi mọi tình huống áp bức.”
[15]
Theo BISA V, “phát
triển nhân bản là khái niệm sâu đậm, diễn
đạt được một cách sắc bén cho thời đại
này, điều luật đơn giản mà cơ bản của Phúc
Âm, dạy chúng ta phải biết yêu thương nhau.”
[16]
Nếu quan hệ giữa công tác phúc âm hóa
và hoạt động nhằm phát triển nhân bản không
phải là chuyện ngẫu nhiên, mà trái lại, là
một quan hệ chủ yếu, thì – theo nhận định FABC
thường xuyên nêu lên – xét vì hiện trạng
nghèo đói của đông đảo quần chúng và tình
cảnh áp bức tràn làn trong khắp các miền xứ
Châu Á, mối kết liên ấy lại càng có tính
cách quyết định và bách thiết hơn đối với
các Giáo Hội Châu Á. Trong lần họp khoáng đại
lần đầu tiên, FABC đã tuyên bố: “Chúng tôi
xác tín rằng từ trong cảnh bần cùng dân nghèo
chúng ta đang sống, cũng như từ tiềm năng nhân
bản cừ khôi của họ, và từ niềm khát vọng
đang sôi động trong lòng họ, mong thấy được
một thế giới tràn đầy tình người và tình
huynh đệ, Ðức Kitô hiện đang cất tiếng kêu
gọi các Giáo Hội Châu Á.”
[17]
Rồi nhận định
tiếp: “Nếu hàng
triệu triệu người dân Châu Á hiện đang sống
trong cảnh nghèo đói, thế tất Giáo Hội tại
Châu Á phải là Giáo Hội của người nghèo.
Và như thế, thực thi công bằng là một yếu tố
của thánh thiện. Công tác phúc âm hóa và nỗ
lực phát triển là hai việc làm không đối
nghịch nhau. Tại Châu Á ngày nay, các hoạt động
ấy là phần bộ không thể thiếu của công tác
rao giảng Tin Mừng.”
[18]
Phát triỂn toàn vẸn, toàn diỆn Một ý tưởng
khác thường được FABC khai triển: việc phát
triển nhân bản Giáo Hội dốc lực cổ vũ, là
một nỗ lực phát triển toàn vẹn hoặc toàn
diện. Ðó là điều đã được mạnh mẽ nói
lên trong cuộc họp mặt lịch sử tại Manila, của
180 giám mục Châu Á hồi năm 1970, vào dịp Ðức
Phaolô VI viếng thăm Philippines. Sứ điệp của
các ngài – được FABC coi như một ‘tuyên ngôn’
thần học và dùng đến trong các kỳ họp khoáng
đại sau này – tuyên bố rằng: “Chúng tôi
nhất quyết dấn thân chăm lo cho việc phát
triển toàn vẹn của các dân tộc chúng ta.
Chúng tôi tin
rằng nhân tính con
người là
món quà, là công trình
của Thiên Chúa, và nỗ lực thăng tiến nhân
tính ấy là trách vụ, là bổn phận Thiên Chúa
trao phó cho tất cả chúng.”
[19]
Kỳ họp khoáng đại
lần VI đã miêu trình việc phát triển toàn diện
ấy theo cách hiểu về một “sự sống toàn tiến”
(“holistic life”): “Chúng tôi hiểu theo
nhãn quan của sự sống toàn tiến, sự
sống đã được hoàn thành và được giao phó
cho mỗi người cũng như cho mỗi cộng đồng loài
người, bất phân giới tính, tín ngưỡng hay văn
hóa, đẳng cấp xã hội hay màu da. Ðó là thành
quả của việc phát triển toàn diện, việc phát
triển đích thực của toàn bộ con người và
của mỗi người.”
[20]
Tính chất toàn
vẹn hoặc toàn diện của việc phát triển nhân
bản được
hiểu theo bốn nghĩa. Thứ nhất,
phát triển nhân bản
phải ôm trọn hết mọi chiều kích của con người
là một tổng thể gồm xác, hồn và trí. FABC đã
minh nhiên bác bỏ chủ trương thu hẹp, coi việc phát
triển nhân bản chỉ như là đà tiến bộ kinh tế
và kỹ thuật, không hơn không kém. Như sẽ thấy
trong phần sau bài viết, chính chủ trương thu hẹp
ấy, theo nhận định của FABC, đang gây đổ vỡ cho
các dân tộc Châu Á. Riêng đối với tiến
trình hiện đại hóa: dù công khai nhìn nhận
những lợi ích tiến trình này mang lại cho tương
lai Châu Á,
FABC cũng thấy rằng
tiến trình hiện đại hóa thường dẫn đến tình
trạng trục trặc về mặt văn hóa, xã hội. Các
giá trị và lề lối truyền
thống đều bị đặt lại
vấn đề.
Các biểu tượng cổ
truyền chẳng còn nói lên được ý nghĩa gì.
