|
“Cho đẾn tẬn cùng trái đẤt” Công Tác Tân Phúc Âm Hóa và LỤc ÐỊa Châu Á
O. De Berranger
[1]
“Anh em sẽ nhận
được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống
trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy
tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho
đến tận cùng trái đất” (Cv 1:8). Ðược Ðức Kitô
phục sinh ủy thác cho các môn đồ trước khi Ngài về cùng
Chúa Cha, lệnh
truyền ấy xuất phát từ
một nơi chốn đặc loại, từ miền đất hứa ai cũng
biết đến trong nhiều thiên kỷ nay, của Do thái giáo.
Cứ từ Giêrusalem mà
nhìn, thì phải nói những vùng
“tận cùng trái đất” là ở đâu? Như đoạn trình
thuật Luca ghi lại trong sách Công vụ Tông đồ cho phép
hiểu, thì đó chính là bờ cõi, biên cương của đế
quốc Rôma mà Saun thành Tarse đã từng đặt chân tới
trong các hành trình tông đồ của ngài. Còn đối với
ngày nay, thì đâu là những vùng “tận cùng trái đất”?
Theo nhãn quan của Châu Âu, có thể cho rằng “tận cùng
trái đất là các đảo nằm trong Ấn độ dương, là Ðại
dương Châu và cả vùng đất mà người
Châu Âu chúng ta ngây
ngô gọi là vùng Cực Ðông
Á (Extrême-Orient), không mảy may nghĩ rằng các
dân tộc Châu Á cũng có thể coi các nước chúng ta là vùng
Cực Tây Âu (Extrême-Occident)... Dù sao thì Kitô
giáo cũng đã bén rễ sâu tại các vùng quanh Ðịa trung
hải trước khi từ từ tỏa lan ra các lục địa khác, và
chân trời của công tác phúc âm hóa hằng không ngừng
nới rộng thêm ra. “Những vùng ‘tận cùng trái đất,’
những nơi cần phải mang Tin Mừng đến, thì trải dài
ra mãi, và lời nhận định của Téctulianô theo đó,
Tin Mừng đã được loan báo
trong toàn trái đất, đến với mọi dân tộc, thì còn
khác xa rất nhiều với thực trạng các sự kiện cụ
thể trước mắt cho thấy.”
[2]
Ðiều mà bài viết nhằm tới là đưa ra một cách
tìm hiểu về ý niệm “tân phúc âm hóa” theo bối
cảnh văn hóa lục địa Châu Á. Một số câu hỏi được
đặt ra: Làm sao để các nền văn hóa, các kho tàng khôn
ngoan và những con đường tín ngưỡng của Châu Á, đang
bị ào ạt lay động giữa cuộc sống tiên tiến hiện
đại, nhận được tác động từ những gì độc đáo,
mới mẻ do Ðức Giêsu Kitô
đem lại? Ðâu là những khó khăn lớn nhất các người
đến từ những nơi khác để làm chứng cho Tin Mừng, không
thể nào không gặp phải tại vùng đất này? Và cuối cùng,
việc tìm hiểu như thế sẽ mở ra viễn ảnh hy vọng nào
cho công giáo tính?
I. –
TẠi châu á: công cuỘc phúc âm hóa Có cần phải tham
gia vào một cuộc tân phúc âm hóa Châu Á hay không? Là
lục địa lớn nhất trong toàn cầu, Châu Á cũng là
lục địa có số người còn xa lạ với đức tin kitô
đông nhất. Dù các thống kê của Giáo Hội Công giáo
cho thấy số người chịu phép Rửa và ơn gọi tu trì tăng
lên rất đáng kể hằng năm, thì tỷ lệ phần trăm
của người kitô cũng còn rất thấp giữa ba tỷ rưỡi
người dân sống trong vùng. Một vài nước lớn –
chẳng hạn như Nhật Bản, tức những nơi đã được Giáo
Hội dồn không biết bao công sức để truyền giáo từ
hơn 4 thế kỷ trước – thì cho đến nay vẫn còn như
chưa thấm nhuần được gì tinh thần Kitô giáo. Tại các
nước khác – tức ở những nơi Giáo Hội đã có mặt
ngay từ thời các Tông đồ, như Ấn độ chẳng hạn –
dù sức sống của các thiểu số kitô hữu quả đáng khâm
phục, thì đại đa số người dân đều thuộc các
truyền thống tôn giáo lớn khác; rồi chưa nói gì đến
các nước như Inđônêsia và Pakistan là những vùng mà đại
đa số người dân đều theo Hồi giáo. Còn tại Trung
quốc thì dù đã có những bước gặp gỡ đầu tiên
với Kitô giáo ngay từ thế kỷ 9, và dù con số tín
hữu kitô tiếp tục tăng triển, thể chế chính trị
vẫn còn là một trở
ngại lớn đối với quyền tự do tôn giáo, hệt như
tại Việt nam, Lào và Campuchia cũng như tại Bắc Hàn. Tóm
lại, nếu tại Châu Á, đức tin kitô sống mạnh trong
một số địa phương và điều đó không ai chối cãi
được – như tại Nam Hàn và nhất là Philippines – thì
cũng phải nhận rằng cách chung, phần đất Châu Á quả
đang ngong ngóng trông chờ được đón nhận Tin Mừng qua
một cuộc phúc âm hóa không phải là tái tân mà là
lần đầu; dĩ nhiên, nói thế không có
nghĩa là không thật sự và bách
thiết cần
đến nỗ lực canh tân trong
cuộc sống Tin Mừng tại những nơi Giáo Hội đã bén
rễ sâu, như Thượng hội đồng giám mục Châu Á, nhóm
họp gần đây, đã nêu bật. Ngày 20.01.1995, ngỏ
lời với các đại biểu của Liên hiệp các Hội đồng
Giám mục Châu Á [FABC], Ðức Gioan Phaolô II đã đặc
biệt nói lên điều này: “Chúng ta cùng nguyện cầu để,
cũng như Thánh giá đã được cắm sâu vào lòng đất Châu
Âu hồi thiên kỷ đầu, vào lòng đất Châu
Mỹ và Châu Phi trong thiên kỷ thứ hai, thì cũng thế,
giữa thiên kỷ thứ ba này, mong sẽ thu được một mùa
gặt đức tin to lớn tại lục địa thật là mênh mông
và sinh động này. Nếu
Giáo Hội tại Châu Á có bổn phận sống trọn thiên
mệnh của mình, thì công tác phúc âm hóa – được
tiến hành như là việc rao giảng tràn đầy hân hoan,
trong kiên trì và theo từng bước, về cuộc tử nạn
cứu độ và biến cố sống lại của Ðức Giêsu Kitô
– phải là ưu tiên tuyệt đối của quý vị.”
