|
Lịch sử
là ông thầy sống động: cần phải nhìn vào quá
khứ để hiểu rõ hiện tại hơn cũng như để
chuẩn bị chính xác hơn cho tương lai.
[1]
Có lẽ nên
nhắc lại một điều dễ quên là Ðức Giêsu,
Ðức Maria, thánh Giuse đều là “giáo dân”
trong Do thái giáo là tôn giáo của các ngài.
Từ đầu cho đến ngày nay và mãi cho đến tận
thế, giáo dân là thành phần chiếm đại đa số
trong Giáo Hội. Sau ngày Hiện xuống, nhóm môn
đồ của Ðức Giêsu đã ý thức mình là Dân
mới của Thiên Chúa (x. Rm 9:25-26; 1Pr 2:9-10, v.v.),
“theo một đạo” đặc thù (x. Cv 9:2; 19:9.23; 22:4
v.v.);
[2]
vì thế, những
người theo “đạo” này làm thành một “dân.”
Trong công đồng đầu tiên, thánh Phêrô gọi
các kitô hữu – cả gốc Do thái lẫn gốc lương
dân – là một laós, “dân” của
Chúa (x.
Cv 15:14). Lạ thay,
mãi cho đến
Vaticanô II, giữa
thế kỷ 20, mới thấy khái niệm về “dân” như
vừa nói, xuất hiện trở lại trong một công
đồng chung! Thế hệ
kitô đầu tiên
thể hiện
đặc tính “dân
Chúa” trên
đây bằng
nhiều cách, đặc biệt là qua các sự việc ngồi
chung cùng một bàn
(Lễ Tạ Ơn), chia sẻ tài sản, yêu thương nhau “không
phân biệt Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do,
đàn ông hay đàn bà” (Gl 3:28). Thừa kế các
đặc ân của Ítraen, Giáo Hội ý thức mình là
“hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của
Thiên Chúa, để loan truyền
những kỳ công của Người”
(1Pr 2:9),
tức một dân có
một sứ mệnh làm chứng cho “dân ngoại” về
Ðấng Phục
sinh, như Ðức Giêsu đã truyền bảo (x. Cv 1:8),
hoặc như thánh Phêrô đã khuyên là hãy “sẵn
sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm
hy vọng của anh em” (1Pr 3:15). Chính nhờ giáo dân
đã triệt để thi hành nhiệm vụ làm chứng trong
những thế kỷ đầu, mà kitô giáo đã có thể
tỏa lan rộng ra trong khắp thế giới.
[3]
Trong Giáo
Hội thời ban đầu, các tín hữu sống đạo trong
những cộng đoàn nhỏ –
không có cơ cấu
hữu hình rõ ràng, một phần là để tránh các
vụ bắt bớ – rất gắn bó với nhau nhờ tình
tương thân tương trợ, mỗi người đảm trách
nhiệm vụ đối với cuộc sống đức tin và sinh
hoạt Giáo Hội, những nhiệm vụ khác nhau về cả
đối nội lẫn đối ngoại, đồng thời rất mềm
dẻo, dễ ứng đáp những nhu cầu bất ngờ, dễ
thích nghi với những hoàn cảnh
cụ thể,
vừa để
sống đạo vừa để
truyền giáo.
Trong thời đầu, Dân
Chúa chưa biết đến việc chia thành hai “giai
cấp,” giáo sĩ và giáo dân, với những lãnh
vực hoạt động rõ ràng và khác nhau.
Hẳn là trong mỗi
cộng đoàn đều đã có những thủ lãnh (Dân Thiên Chúa đâu
phải là một xã hội vô trật tự)
và
những thừa tác
vụ khác nhau; nhưng
đa số các phận vụ không cần đến “nghi thức
đặt tay” (tức bí tích truyền chức thánh). Trong
cộng đoàn, thường có nhiệm vụ từ thiện,
chẳng hạn như lo cho cô nhi quả phụ, thăm viếng
tù nhân, tiếp đón khách qua đường, v.v., do
các phó tế và giáo dân phụ trách. Trong sinh
hoạt phụng vụ cộng đoàn (thường tổ chức
tại nhà riêng
hoặc với nhóm
nhỏ:
chưa có nhà
thờ), thì có nhiều
tác vụ tùy đoàn sủng của các cá nhân; chủ
tọa là nhiệm vụ của giám mục hoặc niên
trưởng; còn các ‘tiên tri’ thì loan báo lời
Chúa; và
tùy khả năng của mình,
mọi thành viên
đều tích cực góp phần vào cuộc sống chung. Khi Giáo
Hội phát triển rộng lớn và số giáo hữu trong
các cộng đoàn tăng lên, thì phải cầm đến
những cơ cấu tổ chức có tính cách xã hội,
với những chức vụ được xác định rõ ràng
dựa theo khuôn mẫu cơ cấu của xã hội loài
người (đó là một hình thức “hội nhập văn
hóa” như đang được đẩy mạnh hiện nay). Các
thể thức hành chánh trở thành phức tạp hơn
và đòi hỏi phải có những “chuyên viên”
đã được huấn luyện trước; phụng
vụ triển
khai nhiều nghi
thức phong phú hơn với những nhiệm vụ
được định hình. Các “sách lễ”
xuất hiện nhằm đảm bảo cho phẩm chất được
cao. Các sách thì rất quý báu, được trình bày
công phu và thẩm mỹ, nhưng ít người biết đọc.