Những người thụ hưởng lợi ích của tiến
trình hiện đại hóa lại là những người, rất
thường khi, thâm nhiễm trào lưu tục hóa, chủ
nghĩa duy vật và tiêu thụ. Trong một số miền
xứ, đã xuất hiện một giới trung lưu mới,
sống theo một đà tiêu thụ, một trào lưu cạnh
tranh cao độ, và cách chung, tỏ ra chai đá, thờ
ơ trước cảnh đại đa số dân chúng sống nghèo
nàn và bị hất hủy ra bên lề xã hội.”
[21]
Thứ hai, phát
triển nhân bản có nghĩa là hết mọi khả năng
và phương thế, chứ không chỉ tài năng kỹ
thuật và vật chất mà thôi, phải được dồn
vào công tác. Cách riêng, FABC đã nêu bật
việc cầu nguyện, coi đó là phương cách hữu
hiệu giúp hoàn thành công tác “phát triển
nhân bản toàn diện”: “Cầu nguyện theo cung
cách thực hành kitô giáo là cần thiết cho nỗ
lực giải phóng con người và phát triển nhân
bản đích thực, cũng như để đưa con người
đạt được tới tầm cỡ sung mãn trong địa vị
làm con Thiên Chúa.”
[22]
Thứ ba,
để được toàn vẹn
và toàn diện trong nỗ lực đẩy mạnh công tác
phát triển nhân bản, những cố gắng của Giáo
Hội phải đồng hành sát cánh với hai yếu tố
cấu thành khác của sứ mệnh Giáo Hội, đó là
công tác hội nhập văn
hóa
và công cuộc đối
thoại liên tôn. Quả thế, một trong những nét
đặc thù và sâu sắc thấy được trong thần
học của FABC về việc phát triển nhân bản là
ở chỗ công tác phát triển này không phải chỉ
được quan niệm như là một hoạt động tiến
hành bên cạnh và song song với cuộc đối thoại
liên tôn và với nỗ lực hội nhập văn hóa,
nhưng là được bện chặt với hai công tác
này, bởi tại Châu Á, các hoạt động này có
thành tựu thì mới đạt đến được mức phát
triển sung mãn xứng với con người. FABC thường
xuyên nối kết ba tác vụ này lại với nhau: “Sau
đây là những nhân yếu tố chủ chốt trong
nhiệm vụ truyền rao Tin Mừng tại Châu Á ngày
nay: – Hội nhập
văn hóa là yếu tố giúp cho Giáo Hội địa
phương hiện diện thực sự ở giữa cuộc sống
dân chúng. – Ðối
thoại với
các tôn giáo lớn tại
Châu Á
nhằm tới việc giúp
họ làm quen với Phúc Âm, mong rằng Lời hằng
tiềm ẩn ở trong họ gặp được cơ may trổ sinh
hoa trái. – Phục vụ
người nghèo để cùng nắm tay với họ trong
cuộc đấu tranh
cho một thế giới có được tình người thắm
đượm hơn.”
[23]
Thứ tư, để
đạt được đến mức toàn vẹn và toàn diện,
thì cuộc phát triển nhân bản phải tiến xa ra
ngoài ranh giới gia đình nhân loại và trải rộng
cho tới chân trời vũ trụ. BISA VII đã nêu bật
lý chứng môi sinh trong cách FABC hiểu về tác
vụ phát triển nhân bản: “Cần phải cấp bách
gầy dựng một thể dạng linh đạo mới có sức
ngập tràn công cuộc phúc âm hóa và ôm trọn
kế hoạch của Thiên Chúa đối với toàn bộ
công trình tạo dựng. Ðơn thuần cá nhân không
thôi thì chưa đủ, việc cứu độ phải nhằm
tới toàn bộ con người, hết thảy mọi người
và cả vũ trụ nữa. Không được bo bo hướng
nội, linh đạo ấy phải đưa Giáo Hội tiến đến
chỗ mở rộng lòng ra phục vụ cho toàn thể nhân
loại.”
[24]
Tóm lại, đối
với FABC, tác vụ phát triển nhân bản không chỉ
đơn thuần là một đòi hỏi luân lý đạo
đức, nhưng còn là một yêu cầu bách thiết và
là một chiều kích cấu thành của sứ mệnh phúc
âm hóa đã được giao phó cho Giáo Hội. Hơn
nữa, tác vụ ấy phải nhằm tới mức thành
tựu trọn vẹn và toàn diện của con
người gồm xác, hồn và tâm trí, cũng như của
cộng đồng nhân loại và của toàn bộ vũ trụ.