[3]
Ðiều đáng
lưu ý
là dù lúc
đó chỉ ngỏ lời với đại diện các giám
mục Châu Á, nhưng qua các vị, Ðức Giáo hoàng đã
muốn nói với tất cả các Giáo Hội địa phương mà các
giám mục có bổn phận trông coi.
Ðó là điều hoàn toàn phù
hợp với đường hướng giáo hội học của công đồng
Vaticanô II; quả vậy, công đồng đã minh nhiên công nhận
là các Giáo Hội địa phương có trách nhiệm hàng đầu
trong
sứ mạng công bố Tin Mừng.
Và đây là điểm đặc biệt quan trọng đối với vấn
đề bài viết đang bàn đến. Không phải nói thế để
chúng ta được rảnh tay đối với trách nhiệm kia, và
đi đến kết luận cho rằng vì công cuộc phúc âm hóa
Châu Á đã được trao phó vào tay các kitô hữu Châu Á,
nên nhiều lắm thì chúng ta cũng chỉ cầu nguyện cho
họ và như thế là đủ. Ý của Ðức Gioan Phaolô II
tuyệt đối không phải là như thế. Trong thông điệp
Sứ Mệnh Ðấng Cứu Ðộ,
ngài đã mạnh mẽ lên
tiếng nhắn nhủ “các
Giáo Hội kỳ cựu, đã từng dấn thân
trong công cuộc tân phúc âm hóa,” hãy trông chừng, đừng
để cho “đà nhiệt tâm mình đang có đối với thế
giới không-kitô giảm sút đi”; ngài còn nói tiếp: “Còn
có những miền xứ bao la bát ngát chưa từng được phúc
âm hóa: cả những dân tộc toàn thể, những lãnh
vực văn hóa có tầm hưởng
lớn trong rất nhiều đất nước,
vẫn chưa được nghe nói tới Tin Mừng, vẫn chưa thấy
có được một Giáo Hội địa phương.” Giữa các
“miền xứ” ấy, ngài đặc biệt nêu rõ “Châu Á,”
rồi nhấn mạnh: “Cách riêng tại lục địa Châu Á, mà
sứ mệnh ad gentes phải ưu tiên lưu tâm tới, kitô
hữu chỉ là một thiểu số rất nhỏ, cho dù đôi lúc
tại đấy, cũng chứng kiến được những cao trào trở
lại đầy ý nghĩa, cọng với những cách thức sống đức
tin kitô rất đáng ca ngợi”
[4]
II. – cũng vẪn là tân phúc âm hóa Dù sao thì cũng nên
nhìn lục địa Châu Á với một nhãn quan toàn bộ, tức
như là một vùng đất đã được hoặc chưa được
gặp gỡ với đức tin kitô, một vùng đất đặc tuyển
đối với công tác tân phúc âm hóa, miễn sao ý niệm
về công tác này được hiểu theo nội dung ý nghĩa vừa
phức tạp vừa độc đáo của nó, trong cả hai phương
diện: của phía những người rao truyền Tin Mừng cũng
như của phía những người đón nhận. Như vừa
đọc thấy trong bài ngỏ
lời trên đây của Ðức Giáo hoàng, đối với Kitô giáo
– đã nẩy sinh từ Tiểu Á, đã phát triển đến Châu
Âu, rồi Châu Phi và Châu Mỹ – Châu Á là những “vùng
văn hóa” mênh mông chưa được thấm nhuần đức tin
kitô. Từ nhiều thiên kỷ nay, các vùng văn hóa này đã
được vun tưới,
nuôi dưỡng
bởi những kho tàng khôn
ngoan,
những nền triết học,
những trào lưu tâm linh,
những tôn giáo lớn, và
tuyệt nhiên các
truyền thống này không có một quan hệ nào với các
nền văn hóa đã được thấm nhuần tinh thần Phúc âm.
Do vậy, đối với Giáo Hội, các vùng này được coi như
là một miền đất chưa được
biết đến, còn xa lạ (terra incognita),
một thế giới hầu như hoàn toàn mới mẻ dù
đã có những người tiên
phong mở đường đi tới, như thánh Phanxicô Xaviê, Mattêô
Ricci hay Rôbéctô de Nôbili, và dù đã có những miền
xứ được kể vào số các nước có nhiều thánh tử đạo
nhất, như Việt Nam hay Hàn Quốc. Ngược lại, đối với đại
đa số người Châu Á, nếu không phải là hoàn toàn không
được nghe nói đến, thì Ðức Kitô cũng chỉ là một
nhân vật kỳ lạ,
hay ít ra không mấy quen
thuộc.