Vai trò của giáo dân trong những thế kỷ đầu không cho thấy có gì rõ ràng, vì thiếu tài liệu. Hơn nữa, thuật ngữ dùng để chỉ các thừa tác vụ chưa nhất định; vì thế những từ đọc thấy trong các tài liệu thường mang nhiều nghĩa không hoàn toàn giống nhau, không dễ để giải thích. Có thể nghĩ rằng lúc đầu, tình trạng còn lộn xộn, mò mẫm đi tìm cách thức tổ chức cộng đoàn, mỗi nơi một khác tùy nhu cầu địa phương; điển hình là trường hợp sau đây đối với Kinh Thánh: có nơi nhận Thư của Barnaba hoặc Pastor Hermae (thế kỷ 2) là “kinh thánh” nhưng lại không nhận sách Khải huyền và cả Phúc âm thứ tư! Dường như có khi vai trò chủ tọa Lễ Tạ Ơn cũng được trao cho một “tiên tri” (có được “đặt tay” hay không?), hoặc một vị “tử đạo” (một chứng nhân bị tra tấn nhưng hãy còn sống), và có lẽ cả cho một giáo dân ở những nơi không có linh mục (như các tín hữu đầu tiên ở Ðại hàn, nhưng vì họ chưa hiểu Lễ Misa là gì), cho đến khi các chức vụ được xác định rõ ràng. Giáo dân cộng tác đắc lực vào các việc truyền giáo, đào tạo các dự tòng và tân tòng, các công tác từ thiện và việc hành chính. Một trong những giáo dân nổi tiếng bậc nhất thời ấy là thánh Giuxtinô tử đạo († 163), người đã viết sách biện giáo, hoặc Minutius Felix (quyển Octavius n. 200), hay Clêmentê Alêxandria († 215), người sáng lập trường giáo lý (ngày nay chúng ta sẽ gọi là trường thần học) và là thầy dạy của Ôrigênê († 253), v.v. Bị liên tục bách hại trong ba thế kỷ đầu, Giáo Hội đã phải hoạt động kín đáo, âm thầm, không mấy để tâm đến cơ cấu tổ chức, và hết thảy mọi thành viên đều ý thức về trách nhiệm đối với sự sống còn và hoạt động của cộng đoàn.
giáo dân – giáo sĩ Hiện nay,
các sử gia có khuynh hướng trình tả Giáo Hội
sơ khai như là một “xã hội dân chủ” trong
đó mọi người đều ngang nhau. Ðó là một thứ
hình ảnh vừa lãng mạn lại vừa ảo tưởng.
Lúc các tông đồ còn sống thì chính các ngài
chủ tọa và hướng dẫn cộng đoàn. Các ngài
đã bổ nhiệm các lãnh tụ cộng đoàn ở khắp
nơi, và sau các ngài đã có những người kế
vị.
[4]
Ðầu thế kỷ 2,
các Giáo Hội địa phương đều có giám mục
đứng đầu cùng với đoàn niên trưởng và
phó tế. Cách đề cử và thay thế có lẽ khác
nhau, nhưng cơ cấu ấy đã trở thành phổ quát
ở khắp nơi trong thế giới vào thế kỷ 3, tức
trước khi chính lục Kinh Thánh được mọi nơi
chấp nhận. Thời ấy
cũng là lúc bắt đầu xuất hiện sự phân biệt
giữa hai thuật ngữ Hylạp: laikós
và kléros, tạm dịch là “giáo dân” và
“giáo sĩ.” Laikós
(tiếng Latinh: laicus,
tiếng Anh: lay, tiếng Pháp: laique…)
có gốc là laós
tức “dân.” Kinh Thánh đề cập nhiều đến laós
theoũ (dân Thiên Chúa) mà ngay từ đầu Kitô
giáo đã hiểu theo ý nghĩa chỉ về Giáo Hội:
nếu Giáo Hội là dân Thiên Chúa thì hết thảy
thành viên là “giáo dân.” Còn từ laikós
thì có ý nghĩa tương tự như “bình dân” và
chỉ về “dân chúng” mà đại đa số là mù
chữ. Thư của Clêmentê số 40 (lối năm 96) dùng
từ này để phân biệt các thượng tế, các tư
tế Lêvi với giới “laikós”
trong Do thái giáo. Sau này từ laikós
thường mang ý nghĩa chỉ về những người mù
chữ bất tài, như thấy được ở trong các tác
phẩm của Ôrigênê
[5]
hoặc Clêmentê
Alêxanđria.
[6]
Còn từ kléros
(clergy, clergé)
thì dù vốn có nghĩa là “phần được chọn”
(Cv 1:17), phần “bắt thăm” được (Mt
27:35; Mc 15:24; Cv 1:26),
“phần gia nghiệp”
(Cv 26:18; Cl 1:12; 1Pr 5:12), cũng vẫn có thể áp
dụng cho tất cả các kitô hữu hoặc cho những
ai được chọn để giữ một phận sự đặc
biệt như Mátthia. Dần dần các giáo hữu được
chọn vào một phận sự đặc thù thì được
gọi là “kléros,”
và khi việc chọn hoặc bổ nhiệm này diễn ra qua
một nghi thức, thì cộng đoàn hát lên Thánh
vịnh 15, câu 5: “Chúa là phần gia nghiệp (kleronomías)
của con...” (x. Tv 72:26). Từ đó ý niệm này
đã trở thành trọng tâm trong linh đạo giáo sĩ.
Tiếng Latinh dùng từ laicus tương tự như trong tiếng Hylạp. Thế mà trong
bản dịch Kinh Thánh Vulgata,
thánh Hiêrônimô dùng từ panis
laicus, “bánh thường” để phân biệt với
bánh thánh dành riêng cho các tư tế trong đền
thờ (x. 1Sm 21:5). Dù
sao, cách dùng từ
không phải là điều hệ trọng; ý nghĩa của sự việc
mới thực
sự là điều quan
trọng.