Tác vụ ấy phải tận dụng tất cả những phương
tiện và năng lực sẵn có, cũng như phải
được tiến hành song song với các công tác
hội nhập văn hóa và đối thoại liên tôn. phương cách hoẠt đỘng xã hỘi
trong nỖ lỰc phát triỂn nhân bẢn FABC ý thức
sâu xa rằng dù việc phát triển nhân bản là
một phần cấu thành trong tác vụ rao truyền Phúc
Âm, thì Tin Mừng cũng không đưa ra những giải
đáp sẵn có cho các vấn đề xã hội, chính trị,
kinh tế và văn hóa gặp thấy tại Châu Á ngày
nay: “Nhu cầu thấy rõ là cần phải phân tích cho
đúng với cách thức phê bình và đường lối
kỹ thuật thích đáng, những vấn đề chúng ta
đang đối diện với. Không thể hành động theo
lối nhảy từ kinh nghiệm đức tin để đi tới
chỗ đưa ra những quyết định cụ thể cho hoạt
động xã hội mà trước đó không lo tìm hiểu
cho chính xác về mặt kỹ thuật, cũng như nhận
thức rõ ràng về các ý thức hệ đang ảnh
hưởng sâu rộng đến môi trường sống của
chúng ta.”
[25]
Ðể giúp
những người dấn thân trong các chương trình
phát triển nhân bản
đặt đúng kế hoạch cũng như sử dụng hữu
hiệu các phương thức hành động, BISA VII đã
đề xuất những đường nét chính yếu cho một
hệ phương pháp gọi là “chu kỳ mục vụ” gồm
bốn
giai đoạn. Giai đoạn
một (exposure-immersion): trình bày cho những
người hoạt động trong công tác phát triển
nhân bản về và đưa họ dìm sâu vào
trong trạng huống cụ thể của những người
nghèo mà họ làm việc với: “Trình bày có
thể được coi như là cuộc chẩn bệnh của bác
sĩ; còn dìm sâu thì giống như là cuộc thăm
viếng của một người bạn chí tình đến để trao
đổi tâm sự cùng kinh nghiệm thâm sâu
về đời sống. Trình
bày-dìm sâu... quả là dõi theo con đường
(nguyên tắc) cơ bản của Nhập Thể...”
[26]
Giai đoạn hai: phân
tích tình trạng xã hội. Những đối
tượng cần tìm hiểu bao gồm các hệ thống xã
hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo
trong môi trường xã hội, cũng như những dấu
chỉ thời đại, những biến cố lịch sử cùng
những nhu cầu và khát vọng của dân chúng. Quả
thế, Hội nghị quốc tế về Truyền giáo nêu rõ
rằng không
có một cuộc phân tích kỹ thuật như thế, thì
“thái độ ngây ngô
của số rất đông kitô hữu trước những
nguyên nhân – phát xuất từ cơ cấu – của
nghèo đói và bất công, thường đưa họ đến
chỗ chọn lấy những biện pháp không đủ sức
mang lại hiệu quả mong muốn cho hoạt động nhằm
thăng tiến công bằng và nhân quyền mà họ theo
đuổi.”
[27]
Trong
việc phân tích môi trường xã hội, FABC không nói rõ
phải theo một phương pháp nhất định nào. Tuy
nhiên, Liên Hiệp cũng cảnh cáo về nguy cơ có
thể “bị lừa gạt hoặc là bởi ý thức hệ
hoặc là bởi tư lợi” cũng như có thể rơi
vào tình trạng thiếu sót, tức không thu thập
và phân tích cho đầy đủ tất cả các nhân tố
cần thiết.
[28]
Ðiều đó dẫn
bước qua giai đoạn ba, là giai đoạn “đưa cuộc
phân tích xã hội hội nhập vào thực tại cuộc
sống tôn giáo và văn hóa, không phải chỉ để
nhận ra những khía cạnh tiêu cực, nô lệ hóa
không thôi, mà còn để phát hiện những chiều
kích hay đẹp, có tính cách ngôn sứ, đầy sức
năng gợi hứng cho một nền linh đạo chính
thực.”
[29]
Giai
đoạn này đòi hỏi phải có chiêm niệm
để nhận cho ra Thiên Chúa hiện diện sống động
giữa lòng xã hội, và lòng thương đặc đãi
Người dành cho những người nghèo hèn. Chiều
kích chiêm niệm ấy của tác vụ phát triển nhân
bản sẽ đưa những tác viên hoạt động cho công
cuộc phát triển xã hội đi vào trong một cuộc
đối thoại đượm nhuần thiện cảm và kính
trọng, với các tôn giáo lớn tại Châu Á,
cũng như với lòng đạo đức bình dân của các
người nghèo. Qua cuộc đối thoại song đôi này,
các giá trị chính thực của Tin Mừng – như là
“lối sống đơn giản, thái độ cởi mở chân
thực và quảng đại chia sẻ, ý thức về đời
sống cộng đồng và lòng trung tín trong đời
sống gia đình”
[30]
– sẽ được nhận
ra và sẽ được quý trọng cao độ. Giai đoạn bốn:
thiết định chương trình mục vuï, cố làm sao
để đưa ba giai đoạn
nói trên đạt được
tới mức hoàn thành,
bằng cách đề ra những
kế hoạch cụ thể và thực tiễn, những phương
sách và đường lối hành động thích đấng
nhằm phục vụ cho công tác phát triển nhân bản
toàn diện. Một khi đã được vun trồng và bén
rễ vào trong môi trường hoạt động, các kế
hoạch, phương sách và đường lối trên đây
còn phải được thường xuyên lượng định và
đánh giá theo tình trạng đổi mới của ba
giai đoạn đầu trong chu kỳ mục vụ.