Tôi còn nhớ chẳng hạn,
lời chia sẻ chân thành của một thanh nữ Ðại Hàn nói
với tôi hồi năm 1978, lúc tôi làm mục
vụ tại ngoại ô thành phố
Sêoul: “Thưa cha, khi cha nói về Ðức Giêsu, người ta có
cảm tưởng là cha đang đứng trước mặt một người
sống. Còn con, khi con đọc Phúc âm, con không cảm thấy
được như thế. Trái lại, dù chỉ một đoạn văn
ngắn trong sách nhà Phật cũng đủ làm cho con rung cảm
lên.” Cùng năm ấy, thanh
nữ nói trên đã lãnh nhận phép Rửa; ba năm sau, cô đã
trở thành nữ tu, và theo tôi biết, cô hạnh phúc. Kể
ra việc phụ nữ đi tu không phải là hiện tượng lạ
tại các nước chịu ảnh hưởng Phật giáo, như Thái
Lan, Hàn quốc hay Nhật Bản, vì lẽ từ xa xưa, không bao
giờ tăng ni vắng bóng trong bối cảnh văn hóa của các
nước này. Dù sao, vấn đề vẫn được đặt ra đối
với Ðức Kitô. Thế thì phải thử tìm xem tại sao. Lối 10 năm sau lần
trao đổi chớp nhoáng ghi lại trên đây, lúc còn làm cha
xứ tại một họ đạo, tôi đã có dịp tiếp hai linh
mục khách qua đường, người Châu Âu, thuộc một
“cộng đoàn [tu hội] mới” mà trước đó tôi không
bao giờ biết đến. Ðể tạo bầu khí thoải mái, tôi
đã dọn cho hai vị dùng món “spaghetti”
[bún Ý]... Vừa dùng miếng cuối cùng
xong là hai vị đã yêu cầu tôi để
cho hai vị ra tay tổ chức ngay tại xứ đạo, một
khóa
Canh tân với đầy đủ hết
mọi chi tiết thể thức. Tôi hỏi: “Còn về tiếng
thì hai cha sẽ tính như thế nào?” Các vị xem ra không
mấy hài lòng về câu hỏi của tôi, và
tỏ cho hiểu là tôi kiêu ngạo... Ðó không phải là
chuyện kỳ lạ mới gặp thấy, nhưng nhân đó, tôi tự
hỏi làm sao có thể phúc âm hóa hoặc tái phúc âm hóa
một cộng đoàn, một nhóm người khi tuyệt nhiên không
biết một mảy may gì về họ, ngay cả
tiếng họ nói cũng không. Riêng tôi,
tôi đã phải mãi miệt đến
trường học tiếng hết hai năm, rồi cọng thêm ba hoặc
bốn năm thực tập thì mới bắt đầu nói khá Hàn ngữ
và đoán ra được một số những lối nói nghịch biện (apories)
nan giải trong văn hóa phổ thông. Dù có muốn tỏ ra
niềm nở đối với dự án của hai vị, tôi cũng thấy
rằng “ơn ngôn ngữ” – như đọc thấy
trong
1Cr – không phải là để
cứu giải cho người không biết gì về cuộc sống con
người, ngay cả trong những điều căn bản sơ đẳng
nhất. Tiếng nói, văn hóa
và nỗ lực tìm kiếm tôn giáo đều mật thiết gắn bó
với nhau; đó là chưa nói tới lịch sử, nghệ thuật và
văn học của một dân nước. Hài lòng với việc dùng
người phiên dịch để truyền đạt tư tưởng là một
sai lầm lớn. Trước khi nói, cần để nhiều thời gian
để nghe. Có lẽ hơn tất cả các nơi khác, tại Châu Á, công
cuộc phúc âm hóa
cần phải được tiến hành
– để
nói theo ngôn từ của Ðức
Gioan Phaolô II – một cách “kiên trì và từng bước.” “Trồng Thập giá”
vào giữa một thế giới còn xa lạ là tiên vàn quyết
dấn thân đi vào nỗ lực tìm hiểu và sống kinh nghiệm
về thế giới ấy, ít là đến một mức nào đó. Rồi
còn cần phải biết học hỏi từ Giáo Hội địa phương,
và tuyệt đối tránh hết mọi hình thức phê bình, đánh
giá... cho đến khi được cộng đoàn bản xứ tín
nhiệm đủ để có thể thẳng thắn nói lên những gì
cần cho việc xây dựng lợi ích chung. III. – cái mỚi lẠ ÐỨc Giêsu Kitô
mang lẠi Suốt trong thời gian
hoạt động tông đồ tại Hàn quốc vào các năm từ
1976 cho đến 1993, tác vụ tôi được trao cho nhiều
nhất là làm việc với các giáo
xứ thuộc môi trường bình dân. Chính nhờ công tác
mục vụ này, và đặc biệt là việc hướng dẫn các
dự tòng,
mà tôi đã đi đến chỗ
nhận ra rằng nếu lối biểu trình Ðức Giêsu theo dạng
“hiền lành và khiêm tốn” xem ra đã gây được một
thứ thiện cảm thu hút giữa họ, thì thực ra, con người
của Ðức
Kitô vẫn còn
rất xa lạ, xa vời đối với thế giới thiêng liêng
của họ.
Ngay sau đó, tôi đã
hiểu rằng tôi cần phải suy niệm nhiều về các Phúc
âm trong ngôn ngữ của các người tôi phục vụ, và
phải chú tâm vào việc giúp họ tìm hiểu về Người
Con đã nhập thể, đã chịu đóng đinh vào thập giá và
đã sống lại, về sự việc Ngài là
“cửa” thật của mầu
nhiệm Ba Ngôi,
và là nguồn suối duy
nhất của ơn cứu độ cho hết mọi người. Tôi bắt đầu
với Phúc âm thánh Gioan, rồi sau đó bắt qua các Phúc âm
nhất lãm. Và như thế,
sau khi nới rộng vốn liếng
từ vựng bằng cách cùng với một nhóm lối 40 giáo
hữu, ngẫm đọc “Kinh Thánh trong 40 tuần” theo một phương
pháp hình thành tại Nhật Bản, tôi được trao cho tác
vụ dạy Kitô học tại Viện giáo lý ở Sêoul. Viện này
cống hiến cho các tu sĩ nam nữ và giáo dân, cả một chương
trình học hỏi
rộng rãi về Mầu nhiệm kitô
qua các khóa học ban ngày hoặc ban tối,
suốt tuần, kéo dài hai năm. Dần dần,
tôi đã có được niềm vui
chứng kiến các sinh viên của tôi bắt đầu ham tìm
biết về Ðấng Kitô mà Kinh Thánh, các giáo phụ và các
thánh thường xuyên nói đến. Kinh nghiệm thu lượm trong
thời gian học giáo lý dự tòng và khai tâm về bí tích,
chưa đủ để giúp họ đạt tới mức hình dung ra
được
‘cái mới lạ’ tuyệt đối
– hiểu theo ý nghĩa hàm chứa trong đặc từ của thánh
Irênê thành Lyon
và thường được đức hồng y
de Lubac nhắc tới trong các tác phẩm của ngài – Ðức
Kitô mang lại: “Tự nguyện đích thân đến là Ðức
Kitô đã mang lại tất thảy những gì là mới mẻ.”
[5]
Và, để yểm trợ ý
kiến một số giám mục Châu Á và Châu Phi đề ra trong các cuộc bàn
thảo của công đồng Vaticanô II về “ơn cứu độ
của lương dân,” cũng chính cha H. de Lubac đã lên
tiếng trưng dẫn một tư tưởng ‘táo bạo’ của thánh
Âugutinô nói rằng: “Từ thuở nguyên sơ loài người,
hết thảy những ai, bất cứ lúc nào và ở đâu, mà đã
tin vào Ngài và đã biết Ngài theo sức của mình, cũng
như đã sống đạo đức và chính trực theo những luật
điều của Ngài, thì, không chút nghi ngờ, đều nhận
được ơn cứu độ của Ngài.”