Một khi đã phát
triển, tất Hội thánh phải cần đến tổ chức,
cơ cấu; và một cách “tự nhiên,” nhờ Thánh
Thần, từ hạt giống tông đồ đã mọc lên các
thừa tác vụ là giám mục, niên trưởng, phó
tế, v.v. Tổng thể giáo hữu phân làm hai hạng:
những ai giữ phận sự chung và những ai giữ
phận sự đặc thù, tức giáo dân và giáo sĩ.
Hồi thế kỷ 4, xuất hiện một loại thành phần
khác là đan sĩ: họ tự coi mình như thuộc hàng
giáo dân. Thời Trung cổ, hàng đan sĩ Tây phương
đã bắt đầu sống đời sống phụng vụ cộng
đoàn một cách nổi bật; do vậy, cộng đoàn cần
có một số linh mục; sự kiện này
đã khiến dư luận
xếp họ vào hàng giáo sĩ. Vì thế, bộ sắc luật
của Gratianus (chừng n. 1140) định nghĩa: “Kitô
giáo có hai loại thành phần...” tức giáo dân
và giáo sĩ, dù thật sự đại đa số các tu sĩ
không phải là linh mục. Như vậy,
từ thời Trung cổ trở đi, giáo dân được coi
như là hàng ứng đối hoặc với giáo sĩ,
hoặc với tu sĩ, hay
với cả hai. Ðáng lưu ý là Gratianus quan niệm
giáo dân như là hạng thụ động, như là loại
kitô hữu “yếu nhược” phải nhượng bộ cho
họ được phép sử dụng tiền của, nhục dục,
các thực tại phàm tục... Quan niệm này đã
trở thành mạnh hơn sau cuộc cải cách hồi các
thế kỷ 11 và 12, bởi cho rằng kitô hữu “đích
thực” là người trở về với lý tưởng
của Giáo Hội sơ khai (theo Cv 2:42; 4:32-35), được
thể hiện qua lối sống của các dòng tu; và như
thế Giáo Hội đã đi đến chỗ phân biệt hai
loại giáo hữu – đệ nhất và đệ nhị, tức
giáo sĩ và giáo dân – trong cùng một tổng thể
hiệp nhất chặt chẽ. Trong thời thế kỷ 14-15,
lối phân biệt này bắt đầu gây ra chia rẽ, đưa
dần tới chủ nghĩa quốc gia tục hóa và những
vụ ly khai Tin lành. Phong trào Cải cách Tin lành
phủ nhận sự phân biệt trên đây, và nhân danh
chức tư tế chung
để chối bỏ chức
tư tế riêng; vì thế công đồng Trentô và Giáo
Hội sau này đã nhấn mạnh đến vai trò của
phẩm trật và sự phân biệt giữa giáo dân và
giáo sĩ cho đến nay, một sự phân biệt nằm ở
trong mối hiệp thông của nhiệm thể Ðức Kitô. Hiện nay,
Giáo Hội thường nói về ba hàng ở trong cộng
đồng giáo hữu: giáo dân, giáo sĩ và tu sĩ;
điển hình là Vaticanô II: trong Hiến chế Tín lý
về Giáo Hội, chương 3 bàn về giáo sĩ, chương 4
bàn về giáo dân, còn tu sĩ thì
được bàn đến
ở trong chương 6. Như thế, giáo dân và giáo sĩ
khác nhau qua bí tích và chức vụ; còn giáo dân
và tu sĩ thì khác nhau qua bậc sống.
giáo dân tác đỘng trong hỘi thánh Ðã là đa
số trong dân Chúa, thì bao giờ giáo dân cũng
có ảnh hưởng lớn trên đời sống của Giáo
Hội. Rõ nhất là vai trò của các vua chúa công
giáo ngày trước. Những thế kỷ đầu, các
công đồng chung đều do hoàng đế triệu tập.
Thời Trung cổ, trước cuộc cải
cách Grêgôriô (thế kỷ 11-12),
các vua chúa Châu
Âu bổ nhiệm giáo sĩ vào các chức vụ của
Giáo Hội tại các
vùng thuộc lãnh địa của họ, và giữ vai trò
tích cực trong các công đồng. Hẳn là ngày nay
Giáo Hội không muốn trở lại với thói lệ
ấy; tuy nhiên, đó cũng là điều có thể giúp
cho các
chính trị gia công
giáo ý thức rõ hơn về khả năng họ nắm giữ
trong tay để hoạt động cho Nước Chúa ở giũa
thời đại này. Vĩ nhân thì
bao giờ cũng có ảnh hưởng trên xã hội, hoặc
là về mặt chính trị hoặc là về mặt tôn giáo.
Các nhà trí thức là thành
phần đáng kể nhất. Trong những
thế kỷ đầu Giáo Hội, đã có các nhà biện
giáo nổi tiếng như Aristiđes, Giuxtinô,
Athênagôras, Minucius Felix, Téctullianô... Thời
đế quốc Bydănxiô, chính hoàng đế Giuxtinianô (527-565)
đã viết sách thần học, cũng như nhiều giáo
dân khác. Boetius († 524) ở Ý đại lợi, một
triết gia và là chính khách, cũng đã viết
nhiều tác phẩm tầm cỡ và gây được ảnh
hưởng lớn.
[7]
Nghị sĩ
Cassiôđôrô († 580) giã từ cuộc sống trần
thế để đi sáng lập đan viện, nhưng vẫn tiếp
tục viết nhiều sách có tầm hưởng lớn. Ở
Âu châu, trong
thời Trung cổ, khi đa số giáo
dân đều mù chữ, bất lực, thì cũng đã có
những cá nhân xuất sắc, chẳng hạn như Ðantê
(1265-1321) là một thi sĩ đặc thù công giáo,
tiếng tăm quốc tế. Từ khi có
Ðại học (thế kỷ 12-13), đa số thành phần giáo
sư đều thuộc giới giáo dân, và là những
người thường xuyên hoạt động trong các lãnh
vực trực tiếp liên quan với đời sống Hội
Thánh. Suốt nhiều thế kỷ, ở Âu châu, “khoa
học” luôn luôn mang một
chiều kích “thần học.”