[31]
phát triỂn nhân bẢn tẠi châu
á: thách đỐ và giẢi đáp Căn cứ theo chu
kỳ mục vụ ấy, FABC đã đề xuất những sáng
kiến nào cho việc phát triển nhân bản và cho
đà tiến bộ tại Châu Á hiện nay? Nói cách
khác, để đáp ứng đúng mức bốn giai đoạn
trong chu kỳ mục vụ, thì:
(1) FABC đã hiểu như
thế nào về “trình bày và dìm sâu” trong thế
giới Châu Á, một công tác được coi là
thành phần cấu tác trong sứ vụ phúc âm hóa?
(2) FABC đã nhận ra được những vấn đề và
những thách đố nào các dân tộc Châu Á và
Giáo Hội hiện đang phải đối phó với? (3) FABC
sẽ vận dụng những tiềm năng văn hóa và tôn
giáo nào để tìm ra cách giải đáp cho những
vấn đề và thách đố kia? (4) Và cuối cùng, FABC
sẽ đề
nghị những kế hoạch, phương sách và đường
lối hành động nào cho tác vụ của Giáo Hội?
Dĩ nhiên là, bởi tính chất phức tạp và bao
quát của chúng, không thể nào trả lời cho
hoàn toàn đầy đủ được, các câu hỏi kia.
Bài viết chỉ xin ghi lại đây những yếu tố quan
trọng nhất rút ra từ các văn kiện của FABC,
để trả lời cho các câu hỏi đặt ra trên
đây, với ý thức rõ về thứ tự thời gian
của các văn kiện, tức là về sự việc trọng
tâm các văn kiện đã di dịch tùy đòi hỏi của
những biến cố và vấn đề xảy ra theo thời
gian, suốt trong một phần tư thế kỷ kể từ khi
thành lập FABC. Giáo HỘi Châu Á vỚi LẬp
trưỜng ÐẶc đãi đỐi vỚi NgưỜi nghèo Khiêm hạ và
can đảm, các giám mục Châu Á đã quyết chọn
lập trường đặc đãi đối với người nghèo
làm hướng đi cơ bản cho Giáo Hội Châu Á. Ngay
từ trong cuộc họp lịch sử tại Manila hồi năm
1970, các vị đã tuyên bố: “Quyết định của
chúng tôi là tiên vàn, phải trở thành
một cách trung thực hơn, ‘Giáo Hội của người
nghèo.’ Muốn đứng về phía đại đa số người
dân [nghèo] trong lục địa chúng ta, thì qua lối
sống cụ thể của chúng ta, một cách nào đó, chúng
ta
phải chia sẻ cảnh nghèo của
họ.
Giáo Hội không thể
dựng lên những hòn đảo phú quý, sung túc ngay
giữa một đại dương túng quẫn, khốn cùng;
đời sống của cá nhân chúng ta phải làm
chứng cho tinh thần thanh đạm của Phúc Âm, và
không một người nào dù có thấp kém, nghèo
hèn đến mấy cũng không cảm thấy khó để mà
đến với chúng ta, để mà nhận thấy chúng ta thực là
những người anh em của
họ.”
[32]
Là “Giáo Hội của
người nghèo,” Giáo Hội Châu Á đã trở
thành cantus firmus (khúc ca hùng tráng) của
tất cả các văn kiện do FABC và các cơ quan
trực thuộc đề ra. Theo FABC, việc quyết chọn
đứng về phía người nghèo không những là
điều do chính Ðức Giêsu và sứ điệp của
Ngài chỉ thị, mà còn là một đòi hỏi thúc
bách của cảnh huống Châu Á, trong đó, những
đám quần chúng không kể xiết đang quằn quại
dưới ách nghiền nát của cảnh cùng khổ. Thế mà, như
Ðại hội quốc tế Truyền giáo nhóm họp năm 1979
đã thẳng thắn bày tỏ, ngay
giữa cảnh cùng khổ
và áp bức giết mất nhân phẩm ấy, vẫn còn
có một sự cách biệt giữa những lời Giáo
Hội Châu Á tuyên giảng và cuộc sống làm
chứng của Giáo Hội Châu Á: “Giáo Hội tại
Châu Á không được lớp lớp quần chúng
người nghèo coi là đã tận lực quan tâm đến
quyền lợi chính đáng và nhân phẩm của họ,
là đã dấn thân một cách vô vị lợi nhằm
giải phóng họ, bằng một cuộc giải phóng toàn
diện, khỏi cảnh bất công và áp bức giữa xã
hội.”