[6]
Cũng như thánh Âugutinô,
cha H. de Lubac đã hiểu: là điều quan trọng đối với
những người bước đầu gặp gỡ với đức tin kitô,
việc biết rõ rằng các tổ tiên mình cũng đã được
ân sủng của Ðức Kitô tác động. IV. – “chẲng đưỢc cỨu vỚt NhỮng
gì ngôi lỜi không đón nhẬn lẤy” Suốt 16 năm làm
việc tại Hàn quốc, với nhiều chuyến đi qua Nhật
Bản và nhất là Ấn Ðộ, tôi sống cuộc đời linh
mục của tôi giữa môi trường chủ yếu công giáo; nói
thế không có nghĩa là tôi không có những cuộc tiếp xúc
với các anh em Tin lành, đặc biệt là các cuộc gặp
gỡ qua trung gian của các tu huynh Taizé. Tuy nhiên, tôi
thấy rõ là vẫn phải đối xử với một dạng đức
tin thường là còn ở mức tân tòng. Các tín hữu công
giáo Hàn quốc cũng nhận ra điều đó; họ hiểu rằng
họ đã lớn lên trong bầu khí của đạo
Chaman,
rồi hàng bao thế kỷ nay, còn
chịu ảnh hưởng sâu đậm
của Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo hoặc Thần đạo.
“Mặc lấy Ðức Kitô” vào rồi, họ sẽ làm gì với
các bộ áo cũ của ngày trước? Khó mà nhận ra được
những gì họ còn giữ lại, và những gì họ đã cởi
bỏ, từ những ảnh hưởng kia. Dĩ nhiên,
tôi đã từng có nhiều dịp
viếng thăm các ngôi chùa Phật giáo. Có một lần, và đó
là lần độc nhất, tôi đã ở lại nhiều ngày tại
một ngôi chùa nằm ở phía nam bán đảo Ðại hàn, có
rất nhiều khách vãng lai. Như thế là nhờ tôi có một
nhà sư bạn tu ở ngôi chùa ấy, nhà sư tôi có dịp quen
tại Pháp, khi ông sống một thời gian thử nghiệm tại
đan viện Biển Ðức La Pierre-qui-Vire. Trực tiếp đối
thoại với các nhà sư trẻ thành thạo về thiền khoa,
lần đầu tiên tôi có cảm tưởng như chạm vào phải
một bức tường kiên cố hoặc những tượng phật
bằng đá cứng, đứng
sừng sững trong các lõm núi sâu, như đang ngang nhiên thách
thức dòng thế kỷ. Từ đó, tôi rút tỉa ra được xác tín
này là ngoài vốn liếng triết thần nắm vững, cuộc đối
thoại liên tôn – hiểu theo nghĩa hẹp – còn đòi
phải có một đời sống thiêng liêng đượm nhuần cầu
nguyện. Ðối với các nhà sư
nói trên, khó khăn lớn nhất không nằm ở nơi mầu
nhiệm Nhập Thể như tôi đã tưởng, nhưng là ở nơi
mầu nhiệm Tạo Dựng. Thế nên, tôi không lấy làm lạ
khi đọc các thư của cha Monchanin gửi cho cha Henri Le
Saux,
[7]
nói rằng cuộc Tạo
Dựng là điều trở ngại lớn nhất trong mọi dạng đối
thoại với Ấn giáo. Monchanin coi “sự tự do tuyệt đối
trong công trình tạo dựng” là “chính cốt lõi không
thể đánh vỡ của Mạc Khải.” Cảm nhận kia bắt
gặp cách biểu đạt quen thuộc sau đây của các giáo
phụ: “Chẳng được cứu với những gì Ngôi Lời không
đón nhận lấy.” Thế thì, mặc lấy xác phàm là Ngôi
Lời nhận lấy thân phận tạo vật của chúng ta ở trong
vũ trụ. Ðó là
những gì Téctullianô muốn
diễn tả qua câu nói gọn ghẽ này: “Caro est
salutis cardo” (xác phàm
giữ vai then chốt trong cuộc
cứu độ).
[8]
Vậy, trong “cốt lõi không
thể đánh vỡ của Mạc
Khải,” không thể tách rời Nhập Thể và Tạo Dựng ra
khỏi nhau, và cũng phải xác nhận như vậy đối với
mầu nhệm Phục Sinh và mầu nhiệm Thánh Thể, tức –
tắt một lời – đối với bí tích tính của toàn bộ
Mầu nhiệm kitô. V. – khó khăn hay rẠn nỨt Trên kia, tôi đã
nhắc đến những khó khăn nan giải người kitô thường
gặp trong tiến trình thích nghi văn hóa tại Châu Á. Nhưng
để cho thực tế hơn thì thử nhìn theo nhãn quan truyền
giáo, và lúc đó, phải chăng sẽ nhận rõ ra rằng
những khó khăn xem ra nan
giải gặp thấy trong lãnh
vực lý thuyết,
trừu tượng, chỉ là những
rạn nứt hằn sâu nơi bức tường hoặc trên các tượng
phật bằng đá nói ở trên kia? Ðó là cảm nghĩ của
một giám mục đã có
dịp lui tới viếng thăm
Nhật Bản nhiều lần trong
thời họp công đồng Vaticanô II, để giúp đỡ các tác
viên truyền giáo hoặc các linh mục người Pháp, thuộc
chương trình fidei donum. Tôi muốn nói đến
đức cha Alfred Ancel, cựu bề
trên của Hội Prađô và là giám mục phụ tá tổng giáo phận
Lyon. Năm 1960, vị này viết cho các linh mục của ngài:
“Tôi có thể nói thật với anh em rằng tôi gắn bó
nhiều với Nhật Bản, tôi mến Nhật Bản. Lẽ tất, làm
sao tôi có thể cho rằng tôi đã tìm hiểu được tâm
hồn và nền văn minh của Nhật Bản; tuy
nhiên, tôi nghĩ là tôi cũng đã ức đoán ra được một
vài đặc nét hay đẹp và phong phú của nước này.” Ðiều kiện cần
thiết, không thể bỏ qua, để đi đến gặp gỡ với
một dân tộc, là: “cảm nhận ra những gì hay đẹp
giữa dân nước ấy” và biết mến chuộng dân nước