Khó mà kể ra hết
được con số các vĩ nhân giáo dân công giáo.
Dưới đây, xin lược kê chẳng
hạn: Thomas More (†1535), Erasmus († 1536), B.
Pascal († 1662), Joseph de Maistre († 1821), F. R.
Chateaubriand († 1848), J. Donoso Cortés († 1853), De
Lisle († 1878), L. Veuillot († 1883), M. Blondel († 1949),
hoặc gần đây hơn, J. Maritain († 1973), E. Gilson (†
1978), X. Zubiri († 1983), v.v. Những nhà trí thức
công giáo này đã quyết dấn thân hoạt động
trong lãnh vực tôn giáo. Chúng tôi
đã không liệt kê các phụ nữ thời xưa, vì
đa số đều là
tu sĩ: dẫu các ngài không phải là giáo sĩ nhưng
dư luận cũng không xếp họ vào hàng giáo dân.
Tuy nhiên, vẫn phải nhắc đến các bà vợ công
giáo lùng danh trong lịch sử Giáo Hội, như nữ
nô lệ Ninô – một khi trở thành vợ của vua
nước Gêócgia, thì đã làm cho chồng (và cả
nước) tin vào Ðức Kitô – hoặc thánh Mônica,
mẹ thánh Âugutinô; hoặc Gidêla vợ của Thánh
Stêphanô vua Hungari, v.v. Còn các nữ tu, thì ở
đây, chỉ cần nhắc đến thánh Gertrude Cả, hai
thánh Catarina
Sienna và
thánh Têrêsa Mẹ
– cả hai đều là tiến sĩ Giáo Hội – v.v. Hoặc
gần đây hơn, thì có thể nhắc đến Edith Stein,
Mẹ Têrêsa Calcutta hay Chị Chiara Lubich chẳng hạn. Trong lịch
sử Giáo Hội, các giáo dân đã ghi đậm những
nét hoạt động vàng soi hết sức nổi bật và
đặc biệt trong lãnh vực dạy giáo lý cả cho
trẻ con lẫn cho dự tòng, trong công tác rao giảng
Tin Mừng, nhất là tại các lãnh địa truyền
giáo, cũng như trong các công việc đạo đức. Khi
cần phải cải cách
Giáo
Hội đang bị sa sút
(do lối sống tệ hại của hàng giáo sĩ), thì
chính giáo dân đã mạnh mẽ ra tay hành động,
như một thánh Phanxicô Assisi († 1226) hay một D.
Êrasmô († 1536): các pho sách của ông này là
những tác phẩm được đọc nhiều nhất hồi
thế kỷ 16. Cùng với Thomas More (†1535) ở Anh, J.
Luis Vives († 1540) ở Tây ban Nha, Casparo Contarini (†
1542) ở Ý đại Lợi, Êrasmô đã cố tạo nên
dư luận công giáo đưa tới việc triệu tập
công đồng Trêntô, bắt đầu cuộc cải cách:
cuộc cải cách của Giáo Hội đã bắt đầu
trước Luther! Khi Ðức Phaolô III quyết định phải
đổi mới Giáo Hội, ngài đã bổ nhiệm vào
chức hồng y một số giáo dân nổi tiếng như
Reginal Pole, người Anh – sau này sẽ chủ tọa
khóa đầu tiên của công đồng (n. 1546) – M.
Cervini – sau này sẽ trở thành giáo hoàng
Marcello II († 1555) – A. Massarelli, thư ký của công
đồng dù chưa phải là linh mục. Trong công đồng
cũng còn có nhiều giáo dân, như bá tước L.