[33]
Trước tình
cảnh đau thương vẫn tiếp diễn, không đổi thay,
trong kỳ họp khoáng đại lần cuối cùng vào năm
1995, FABC đã cảm thấy cần phải lên tiếng đẩy
mạnh hơn nữa: “Như Ðức Giêsu, chúng ta phải
‘đóng trại’ ở ngay giữa nỗ lực của toàn
thể nhân loại, nỗ lực xây dựng một thế
giới tốt đẹp hơn, nhưng đặc biệt là ở ngay
giữa những người đau khổ và nghèo nàn,
những người bị loại ra bên lề xã hội và bị
chà đạp của Châu Á. Trong thâm tình ‘liên
đới với nhân loại khổ đau’ và được dẫn
bước theo Thần Khí sự sống, chúng tôi thấy
cần phải dìm mình vào trong các nền văn hóa
của nghèo khổ và bần cùng tại Châu Á, bởi
từ đáy sâu của chúng vang lên thảm thiết
nhất, thúc bách nhất, tiếng của những khát
vọng mong cho có được tình yêu thương và sự
sống. Phục vụ sự sống đòi hỏi phải biết
sống thông hiệp với tất cả những ai, nữ
cũng như nam, đang tìm kiếm và đấu tranh cho sự
sống, theo mẫu gương tình liên đới của Ðức
Giêsu với nhân loại.”
[34]
BỘ mẶt đỔi thay và thách đỐ
cỦa Châu Á FABC ý thức
rõ rằng Châu Á là một lục địa hết sức bát
ngát với không biết bao nhiêu là sắc thái
đặc thù, nơi sinh sống của hai phần ba dân số
thế giới, và vì thế, không thể nào phác họa
được một bối cảnh chung về tình trạng xã
hội, chính trị, kinh tế, văn hóa và tôn giáo
của toàn Châu Á. Tuy nhiên, nếu muốn ước
lượng tầm cỡ của công tác phát triển nhân
bản tại các nước Châu Á, thì điều thiết
yếu phải làm là dựa theo phương pháp phân tích
xã hội Liên Hiệp đã áp dụng, để tìm xem
thái độ của FABC là như thế nào trước những
thách độ mà Châu Á và Giáo Hội hiện đang
phải đối diện với. Khuôn khổ bài viết không
cho phép bàn dài hơn, nên chỉ xin ghi lại đây
các thách đố đã được FABC và các tổ chức
trực thuộc lược kê qua các văn kiện. Năm 1983, BISA IV
cố thử tìm xem đã có “những trở ngại và
thách đố cũ, mới nào việc phát triển nhân
bản tại Châu Á gặp phải trong thập niên 80”
hay không, và đã nhận định như sau: “Có những
thách đố mới đã từng làm cho những thách
đố sẵn có đối với việc phát triển nhân
bản thêm trầm trọng, đó là tình trạng quân
sự hóa ngày càng gia tăng trong lục địa, đà
nhiệt tâm bừng lớn dậy nơi các tôn giáo cổ
truyền như Hồi giáo, Phật giáo và Ấn độ
giáo, cũng như sự việc Châu Á ngày càng lệ
thuộc vào các nền kinh tế tầm cỡ toàn cầu...
nền thương mại và các điều kiện giúp đỡ
bất công, công nghiệp phục vụ xuất khẩu và
kỹ thuật đại cường tư bản, công ty kinh doanh
đa quốc gia, kinh doanh nông nghiệp và tổ chức du
lịch siêu quốc gia... Các trung tâm toàn cầu của
thế lực kinh tế đang lèo lái những phương
tiện truyền thông đại chúng trong các nước
Châu Á để tạo nhu cầu đối với những xa xỉ
phẩm hầu nâng cao sản xuất nhằm trục lợi. Ðó
là những gì dẫn tới lối sống tiêu thụ độc
hại bởi ngấm ngầm mà tinh vi, đục khoét những
giá trị tôn giáo sâu sắc của các nền văn
hóa Châu Á, và xói mòn nền móng luân lý
đạo đức của các dân tộc Châu Á”
[35]
Ba năm sau, tức
là năm 1986, kỳ họp khoáng đại lần IV của FABC
đã lược kê những vấn đề ảnh hưởng đến
giới công nhân như sau: “... Hơn nữa, chúng
tôi nhận rằng những ước mơ, những nỗ lực
nhằm tiến tới cuộc giải phóng toàn diện, hiện
đang tan biến mất đi do những trở lực phức
tạp, hỗ tương tăng cường cho nhau và thường
vượt hẳn ra ngoài tầm lượng định của giới
công nhân; những trở lực đó là: ưu thế
thống trị của các công ty kinh doanh siêu quốc gia
cũng như các công ty địa phương khổng lồ ở
trong các ngành công nghiệp cổ truyền và sự
việc các ngành công nghiệp này đang lấn chiếm
các lãnh vực kinh doanh nông nghiệp, tìm cách
trục lợi qua việc trả đồng lương rẻ mạt hoặc
chiếm
hữu đất đai của những
tiểu điền chủ; việc cấm chỉ các cuộc
đình công và các công đoàn, với hậu quả là
tình trạng đàn áp những phản kháng chính
đáng; hiện tượng các nhà nông hay nông công
nhân rời bỏ nông thôn dời vào chui rúc nơi
các khu ổ chuột đã quá đông dân cư trong các
thành phố, biến các nơi này thành thị trường
bán buôn nhân công rẻ; tình trạng thiếu vắng
những tổ chức hoạt động trợ giúp cho đại
đa số các công nhân thị thành, cho các tiểu
điền chủ và cho dân quê không có ruộng đất;
những giờ làm việc bất tận, tình trạng bị
quấy rầy, việc làm bấp bênh và những bất
trắc không thể ngờ; tình trạng sức khỏe sa
sút, thất nghiệp và buộc phải chịu nhận đồng
lương thấp. Rõ ràng là những cấu trúc kinh
tế, nông nghiệp và chính trị đã biến công
nhân cả trong thành thị lẫn ngoài nông thôn
trở thành răng cưa của một bộ máy sản xuất
vô danh; công việc của họ trở thành một thứ
hàng hóa không nhất thiết là cần và hoàn
toàn lệ thuộc vào luật cung cầu bấp bênh.”