ấy. Tuy nhiên, vẫn có một cám dỗ tinh vi lén nhập vào
trong các người Châu Âu làm việc tại Châu Á, đó là cám
dỗ hăm hở chạy theo sức hút của vẻ đẹp thấy được
nơi phía bên kia đến độ coi tất cả đều là trong lành,
hay tốt, vô hại! Ðức cha Ancel nhận định rằng: “Không
bao giờ tôi không ý thức về những khó khăn phần đông
các nhà truyền giáo gặp thấy và phải đối phó
với... Chẳng những người Nhật không mang mặc cảm
tự ti
đối với chúng ta, mà hoàn
toàn ngược lại... Người ta có cảm tưởng
là đối với họ, không nhiều thì ít, chúng ta chỉ là
những người mọi rợ!” Ngài nói tiếp: “Dù ý thức
hay không thì các nhà truyền giáo cũng chịu sức quyến
rũ của nền văn minh lương dân tại Nhật Bản; lúc đầu,
là va chạm, nhưng rồi sẽ quen dần đi, và cứ để cho
thấm nhập... Không nên quên điều này là các nền
văn minh hiện đại không mang
bản chất kitô, chưa được ‘trừ tà’ (exorcisées
– thanh lọc), cũng chưa được ‘rửa tội’
(baptisées – kitô hóa) bao giờ cả. Cần
phải hiện diện giữa chúng. Khó mà gây được
ảnh hưởng trên chúng; tuy nhiên, cần phải hiện diện
giữa chúng, hiện hiện mà vẫn không để bị chúng thâm
nhiễm; nếu không
thì sẽ trở thành muối đã
ra nhạt, không còn dùng để làm gì được nữa.” Cuối cùng, viết cho
một linh mục gốc Ba Lan, đã làm việc hơn 13 năm
nay và hiện đang tiếp tục công tác tại Nhật, đức
cha viết:
“Như cha biết, tôi gắn bó
với nước Nhật đến mức nào, cho dù, một mặt, nước này đang
chạy theo lối sản xuất duy vật, và đang gây
trận
chiến kinh
tế với toàn thế giới,
nhưng mặt khác – và đây
là lý do chính – bởi vì nước này đang trải
qua cảnh sống duy vật và cuộc chiến kinh tế như thể
ấy. Một cách nào đó, họ là những người nghèo,
những kẻ đang
sống trong vòng nô lệ. Họ đang cần đến đời
sống làm chứng cho Tin Mừng của cha. Ðừng quá lo nắm
cho được những thành quả; nhìn theo con mắt loài người,
thì phải nói là không thể làm gì được, ‘bất
trị’. Hơn ở các nơi khác, tại Nhật Bản, mọi sự
đều phải được xử lý trong quan hệ với
Thần – Ðấng duy nhất và
tự bản chất là Khôn ngoan, là Quyền năng, là Tình yêu
– và trong thái độ trọng kính đối với con người,
một con người
– hơn tại các nơi khác
– sẵn sàng đem địa vị cao quý và phẩm giá được làm
con Thiên Chúa để bán đứt cho những đòi hỏi của
nền kinh tế.” Và từ đó, đức cha Ancel đã đi đến
chỗ cố tìm cho ra ít là
“một số những kẽ rạn
nứt ở nơi bức
tường dày đặc của thái độ
ngoại giáo duy vật và vô thần kia, với thâm tín này là:
rồi một ngày nào đó, ánh sáng của Thiên Chúa cũng
sẽ bừng chiếu xuyên qua những kẽ rạn nứt ấy...”
[9]
Trong ánh sáng của chứng
từ sống động ấy, tôi xin được nêu ra đây một vài hiện tượng văn hóa
hoặc tôn giáo gặp thấy tại Châu Á, qua đó, có thể
tự hỏi: đó là những khó khăn nan giải hay chỉ là
những kẽ rạn nứt? I. ÐẠo Saman: tỪ uẤt hẬn đẾn
tha thỨ Cơ cấu tôn giáo xưa
nhất ở Hàn quốc mang hình thái tương tự như vật
hồn giáo (animisme) ở bên Châu Phi, dù vẫn có
một số nét cá biệt như đã được nhà nghiên cứu
Mircea Eliade nêu bật.
[10]
Theo người ta nói, cơ
cấu tôn giáo này bắt nguồn đã hơn bốn ngàn
năm nay, từ bên Sibêri. Tại Hàn quốc, đạo
Saman mặc lấy nhiều nét độc đáo bởi đã đóng
vai làm ngõ thoát cho dân quê nghèo khổ
và cho các tầng
lớp dân chúng đối
lập với chính quyền
trung ương. Ðạo này
cũng còn dùng đến các vũ điệu
giả trang, qua đó, được nói lên một cách mạnh mẽ, lòng
oán hận và thái
độ chán chường thất vọng
của những người – cho rằng mình đang – bị hạng
quyền thế khinh bỉ. Trào lưu thần học tiện dân (minjung)
của phía Tin lành đã rộng rãi khai thác và thu lượm
được nhiều hoa trái từ nguồn mạch ấy trong những năm
đấu tranh chống lại quyền chuyên chế của giới quân
sự, trước khi trở thành phong trào đấu
tranh – quả thật là cần
thiết – cho
việc tôn trọng vạn vật thiên
nhiên. Tại Hàn quốc, đạo Saman
là không gì khác ngoài một âm vang tập thể. Tôn giáo này
bắt nguồn từ những thể cách xử sự của các cá nhân
và các gia đình. Như gần đây một luận án tiến sĩ đã chứng minh cho thấy,
nỗi
hận (han) saman
mọc rễ từ niềm ước mong ý thức hay vô thức, và
tự bản chất có tính cách hai mặt, của hết mọi người
Ðại Hàn; nếu bị dồn nén thì mối hận có thể đưa
tới bạo động; còn các nghi thức tiến hành trong đạo Saman
thì được coi là có sức giải thoát cho khỏi mối hận
kia.