Nogarola, là người thuyết giảng cho các giám
mục. Trong thời
thế kỷ 17, đặc
biệt là tại Pháp, các ‘nhóm mạn đàm’ (salon) đã gây được ảnh hưởng lớn, như các
nhóm mạn đàm họp tại nhà bà de Bérulle hoặc
bà Acarie († 1618): là mẹ của 6 người con, bà
này vẫn hăng say làm việc cho Giáo Hội với
ảnh hưởng rất mạnh. Là sĩ quan có 5 con, là
tác giả của cuốn
sách viết về
cách giáo dục con cái, được gọi
là “linh hồn” của hội Thánh Thể, Ông Gaston de
Renty († 1649) lo phụ trách việc linh hướng cho
nhiều nữ tu viện và được coi là “cố vấn
của các thánh.” Các vị này đều là bạn của
thánh Phanxicô Salê, người đã tẩy xóa thành
kiến thời trước, và cắt nghĩa cho thấy là
các giáo dân có thể nên thánh trong đời sống
hằng ngày trong đấng bậc giáo dân của họ. Trong
xã hội thời ấy, đã có những giáo dân “thường”
sống một cuộc sống đức tin rất sâu xa, những
giáo hữu hăng say “đấu tranh” trong các hoạt
động tông đồ, các bà cùng hợp tác làm
việc bác ái với thánh Vinh Sơn Phaolô, và cả
các bà quý phái như Mme [de] Sêvigné cũng sống
một đời thấm nhuần sâu đậm tinh thần kitô. Thế kỷ 18
là một thời tai biến cho Giáo Hội: giới trí
thức bội giáo phá hoại đức tin, tấn công cơ
cấu của Hội thánh; việc bắt ép giáo hoàng
giải tán Dòng Tên là một dẫn chứng cụ thể;
rồi phải kể đến việc cách mạng Pháp làm
đảo lộn cả trật tự cổ truyền và bắt giam
Ðức Piô VI (1775-1799). Giới trí thức rơi vào
tình trạng tê liệt, không phản ứng; trái lại,
giới bình dân đã phản ứng mạnh mẽ bằng
cách nổi dậy, như cuộc nổi dậy ở Vendée
(1793), hoặc
cuộc “chiến của nông dân” ở Bỉ (năm 1798). Thế kỷ 19
đã phải chứng kiến hiện tượng tục hóa ào
ạt, cọng với thái độ chống đối Giáo Hội ra
mặt từ phía các chế độ chính trị. Thần học
chỉ còn hoạt động tương đối hữu hiệu tại
một vài nơi, như ở Ðức hoặc ở Anh với Henry
Newman; còn tại các nước khác thì đúng là
thời trị vì của các loại sách giáo trình. Nhưng
giáo dân thì lại rất sinh động. Joseph Goerres –
người Ðức – đã xuất bản bộ sách bốn
cuốn về thực tại thần nghiệm kitô trong các
năm 1836-1842; W. G Ward –người Anh – đã viết
về tự nhiên và ân sủng (n. 1860); Louis Veuillot
– người Pháp – đã xuất bản cuốn sách viết
về cuộc đời của Ðức Giêsu Kitô (n. 1864). Ðầu thế
kỷ 19, ở Ðức quốc, có nhóm gọi là ‘Câu
lạc bộ Muenster’ (Circle of Mušnster) – công chúa Amelia Gallitzin làm chủ
tịch – đã nối liên lạc với nhiều phong trào
và nhà trí thức,
như Goethe; qua
việc khảo
luận Kinh Thánh
và các Giáo
phụ, nhóm đã tạo ra được bầu khí trí thức
công giáo; người nổi tiếng nhất là J. Goerres;
ông viết nhiều sách và kiên trì đấu tranh cho
quyền tự do lương tâm; ông cũng là người
đã nêu cao xác tín này là Giáo Hội cần phải
sống trọn phổ quát tính, chứ không được
đóng khung trong não trạng quốc gia cục bộ.
Những giáo sĩ tham gia nhóm ấy là J. A. Moehler và
I. von Doellinger. Trong khi
đó, ở Pháp, cũng thấy xuất hiện một số
giáo dân đặc tài là R. Chateaubriand (1768-1848), J.
de Maistre (1751-1821) và
L. de Bonald (1754-1810). De Maistre đã minh bạch khẳng
định vai trò tích cực của giáo dân ở trong
Hội thánh, cho dù tư tưởng của ông có còn
mang nặng quan niệm lỗi thời của quá khứ. Trong
thế hệ tiếp theo sau thì đã có Ch.
de Montalambert
(1810-1870), F.
Ozanam (1813-1853) và
bà Swetchine –
gốc Nga – là
người thường tiếp đón tại nhà mình những
nhân vật đặc sắc nhất của Paris. Cha Lacordaire
O.P., đã viết như thế này về bà: “Các lời
khuyên của bà đã giúp nâng đỡ tôi nhiều
trong những lúc gặp cơ nguy mất can đảm và
hứng khởi.” Nhờ sống thánh ở giữa thế
gian, theo tư thế
là một giáo dân, bà
quả đã trở thành “mẹ linh hướng” cho nhiều
tâm hồn. Nước Bỉ
đã sống qua một giai đoạn đặc biệt: giáo dân
và giáo sĩ tán đồng về tình trạng biệt lập
giữa Giáo Hội và Nhà nước; nhờ bầu khí ôn
hòa ấy, đại học Louvain đã được hồi phục
(n. 1835). Tại Pháp thì dư luận công giáo chia rẽ
trầm trọng do việc đối chọi giữa các khuynh
hướng “tự do” (libéraux)
và “bảo thủ quá khích” (ultramontains
= “bên kia núi Alpes”), chủ trương giáo
hoàng có quyền độc tôn, hoặc Tòa thánh Rôma
có quyền can thiệp vào nội bộ Giáo Hội Pháp,
tức
nhằm chống lại
một số đông giám mục vẫn
còn nhuốm nặng chủ
nghĩa
Pháp giáo
(Gallicanisme),
bảo vệ quyền độc lập hoàn toàn của Giáo Hội
Pháp. Thêm vào đó là “vấn đề Rôma,” tức
sự việc nước
Ý
thống nhất
đã tiếm quyền của
giáo hoàng trên các lãnh thổ tòa thánh và
trên cả thủ đô Rôma. Dư luận công giáo, nhất
là giáo dân, đã phản ứng mạnh mẽ và can
đảm. Giữa thế
kỷ 19, cuộc cách mạng 1848 tại Pháp, đã gây
nhiều thay đổi sâu xa cho châu Âu. Tại Ðức
quốc, hàng giáo phẩm đã được giải phóng
khỏi ách chính trị và cùng năm ấy đã nhóm
họp lần đầu tiên; cố vấn của các giám mục
là một giáo dân, ông Moritz Lieber, và là
người đã soạn bản tuyên ngôn
của các giám
mục gửi cho các
tín hữu toàn quốc; rồi sau đó,
cuộc họp mặt của
cộng đồng Giáo Hội Công giáo Ðức gọi là “Ngày
Công Giáo” (Katholikentag)
đã được tổ chức,
như vẫn thấy hằng năm cho đến ngày nay.