[36]
Ðặc biệt, kỳ
họp khoáng đại lần IV của FABC đã nêu bật
cảnh ngộ khốn khổ của nữ giới Châu Á: “Phương
tiện truyền thông quốc tế đã cho thấy rõ đến
mức độ nào các dịch vụ du lịch và giải trí
đã bóc lột, đã làm mất phẩm giá và cả
nhân tính của phụ nữ Châu Á... Vô số những
bất công tiếp tục chồng chất trên họ, do thái
độ kỳ thị các cộng đồng xã hội cổ truyền
có đối với họ, cũng như do những hoàn cảnh
kinh tế và công nghiệp trong cuộc sống ngày nay.
Món của hồi môn, hôn nhân ép buộc, tình trạng
đánh vợ, phá nữ thai nhi đè nặng trên họ,
xô đẩy nhiều phụ nữ đến chỗ tuyệt vọng,
tự kết liễu cuộc đời. Công nghiệp hiện đại
bóc lột sức lao động của họ... Chống lại họ
còn có tình trạng phân biệt giới tính trong
cách thức thuê mướn người làm, và còn bị
hành hạ, lạm dụng trong các công việc nội
trợ. Nói chung, xã hội Châu Á coi phụ nữ là
người cấp dưới.”
[37]
Cuối cùng, hồi
năm 1995, trong lần họp khoáng đại kỳ VI, FABC
cũng đã lược kê những chướng ngại trầm
trọng đang đe dọa công cuộc phát
triển nhân bản: “Chúng tôi đã được
báo nguy về sự việc các thế lực thị trường
hiện thống trị nền kinh tế toàn cầu, đang gây hại như thế nào
đến nhu cầu thiết thực của các dân tộc.
Chúng tôi quan tâm đến tình cảnh bấp bênh và
mong manh của những người
di trú, di cư, của những sắc dân bị chuyển di
tới những vùng xa lạ; đến nỗi khổ đau quằn
quại của những công nhân bị bóc lột, đặc
biệt là của
các trẻ em lao động
trong các miền xứ của chúng ta... Chúng tôi
thấy rõ ngay trước mắt tình trạng ngày càng
trầm trọng của bạo động, khủng bố, xung đột,
và cảnh lực lượng
hạt nhân tự do lan tràn, được tăng cường
bởi cuộc chạy đua vũ trang cọng với thói háo
trục lợi...
Trong lãnh vực tôn
giáo, giữa bối cảnh đa dạng tín ngưỡng, chúng
tôi đã suy
nghĩ về hiện tượng
đang lan rộng của quan niệm cực đoan duy văn tự
và thái độ cuồng tín kỳ thị chủ trương loại
trừ những tín đồ thuộc các truyền thống tôn
giáo khác... Khi nghĩ về các hiện tượng tiêu
cực ấy, chúng tôi cũng không thể làm ngơ
trước những thiệt hại to lớn gây ra cho hệ
thống sinh thái của hành tinh chúng ta; đó là
một điều xúc phạm lớn đến công bằng và
quyền của các dân tộc.”
[38]
Dù không phải
là hoàn toàn đầy đủ, thì các danh sách lược
kê trên đây
về những thách đố
công tác phát triển nhân bản tại Châu Á gặp
phải, cũng xem như bất tận và vượt quá sức
người. Ðáng lưu ý là khi phân tích về những
thách đố kia, các giám mục Châu Á đã cố tìm
cho ra nguyên nhân cơ cấu của chúng: “Chúng
tôi, các giám mục và các chuyên viên, đã
nhận ra các nguyên nhân gây nên tình trạng khốn
khổ đau buồn ấy. Hẳn là vì chính sách thuộc
địa, chế độ phong kiến, và việc du nhập chủ
nghĩa tư bản cố hữu của Tây phương, mà cơ
cấu cổ truyền với những phương thuật kiến
tạo quân bình nội tại của xã hội Châu Á đã
bị đổ vỡ. Ngày nay, thường thì các nền kinh
tế trong những dân nước này được tổ chức
không phải là để thỏa mãn nhu cầu của người
dân trong nước, nhưng chủ yếu là để ứng
đáp những đòi hỏi của thị trường nước
ngoài, và ngay tại trong nước, thì cũng không
phải là để đem lại những nhu yếu cơ bản (như
thực phẩm, nhà cửa, giáo dục, công ăn việc
làm), nhưng là để cung phụng một thứ xã hội
tiêu thụ. Những kẻ trục lợi
hàng đầu trong hệ
thống này là những thị trường và người
đầu tư nước ngoài,
cũng như giới được ưu
đãi tại địa phương. Và dĩ nhiên, nạn nhân
vẫn là những người nghèo,
tức là đại đa số
người dân trong nước.”