[11]
Khó khăn nan giải
hay chỉ là kẽ rạn nứt? Tôi khuynh về phía kẽ rạn
nứt; tuy nhiên, vấn đề cần tìm hiểu là phải làm
thế nào để đức tin kitô có thể đưa tình trạng
giải thoát kia đạt được đến thái độ tha thứ đối
với người khác, khi một cách nào đó, những người này
vẫn còn mang nặng nỗi lòng
oán
hận. Trong lần viếng thăm Hàn
quốc năm 1984, nhân
dịp Giáo Hội Ðại Hàn mừng kỷ niệm hai trăm năm xứ
sở đón nhận đức tin kitô, Ðức Thánh Cha đã đến dâng
Thánh Lễ tại sân vận động Kwangju, và ngài quả đã
trình bày cả một thiên giáo lý về tha thứ ngay tại thành
phố trước đó bốn năm, đã xảy ra một vụ đàn áp
đẫm máu. Ðể giải tỏa cho được mối hận
tập thể dấy lên từ vụ đàn áp ấy, thì đã phải
chờ cho đến lúc
một người hùng trong cuộc đấu tranh cho
quyền con người – xuất thân
từ tỉnh
Chollado (Kwangju là tỉnh lỵ)
và là
người công giáo – ông Kim
Dae Jung,
được bầu lên làm nguyên thủ
quốc gia; ông đã tuyệt nhiên
không giữ một thái độ hoặc có một hành động trả
thù nào đối với các đối thủ thù địch của mình! 2. KhỞi điỂm PhẬt giáo Trên đây,
tôi đã có dịp lưu ý đến
điểm này là trong Kitô giáo, mầu nhiệm Nhập thể và công
cuộc Tạo dựng thì bao giờ cũng gắn liền với nhau, không thể tách rời
khỏi nhau được. Còn đối đối với mầu
nhiệm Cứu độ thì sao? Thực ra, mầu nhiệm Nhập thể
chính là cuộc Nhập thể Cứu độ, cuộc nhập thể
của Người Con, sinh ra từ xác thể của Ðức Trinh Nữ
Maria “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng
ta.” Và đây là điều đáng lưu ý: đối với các nhà
sư trẻ – mà tôi đã gặp và họ đã có dịp hỏi tôi
về đức tin kitô – khó khăn thứ hai sau cuộc Tạo
dựng, không phải là mầu nhiệm Nhập thể, mà là nguyên
tội (tội tổ tông). Theo các vị, là tốt lành và
quyền năng, thì làm sao Thiên Chúa có thể để cho con cái
của mình phải giẫy giụa với một điều ác hại không
do lỗi lầm của chính họ gây ra? Dù đó là vấn nạn
thường gặp thấy trong lịch sử khoa biện giáo, thì nó
cũng mang một ý nghĩa đặc biệt đối với các tín đồ
Phật giáo. Ðối với xã hội Tây
phương chúng ta, vấn đề sự ác ấy cũng vẫn là vấn
đề gai góc. Một linh mục làm tuyên úy cho giới trẻ
sống ở các vùng ngoại ô nghèo trong giáo phận của tôi,
cho tôi biết rằng khi đọc kinh Lạy Cha, các bạn trẻ
dễ dàng cảm thấy thoải mái với câu cuối: “Xin cứu
chúng con cho khỏi sự dữ,” hơn là với
câu đầu:
“Chúng con nguyện
Danh Cha cả sáng.” Quả
thế,
Sự dữ (hay là Quỷ dữ) thì
nhiều hay ít, mọi người đều có kinh nghiệm trực
tiếp. Vậy thì đó chẳng phải là điều trước tiên
con người muốn được giải thoát cho khỏi, như vừa
thấy trên đây đối với nỗi han
saman? Như mọi
người đều biết rõ, khởi
điểm suy tư của Phật giáo không phải là sự
dữ khách quan, mà
là khổ đau. Rút
kết luận từ kinh nghiệm
có được qua
“bốn cuộc gặp gỡ”
(với: một người già, một người bệnh, một đám
tang, một người hành khất với phong thái bình thản,
thanh thoát), Ðức Phật đã đề xuất qua bài thuyết
giảng nổi tiếng tại Bênarét, “bốn chân lý cao quý.”
Chân lý thứ nhất: trong thế giới này, nếu “tất cả
đều là khổ đau” thì chính vì người ta sống trong
ảo ảnh của cái tôi. Chân lý thứ hai cho thấy rằng
nguồn cội của mọi khổ đau là lòng ham muốn hoặc là
nỗi “thèm khát” vô đáy của con người; nỗi thèm khát
này kéo theo cả một chuỗi đầu thai chuyển di (transmigrations
khác với réincarnations như bên trời Tây thường
nghĩ) bất tận, theo nguyên tắc
samsara trong Ấn giáo (hindouisme).
Chân lý thứ ba: nỗ
lực tận diệt cho sạch hết mọi thứ ham muốn, thèm khát,
sẽ dẫn
tới niết bàn (nirvâna).
Chân lý thứ tư chỉ
cho thấy
con đường tám lối cần
phải dấn bước vào nếu muốn sống một cuộc sống
kỷ luật, thanh thoát và khôn ngoan.
[12]
Cả ở đây nữa, cũng
cần phân định rõ: khó khăn nan giải hay quả là kẽ
rạn nứt? Phật giáo là một thế giới mênh mông; vì
thế, nên thận trọng trong cách nhận định, không thể
trả lời một cách đơn giản
ngây ngô được. “Con đường tám lối”
quả đã mở ra một hướng đi dẫn tới tình trạng
thanh khiết nội tâm và lòng trắc ẩn đối với tha nhân,
tức đưa tới những gì làm cho liên tưởng đến Bài
giảng trên núi của Ðức Giêsu. Sáng suốt quan sát khổ
đau trong thế giới, thực tập sống từ bỏ, rồi, đến
một mức độ nào đó, còn sống cả kinh nghiệm giác
ngộ: đó quả là bao nhiêu điều đáng lưu tâm học
hỏi. Chẳng thế mà khi bàn đến các điểm nầy,
Guardini đã nhận định: “Những gì Ðức Phật muốn
hiểu về niết bàn (nirvâna), về
giác ngộ, về tình trạng phóng
thoát khỏi ảo ảnh và hữu thể, thì dĩ nhiên là chưa một người kitô
nào đã thấu hiểu hoặc đã phát biểu. Những ai muốn
thực hiện các điều ấy thì trước đó, cần phải
nhờ vào tình yêu của Ðức Kitô mà đạt cho tới được
mức tự do hoàn toàn, và đồng thời cần phải đem
trọn cả lòng tôn kính để thụ ân con người huyền
diệu sống trong thời thế kỷ 6 trước công nguyên.”
[13]
Tuy nhiên, cũng phải
nhận rằng xem ra chưa giải tỏa được những khó khăn
nan giải đang bao
trùm.