Các nước khác cũng tổ chức các nghiệp đoàn
công giáo và các nhóm chính trị, tựa như các
đảng “dân chủ kitô giáo” ngày nay. Về diện
trí thức, nước nào cũng có vấn đề riêng
của nước đó, cần giải quyết. Tại Anh quốc,
Ambrose M. P. de Lisle (1809-1878) đã đứng lên
đẩy mạnh việc hồi phục các đan viện công
giáo, tổ chức một hội quốc tế để cầu
nguyện và thành lập một hội cổ võ công tác
đại kết (n. 1857). Cũng
nên lưu ý là cho đến năm 1850, giáo phẩm công
giáo Anh quốc mới
được hồi phục. Còn
William G. Ward (1818-1882)
là một nhà biện giải sắc bén và là giáo sư
thần học; trả lời cho một linh mục phàn nàn
về ông, Ðức Piô IX nói: “Sao mà không dạy
thần hoc được... ông ta là một người công
giáo dấn thân cho Chúa và đã nhận một bí tích
mà cha và tôi cũng không nhận được!” Ðại
diện tiêu biểu của nhóm công giáo tự do Anh
quốc là lord Acton (J. Dalberg: 1834-1902), là người
sáng lập hai tạp
chí nổi tiếng: The
Rambler và The
Home and Foreign Review, gây được ảnh hưởng
lớn trên dư luận; thời Vaticanô I, ông đã
vận động chống lại giáo lý về bất khả ngộ
của
giáo hoàng, nhưng
sau công đồng, ông đã công khai
chấp nhận tín điều. Cuối thế kỷ 19, Việt Nam
cũng đã có một giáo dân xuất chúng là Petrus
Ký (1837-1898),
người đã
làm rạng danh lớn
cho đức tin công giáo. Tại Pháp,
dư luận cho rằng Léon Ollée-Laprune (1841-1898) là giáo
dân xuất sắc nhất của thời ấy. Ông đã giúp
Ðức Lêô XIII soạn thảo thông điệp Tân
Sự (Rerum
Novarum, n. 1891) và văn kiện gọi là
thông điệp Union à
la République của Ðức Lêô yêu cầu người
công giáo Pháp chấp nhận chế độ cộng hòa.
Trong thế kỷ 20, Ðức Piô X và nhất là các
Ðức Piô XI và XII đã đặc biệt nêu bật vai
trò của giáo dân trong Hội thánh, và như thế
dọn đường cho hiện trạng ngày nay. Ở Ðức
quốc, một nhóm giáo dân đã sáng lập một hội
mang tên là Goerresgesellschaft
(1876), có
mục đích đẩy mạnh
đà tiến của
khoa học theo tinh
thần kitô, và cho đến nay, hội vẫn còn hoạt
động. Ðại diện của nhóm là Karl Muth (1877-1944),
người mạnh dạn cổ võ việc phát huy văn hóa
công giáo, đặc biệt là qua tạp chí Hochland.
Ở Pháp, bầu khí đã bị tục hóa đến một mức
đáng lo ngại: chỉ có thể tự do sống đức tin
âm thầm biệt lập đối với chế độ chính trị;
thực vậy, nhà nước tỏ rõ thái độ kỳ thị
đối với các nhà trí thức công giáo, như G.
Fonsegrive (1952-1917) đã nhận định. Các sử giả
công giáo thời ấy đã có công nêu lên cho
công luận biết rõ không biết bao nhiêu điều
khích lệ về Giáo Hội; đáng ghi nhớ hơn hết
trong các sử gia nói trên là G. Schuerer,
ở Ðức (1860-1941), G.
Goyau, ở Pháp (1969-1939) và G. Brom, ở Hà Lan
(1882-1959). Thời ấy, nước nào cũng bắt đầu
xuất bản tạp chí công giáo, chẳng hạn như ở
Pháp thì có tờ Esprit,
với những nhân vật hợp tác đáng kể như J.
Maritain (1882-1973), J. Lacroix (1900-1986), H. Marrou
(1904-1977), và nhất là Emmanuel Mounier (1905-1950). Trong thế kỷ 20, thì khó mà liệt kệ cho hết được – bởi quá đông – số các giáo dân đã tích cực góp phần về mặt trí thức, cho sứ mệnh của Giáo Hội. Nên nhắc đến các tên tuổi như Charles Péguy (1873-1914), Paul Claudel (1868-1955) và George Bernanos (1888-1948) ở Pháp; G. K. Chesterton (1874-1936), Hilaire Belloc (1870-1953), v.v. ở Anh quốc; Menénđez Pelayo (1856-1912), M. de Unamuno (1864-1936), X. Zubiri (1898-1983), v.v., ở Tây ban nha; A. Manzoni (1785-1873), G. Marconi (1874-1937) – người phát minh kỹ thuật phát thanh – v.v. ở Ý Ðại Lợi; còn ở Nhật bản thì không thể quên được ảnh hưởng của Shusaku Endo (1923-1996). [8]
các phong trào công giáo Trên đây
là những giáo dân xuất chúng, được kể như
là “vĩ nhân.” Tuy nhiên, không phải chỉ có
thế, bởi còn có đại đa số giáo dân xưa nay
chỉ được coi như là thuộc hàng “thứ dân”
hay “dân đen,” nhưng chính họ là Giáo Hội
sống động. Kỳ
thực, Giáo
Hội đã khởi sinh với một nhóm người bình
dân được
Thánh Thần linh ứng
soi dẫn
và hằng không
ngừng từng bước lớn lên cho đến bây giờ.