[39]
Như đã trình
bày trên đây, các giám mục Châu Á tỏ ra rất
lưỡng lự khi bàn đến tính chất hiện đại và
tiến trình hiện đại hóa tại Châu Á. Cách
riêng, các vị cực lực phê bình hệ thống kinh
tế kết liền với việc hiện đại hóa, tức là
với chủ nghĩa tư bản hay với lối kinh doanh tự
do. Dù có nhận là hệ thống tư bản “đã
chứng tỏ cho thấy tài tổ chức để lao động
mang lại được hiệu suất cao, và tạo cho óc
sáng tạo kỹ thuật hiện đại có cơ hội rộng
đường phát triển,” cũng như “đã mang lại
tự do rất đáng kể cho các giới thầu khoán
và quản lý,” thì các giám mục cũng lưu ý
rằng “hệ thống tư bản cũng đã hạ thấp đi
phẩm giá của giới lao động, biến họ thành
một thứ mặt hàng không cần thiết.”
[40]
Mặt
khác, FABC cũng gay gắt phê bình hệ thống kinh tế
tập quyền-hoạch định hoặc xã hội chủ nghĩa.
Không quên sự kiện các nền kinh tế xã hội
chủ nghĩa “đã nêu bật cho thấy chính công
nhân là những người làm nên nền kinh tế,”
các giám mục cũng thẳng thắn nhận định rằng
“các nền kinh tế kiểu ấy đã gián cách việc
chỉ huy của các công
nhân và tình liên đới của họ bằng một thứ
nhà nước độc quyền chuyên chế. Kết quả:
giới công nhân lại phải chịu quyền thống trị
của một dạng thể chế xã hội khác, tức là
nhà nước.”
[41]
TiỀm lỰc văn hóa và tôn giáo Bất chấp vô
số những thách đố dồn dập phủ ngập công
cuộc phát triển nhân bản tại Châu Á, các
giám mục trong vùng vẫn không ngừng nêu cao một
tinh thần can đảm son sắt và một lòng hy vọng
không gì lay chuyển được. Dĩ nhiên, thái độ
lạc quan của các vị phát nguồn từ đức tin
kitô, nhưng đồng thời cũng nẩy sinh từ xác
tín về sự việc Châu Á có đủ năng lực để
trả lời cho các thách đố kia. BISA I đã có lý
để hãnh diện nói lên điều đó: “Một đại
đa số kinh hoàng các người dân trong vùng chúng
ta đều đang sống trong cảnh nghèo túng cùng
cực; nhưng cần phải xác định cho rõ, ở đây,
với ý niệm “nghèo” chúng tôi muốn nói lên
điều gì. Nếu xét về mặt truyền thống văn
hóa, về các giá trị nhân bản và những nhận
thức tôn giáo sâu sắc, thì người dân của
chúng ta không nghèo. Họ hết sức phong phú
trong lãnh vực các thực tại tâm linh ấy...
Vây, nếu Giáo Hội Ðông Nam Á quả thực là
Giáo Hội của người dân, thì cũng phải là
một Giáo Hội biết nhận ra được những gì làm
nên tiềm lực phong phú của các dân tộc chúng
ta, đó là: các truyền thống, các nền văn hóa,
các giá trị cố hữu của Châu Á chúng ta.”
[42]
Cụ thể mà
xét, Giáo Hội sẽ có thể sử dụng đến những
tiềm lực nào để phục vụ công tác phát
triển nhân bản? Một lần nữa, chỉ có thể đơn
thuần lược kê ra đây – bởi khó mà bình
luận cho đủ về – các tiềm lực ấy. Ðó là:
vô số những đám đông người nghèo, đối
tượng của công tác phúc âm hóa và hơn nữa,
chính là tác nhân chủ động
hàng đầu của Giáo Hội;
[43]
giới trẻ đông đảo,
chiếm 60% dân số Châu
Á, đầy lý tưởng và
nghị lực, đầy nhiệt huyết, quyết tâm và năng
động dấn thân;
[44]
các tôn giáo Châu
Á với
các sách thánh, các
nghi thức và các truyền thống
thiêng liêng cũng như tu trì, với những kỹ
thuật chiêm niệm và thái độ sẵn sàng xả
thân cho công cuộc xây dựng công bằng xã hội;
[45]
cả việc cầu nguyện;
[46]
và các nền triết
lý Châu Á với tính chất bổ sung siêu hình (âm
– dương) cùng với mối hài hòa toàn vũ (bao la
trong trời đất).