Nếu, xét cho cùng, lòng trắc
ẩn của nhà phật khác biệt rất nhiều với lòng bác
ái [kitô] thì chính
là vì nền tảng
của nó được đặt trên
nguyên tắc advaðta của Ấn
giáo, tức
nguyên tắc
phi-nhị nguyên
(non-dualité).
Nếu không có một sự khác
biệt về bản thể giữa atman và brahman,
tức giữa cái tôi và cái tuyệt đối, thì trong Phật giáo
cũng như trong Ấn giáo, không còn có thể nói tới ngôi
vị và tha tính. Cũng không có chỗ cho Thiên Chúa.
[14]
Một nhà thần học thế
giá như hồng y de Lubac đã phát biểu như thế này: “Chìm
sâu trong thế giới suy tư đơn độc, không nghe ra một
tiếng gọi nào, Ðức Phật đã không thể nào nhận ra mình
được mời gọi: như vậy, thế giới của
ngôi vị, tức thế giới của tiếng
gọi, đã không mảy may
hiện lên trước mắt ngài, từ thế giới các sự vật
cá thể, các thể tập hợp (agrégats)
cảm nhận được và nhất thời. Ngài sẽ làm gì nếu
– thử giả thiết xem – ngài đã có dịp gặp Ðức Giêsu?
Ngài sẽ trả lời như thế nào trước lời mời đơn sơ:
‘Hãy theo Ta’? Tất nhiên, đó là những câu hỏi không
tìm được câu trả lời. Nhiều lắm thì có thể nghĩ
rằng đối với ngài, đức tin là chuyện đặc biệt khó,
bởi vì nó đòi ngài phải từ bỏ không phải là những
ảo ảnh có chung với mọi người phàm, mà là những gì
ngài coi là tình trạng giải thoát trọn vẹn đạt được
một khi đã làm cho tiêu tán hết mọi ảo ảnh.”
[15]
Tắt
một lời, để có thể thành tâm nguyện cầu: “Xin
cứu chúng con cho
khỏi sự dữ,” thì phải
làm sao để có thể thưa lên lời này trong Thánh Linh:
“Lạy Cha, xin cho Danh Cha cả sáng!” Và lúc đó, con người
mới có thể đi từ ước muốn được giải thoát đến
‘đức cậy’ hay niềm hy vọng đối thần (l’espérance
théologale). 3. KhỔng giáo vỚi chỮ hiẾu
Ðể đi cho giáp vòng Châu Á, thì phải bàn sơ đến
trào lưu Khổng
giáo. Vượt xa ra ngoài số các
môn đồ trung thành theo sát di sản giáo huấn của đức
Khổng, và đi qua ngã các ngôn ngữ
cũng như văn hóa, trào lưu Khổng giáo hiện đang
ảnh hưởng tới gần
hai tỷ người sống trong các
vùng trải dài từ Trung quốc cho đến Việt Nam, qua Hàn
quốc và Nhật Bản. Theo nhận định của một học giả
[16]
thông thạo vấn đề nêu
lên trước đây, thì rất có thể là tuyệt nhiên bậc đại
sư phụ Trung quốc đã
không có được một viễn
ảnh nào về thế giới siêu việt. Ðiều ngài chú tâm
đến là đời sống dân sự giữa xã hội trần thế,
cụ thể là giữa xã hội Trung quốc hồi thế kỷ 6 trước
công nguyên. Mà theo đức Khổng, trật tự xã hội được
xây dựng trên nền móng của “đức”; và dù đức không phải
là nhân đức đối thần, thì cũng là nhân đức: hiểu
theo định nghĩa của chính tác giả sách Luận
Ngữ – “Hễ có đức nhân
thì không
làm cho người
khác điều
mình không muốn người khác
làm
cho mình”
[17]
–
đức
nhân không thể không làm
cho liên tưởng đến lời dạy của Phúc Âm. Theo cách
hiểu của Khổng giáo, thì người khác hoặc tha nhân ở
đây, là trước tiên cha mẹ, rồi đến thầy dạy và nhà
vua. Do vậy, nhân đức phụ túc là lễ, với
chức năng quy định việc giữ các nghi thức và lề thói
giữa xã hội cũng như đối với tổ tiên. Khó khăn hay rạn
nứt? Như trước đây tôi đã có dịp nói lên ý kiến của
về điểm này đối với trường
hợp của Hàn quốc, tôi cũng xin nhắc lại ở đây ý
kiến ấy bởi theo tôi, nó vẫn có thể nới rộng và áp
dụng cho toàn khu vực chịu ảnh hưởng sâu rộng của
đức Khổng: “Chúng ta còn phải ở trong thế chờ cho
đến ngày các nền triết học và thần học, khởi sinh
từ lục địa này, gia công suy tư nhằm đào sâu trở
lại ý niệm về chữ hiếu và việc tôn kính ông bà
tổ tiên trong hết mọi chiều kích của chúng: chiều kích
nhân chủng, luân lý, chính trị, thiêng liêng cũng như tín
lý. Tuy nhiên, suy tư triết và thần học chỉ có thể dấn bước
vào trong con đường ấy theo
nhịp thấm nhập tiệm tiến
và thường là chậm của sứ điệp tự do Phúc Âm mang
lại... Lúc lên 12, Ðức Giêsu đã vâng theo tiếng của
Cha hơn là những lời dặn dò của cha mẹ mình.
Ngài đi một mình, cha mẹ Ngài
không hay biết, như Phúc Âm Luca đã kể lại (Lc 2:41). Thánh
Giuse và Ðức Mẹ đã vất vả tìm Ngài ba ngày giữa đám
đông những người lên Giêrusalem dự lễ Vượt qua. Khi
đã tìm thấy Ngài, thì chuyện không ngờ, Ngài hỏi cha
mẹ mình: ‘Tại sao cha
mẹ lại tìm con?’ Hầu
như không làm sao chuyển đạt câu này cho
ổn qua tiếng Ðại Hàn ( và các thứ tiếng Châu Á) được,
bởi chữ hiếu đâm rễ hết sức sâu vào trong (các)
thứ tiếng
này. Việc suy niệm về đạo làm con của Ðức Giêsu và
thái độ tùng phục nhiệm mầu Ngài có đối với Thiên
Chúa Cha sẽ mở ra những chân trời bát ngát cho thế
giới Châu Á... Sự việc Ðức
Kitô đã ‘tự nguyện hy sinh
mạng sống mình theo mệnh lệnh của Cha’ như thánh
Gioan đã ghi lại (Ga 10:18), cho thấy rằng thái độ
thuận ý như thế chính là nguồn suối của tự do.”