Không có tài liệu về sinh hoạt của Giáo
Hội trong những
thế kỷ đầu;
hễ nói đến “nhóm”
hay “phong trào” là người ta nghĩ ngay đến các
người lạc giáo, ly khai khỏi thân thể của đại
Giáo Hội. Chỉ khi Giáo Hội được tự do
(sau n. 313),
danh xưng “phong
trào”
mới được phổ
biến và hiểu theo nghĩa là một hội, một nhóm
sinh hoạt... giữa lòng Kitô giáo. Trước
hết, có phong trào tu hành. Cũng nên nhớ lại
rằng đời tu trì là sáng kiến do giáo dân đề
xuất nhằm phản ứng chống lại lối sống tục
hóa của giáo sĩ. Hoặc nói cách khác, nhiều tín
hữu ước muốn được làm chứng một cách
hoàn hảo cho Ðức Kitô, theo
mẫu gương của các vị tử đạo trong những
thời bị bách hại trước kia: khi mà đức tin
không còn bị cấm cách, khi mà lối sống của
giáo sĩ chẳng còn nói lên được gì lý
tưởng Tin
Mừng,
thì các tín hữu
muốn thoát ra khỏi những dính bén thế tục, đi vào
sa mạc sống đời
ẩn
tu riêng lẻ hoặc
trong các đan viện, để tìm cách thể hiện trọn
vẹn lý tưởng cao đẹp ấy. Thời thế kỷ 4,
bên Ai cập, đã có từng ngàn ẩn tu và đan sĩ.
Hồi thế kỷ 5, thánh Biển Ðức – một giáo
dân – đã khai sáng lối
sống tu trì cho Tây phương. Quả
vậy, rất nhiều
dòng tu đã được thành lập do giáo dân, như:
thánh Phanxicô Assisi, bảy vị sáng lập dòng Tôi
tớ Ðức Mẹ, thánh I-nhã, v.v. Tại Châu
Âu, trong thời Trung cổ, đã
xuất hiện từ
gốc bình dân, nhiều phong trào cải cách. Phát
sinh từ dòng Phanxicô hồi thế kỷ 13-14, phong
trào Fratricelli đã
được nhiều giáo dân ủng hộ.
Rồi từ nhóm này, một
số phong trào khác đã xuất phát ở vùng bắc
Âu, như các nhóm Lollards hoặc Beghards và
Beguines ở Bỉ, Hà Lan và Anh quốc; đa số đều
mang sắc thái lạc giáo, nhưng cũng có nhiều
người đạo đức thật lòng. Ðáng chú ý hơn
hết là nhóm Beguines, vì họ là nhóm phụ nữ sống nghèo,
ở chung thành cộng
đoàn,
không có lời khấn
như tu sĩ, và chăm lo làm việc phục vụ dân
nghèo vì Ðức Kitô. Noi gương họ, phía nam giới
cũng tổ chức thành cộng đoàn mang tên là Beghards,
thường sống
ở ngoại ô các thành phố, theo tinh thần
Phanxicô. Trong
các thế kỷ 14-15, hơn cả hàng
giáo sĩ, hai nhóm này đã trở thành trọng tâm
thiêng liêng của xã hội trong vùng. Một số
cộng đoàn thuộc phong trào này đã tồn tại cho
đến thời cách mạng Pháp hồi cuối thế kỷ 18.
[9]
Một
hiện tượng khác
đáng lưu ý là các Dòng Ba.
[10]
Từ lúc khởi đầu
đời sống tu hành
đã
có nhiều giáo dân
muốn “thông hiệp” với các người sống lối
sống ấy, chẳng hạn như là với các đan sĩ
dòng Biển Ðức – hoặc là với tu sĩ của
nhiều dòng khác – trong tư cách là hiến sĩ (oblati).
Tuy nhiên, phải nói là Dòng Ba đã thực sự
xuất hiện cùng với các dòng khất thực hồi
thế kỷ 13: nhiều giáo dân ao ước được thông
dự vào tinh thần của các dòng mới này, như
dòng Phanxicô (chính thánh Phanxicô đã soạn luật
cho họ), rồi các dòng Ða Minh, Cát Minh,
Âugutinô, Ba Ngôi, Xitô, Thánh Norbert, v.v. Nếu
có một số thành viên khấn giữ một vài
điều, thì tất cả đều hứa sống
theo linh đạo của
dòng,
và như thế được
hưởng nhiều đặc ân thiêng liêng Tòa thánh ban
cho các dòng, như các ân xá chẳng hạn; trong
một số trường hợp, họ cũng được mặc tu
phục khi khi liệm xác để chôn cất. Thành quả
thánh thiện quả là lớn: chỉ dòng ba Phanxicô
không thôi thì đã có chừng 75 thánh và chân
phước. Thời tân
đại, thay vì Dòng
Ba, Dòng
Tên đã lập
ra Hiệp hội Thánh Mẫu, giúp cho các giáo dân
muốn sống linh đạo Inhã; còn các dòng mới
khác cũng có một tổ chức tương tự như Dòng
Ba và kêu mời giáo dân chia sẻ tinh thần của
họ. Gần đây, vẫn còn xuất hiện những Dòng Ba
mới, như Dòng Ba của Dòng Ngôi Lời Nhập Thể (Instituto
del Verbo Encarnado) ở Áchentina,
thành lập năm 1988. Hiện đại hơn, còn có Ðạo
binh Thánh Micaê chuyên lo việc Truyền giáo qua Internet.
Hiện có nhiều nhóm mang tên trùng lẫn, làm cho
khó nhận diện, như “dòng giáo dân” (secular
orders, ordres séculiers ...); tuy nhiên, điều đó
cho thấy tinh thần mới đang hiện diện ở trong
Giáo Hội.
[11]
Từ thời
Trung cổ cho đến về sau thời Phục hưng, giáo
dân đã họp thành những Hội Ái Hữu (Confraternities),
với mục đích thiêng
liêng khác nhau.