[47]
Các giám mục đã
thường xuyên lên tiếng cổ vũ việc
tận dụng các tiềm
lực phong phú ấy để đương
đầu với những thách đố công tác phát triển
nhân bản tại Châu Á ngay nay đang gặp phải. Phương sách
Ứng đáp và kẾ
hoẠch hành đỘng
trong công tác phát triỂn nhân
bẢn toàn vẸn Ðiều muốn bàn
đến ở đây chắc hẳn không phải là những
kế hoạch đặc thù Giáo Hội Châu Á đề ra để
cổ vũ tiến bộ trong các lãnh vực xã hội,
chính trị và kinh tế tại Châu Á. Quả thế, là
một cộng đoàn đức tin, Giáo Hội chỉ có tư
cách để dựa theo căn bản luân lý mà nói cho
biết một cách chắc chắn, những phương sách và
kế hoạch hành động cụ thể nào thì có thể
chấp nhận được, theo nghĩa là chúng có phù
hợp hay không với các giá trị của Phúc Âm;
chứ Giáo Hội không có sứ mạng hay năng quyền
xác định một cách tất yếu để
cho biết phương sách và cách thức hành động
nào sẽ dẫn tới một
mức thành công cao đẹp hơn trong công tác phát
triển nhân bản, tại một địa phương và ở một
thời điểm nhất định.
Cách chung, như đã
lưu ý trên đây, Giáo
Hội thường nhấn mạnh đến điểm này là bất
cứ một kế hoạch hành động cụ thể nào đề
ra cho công tác phát triển nhân bản cũng đều
phải nhằm
tới việc phát triển
và giải phóng trọn
vẹn toàn bộ mỗi con người và mọi người,
cũng như toàn thể cộng đồng nhân loại và cả
hoàn vũ nữa, rồi còn phải tận dụng hết mọi
tiềm lực sẵn có, chứ không phải chỉ một
chiều dùng đến các năng lực kỹ thuật và
vật chất mà thôi.
[48]
Ngay trong phạm vi
giới hạn ấy, cũng vẫn có thể kể ra một số
những khuyến nghị chủ chốt FABC đã đề xuất cho
công tác phát triển nhân bản. Trước tiên,
nhiều lần FABC nhấn mạnh nói rằng Giáo Hội của
(chứ không chỉ là tại) Châu Á phải là
“Giáo Hội của người
nghèo,” có
một lập trường đặc
đãi đối với người nghèo, một lập trường
hoàn toàn ý thức và thật sự thiết thực. Thứ hai, Liên
Hiệp cũng thường xuyên nhận định rằng hoạt
động nhằm tới việc phát triển xã hội, chính
trị và kinh tế, phải được tiến hành song song
với công tác đối thoại liên tôn và nỗ lực
hội nhập văn hóa. Không có hội nhập văn hóa,
thì hoạt động kia sẽ không gắn liền được
với gốc rễ thâm sâu nhất của dân tộc mà
hoạt động ấy muốn phục vụ và hợp tác;
không có đối thoại liên tôn, thì hoạt động
phát triển sẽ bị tước đoạt mất đi sức năng
biến đổi tiềm tàng ở trong các biểu tượng
và nghi thức tôn giáo. Thứ ba, liên quan với công tác đối thoại
liên tôn, và để hoạt động phát triển nhân
bản được thực sự hữu hiệu, FABC đề nghị
nên tiến hành hoạt động này với sự hợp
tác của tín đồ các tôn giáo khác. Ðó là
việc làm thực tế đòi hỏi, không những là
vì con số người kitô tại Châu Á quá nhỏ, và
vì phương tiện họ có để thực hiện công tác
cũng hết sức hạn hẹp, mà còn là vì nếu
không thay đổi lối nhận thức về tôn giáo và
những cơ cấu tổ chức tôn giáo, thì không sao
trừ tiệt cho tận gốc rễ được một số tệ
đoan xã hội, như: tình trạng kỳ thị dựa trên
hệ thống đẳng cấp xã hội, và không biết bao
nhiêu là hình thức bất công khác do các chủ
hướng cực đoan tôn giáo gây ra.
[49]
Thứ tư, bởi tình trạng chia rẽ giữa các kitô hữu là một gương xấu đang hiện rõ rành rành trước mắt người Châu Á, và là một chướng ngại trầm trọng đối với công tác phúc âm hóa, thế nên FABC đã gióng lên lời kêu mời như sau: “Trong mức độ tình trạng hiệp nhất đã có nhưng còn chưa toàn vẹn cho phép, tất cả các Giáo Hội Kitô nên cùng nhau đưa ra một nỗ lực chung để tiến hành công tác phúc âm hóa.” |