[18]
niỀm hy vỌng cho công giáo tính Tóm lại, tôi xác tín
rằng hằng không ngừng ở trong thế chiến đấu (semper
in procinctu posita), Giáo Hội Công giáo có bổn phận
phải lao mình vào giữa một trận tuyến hai mặt: một
mặt là trận tuyến
của cuộc đấu tranh nhằm
bảo vệ các quyền của con người và của các dân
tộc, và mặt khác là trận tuyến của nỗ lực bảo toàn
cũng như thanh luyện các giá trị của hết mọi nền văn
hóa, đang phải đương đầu với làn sóng ồ ạt của
đà toàn cầu hóa vũ bão.
Dĩ nhiên, đó là điều cần cho
hết
mọi nơi
chứ không riêng gì Châu Á. Theo nguyên ngữ, công
giáo tính có nghĩa là “quan hệ với tất cả.” Ðiều
này cho
hiểu rằng hễ phúc âm
hóa được càng nhiều vùng
đất – có khi xa xôi mà trước đó hầu như chưa bao
giờ Giáo Hội biết đến – thì Giáo Hội càng “công
giáo” hơn. Các “vùng đất” ấy có thể là những
miền xứ cố cựu trong thế giới loài người, hoặc cũng
có thể là những dạng, những khu “văn hóa” mới hay
là những “giới bác học” của thời đại ngày nay. Ðức Gioan Phalô II
nhận định: “Qua công tác hội nhập văn hóa, Giáo
Hội đưa Phúc Âm ‘nhập thể’ vào trong các nền văn
hóa, và đồng thời, đưa các dân tộc với các dạng văn
hóa khác nhau của họ vào giữa
lòng cộng đoàn của mình... Nhờ cách thức tiến hành
hoạt động như thế tại các Giáo Hội địa phương, Giáo
Hội toàn
vũ sẽ trở nên phong phú hơn
với việc ứng dụng những dạng biểu đạt và những giá trị mới vào
trong các lãnh vực khác nhau của đời sống kitô, như
hoạt động phúc âm hóa, phụng tự, thần học, các công
tác từ thiện; Giáo Hội nhận
thức rõ hơn cùng biểu đạt chính xác hơn mầu
nhiệm của Ðức Kitô, và được
mạnh mẽ thúc đẩy để không ngừng canh tân chính mình.”
[19]
Nguyễn
Thế Minh trình dịch
[1]
Tác
giả là giám mục giáo phận Saint-Denis-en-France [F-9.3200 Saint-
Denis - 7 rue Catulienne]. Bài
viết bằng tiếng Pháp, tựa đề “Jusqu’aux extrémités
de la terre: Nouvelle Évangélisation et Continent Asiatique,” đăng
trong tạp chí Nouvelle
Revue Théologique, 123 (2001) 177-191.
[2]
Gioan Phaolô II, thông điệp Sứ Mệnh Ðấng Cứu Ðộ
(7 tháng 12 1990), § 40.
[3]
Gioan Phaolô II, “La
grande priorité de l’Église pour le siècle qui vient: l’évangélisation
de l’Asie,” bài nói chuyện với các đại biểu của
Liên hiệp các Hội đồng Giám mục Châu Á (FABC), trong Osservatore
Romano, ngày 21 tháng giêng,
1995.
[4]
Gioan Phaolô II, thông điệp Sứ Mệnh Ðấng Cứu Ðộ,
§§ 85 và 37.
[5]
Irênê
thành Lyon, “Omnem
novitatem attulit, semetipsum afferens,”
trong Adv.
Haer., cuốn IV, chương
34, Migne 1 (PG7, 1083).
[6]
Âugutinô, Epist.
102, chương 2 số 8 và 10 (PL 33, 373 và 374); xem De Trinitate,
I. 4, chương 20, số 27-28: “Trước khi được gửi đến
để trở thành một con người, thì Ðức Khôn (Sagesse)
đã được gửi đến để ở với con người , v.v.”
(PL 42, 907), trưng dẫn trong H. de Lubac, La
Révélation divine, Paris,
Cerf, 1983, tr. 76, số 26.
[7]
Monchanin, J., Lettres
au Père Le Saux, do F.
Jacquin xuất bản, Paris. Cerf, 1995.
[8]
Téctullianô, De
resurrectione carnis, chương
8, bản dịch tiếng Pháp La
Résurrection des morts, bộ
Les Pères dans la foi, 15, Paris, DDB, 1980.
[9]
Xin xem De Berranger, O., Alfred Ancel, un homme pour l’Évangile,
Paris, Centurion, 1988, tt. 269-275.
[10]
Eliade M., Le
chamanisme et les techniques archaðques de l’extase,
Paris, Pavot, 1968.
[11]
Xin xem Pak Thai Bom, L’identité chrétienne par rapport au
chamanisme, luận án trình
năm 1998 tại Ðại học Công giáo Lyon.
[12]
Giữa các tác phẩm
viết về Phật, tôi xin đặc biệt nêu bật phần
viết của Gira D. tựa đề “Le Buddha et la naissance du
bouddhisme,” trong Encyclopédie
des religions, 1, Paris,
Bavard, 1997, tt. 963-986; còn về cách người Trung quốc dài
thích về Phật giáo, xin xem Larre, Cl., Les
Chinois, Paris. Auzou, 1982,
tt. 200tt.
[13]
Guardini R., Le
Seigneur, bản dịch
tiếng Pháp, Mulhouse, Alsatia, 1954, H. Waldenfels trưng qua bài
viết “Les conditions spirituelles de la rencontre,” trong Communio
XIII, 4 (1988) 36.
[14]
Về
vấn đề này, xin xem Monchanin J., Lettres
(trưng dẫn trên đây), tt. 173-175.
[15]
De Lubac H., La
rencontre du bouddhisme et de l’Occident,
Paris, Aubier, 1952, tt. 283-284.
[16]
Etiemble R., Confucius,
Paris, 1986.
[17]
Les
entretiens de Confucius avec ses disciples,
do A. Lévy xuất bản, Garnier Flammarion, 1994, XII, 2.
[18]
De Berranger O., L’Évangile de Séoul à Saint-Denis,
Paris, L’Atelier, 1999, tr. 36.
[19]
Gioan Phaolô II, Sứ
Mệnh Ðấng Cứu Ðộ, số 1, § 52.
|