[12]
Các hội này
vốn dành cho nam giới; nhưng nữ giới cũng đã
tổ chức những nhóm tương tự.
[13]
Các nhóm này
cho thấy là giáo dân đã ý thức rõ về bổn
phận của mình, bổn phận nên thánh ở giữa
thế gian, và quả thật, họ sống mạnh đời sống
đức tin giữa lòng xã hội. Có khi họ tụ họp
theo giai cấp, hoặc theo nghề nghiệp, và cũng có
thể là tự do, không theo một tiêu chí nào cả;
có khi thì gồm cả giáo sĩ lẫn giáo dân. Trong
một xã hội thuần túy công giáo như thế,
các phường
hội cũng có
mục đích tôn giáo, cũng có thánh bổn mạng và
những ngày lễ riêng, những việc đạo đức
và cả đến sách phụng vụ riêng, v.v. Thông
thường họ nhắm mục đích từ thiện, tức sống
đức tin qua bác ái; nhưng cũng cổ vũ nghệ
thuật, việc học hỏi Kinh Thánh hoặc khoa học, và
nhất là sống tương trợ
lẫn nhau về mọi mặt. Giáo dân rất ái mộ các
hội này đến nỗi, thí dụ, ở Firenze (Ý) năm
1500 đã có 156 hội,
và chừng 120
hội ở Venezia. Mỗi hội đều có quy chế được
thẩm quyền Giáo Hội phê chuẩn. Hiện nay, ở
Tây ban nha vẫn còn có nhiều hội như thế. Khi
xã hội bị tục hóa (sau thế kỷ 18),
các phường hội
đã biến hóa và trở thành nghiệp đoàn như
thấy trong thời nay; nhiều tổ chức trí thức
hoặc kỹ thuật khác cũng đã bắt nguồn từ
các hội ngày xưa. Giữa thế
kỷ 19, xuất hiện những hiệp hội xã hội. Ở
Ðức quốc, A. Kolping († 1865), một thợ đóng
giày, đã thành lập hội đồng nghiệp để làm
chứng cho Tin Mừng trước các đồng nghiệp. Ở
Áo quốc, đã có một phong trào tương tự. Ở
Pháp, sau 1870, nhóm “catholiques
sociaux” (công giáo xã hội) đã thay thế cho
nhóm “catholiques libéraux” (công giáo tự do); năm 1887,
xuất hiện nghiệp đoàn kitô giáo đầu tiên ở
Paris và Lyon. Ở Bỉ, các nghiệp đoàn kitô giáo
– khởi đầu năm 1866 hiện là
những nghiệp đoàn
lớn nhất trong nước, thu nạp được hơn 1 triệu
6 trăm ngàn công nhân. Các nước Châu Âu đều
có những nghiệp đoàn như thế cả. Bỉ có công
đặc biệt vì một người Bỉ, J. Cardijn đã sáng
lập tổ chức JOC, tức Thanh Lao Công (Jeunesse
Ouvrière Chrétienne) năm 1925; tổ chức đã
phát triển rộng lớn, có mặt và hoạt động
trong hết mọi nước công giáo,
giúp cho hàng triệu thanh niên sống đạo tích
cực ở giữa thế giới lao động. Tổ chức áp
dụng mẫu thức sư phạm ba bước: quan sát, nhận
định, và hoạt động.
[14]
Ảnh
hưởng các nghiệp đoàn kitô giáo gây được,
hơn kém tùy nơi, nhưng bất cứ ở nơi nào cũng
đều đáng kể. Gần đây, nổi tiếng nhất
có lẽ
là hoạt động
của
Công đoàn Liên
Ðới (Solidarnosk)
(Công đoàn) ở Balan, bởi đã góp phần lớn
trong việc làm cho đế quốc cộng sản đổ sụp. Có lẽ phong trào “phổ quát” nhất trong thế kỷ 20 là Công giáo tiến hành (CGTH). Trong thời các giáo hoàng Piô IX và Piô XI, tôn chỉ, mục đích và lãnh vực hoạt động của CGTH đã không được xác định rõ ràng; chỉ biết là trong thực tế nó bao gồm tất cả các việc tông đồ của giáo dân; quả thế, Ðức Lêô XIII đã coi tổ chức “dân chủ kitô giáo” và “công giáo tiến hành” chỉ là một. Khi chế độ phátxít giải tán các tổ chức tư (1926-1927), Ðức Piô XI đã lên tiếng phản ứng bằng cách “định nghĩa” CGTH là một “phương thức thông phần vào việc tông đồ của hàng giáo phẩm,” và nói rõ rằng chánh phủ không có quyền cấm chỉ. Tại nhiều nước, phong trào giữ một phong thái độc lập hơn; sau này, Vaticanô II sẽ nói đó là việc “hợp tác với giáo phẩm” trong sứ mệnh của Hội Thánh, theo cương vị đặc thù của giáo dân. Quả vậy, sau thế chiến II, CGTH sáp nhập nhiều phong trào khác và chia thành nhánh, nhằm đáp ứng nhu cầu của từng giới, như: thanh niên, phụ nữ, sinh viên, lao động, v.v. đúng theo lời của Ðức Piô XII thúc dục mọi người dấn thân làm việc tông đồ trong hết mọi lãnh vực: xã hội, trí thức, chính trị, v.v... bởi giáo dân là tiền quân của Giáo Hội, đặc biệt là trong các lãnh vực chuyên nghiệp. Nhưng tại nhiều nơi, hàng giáo phẩm tỏ ra ái ngại, sợ giáo dân dấn thân “quá mức” và cố giữ họ lại ở trong phạm vi tôn giáo; chẳng hạn, trong thư chung năm 1953 của các giám mục Việt nam, có đoạn viết: “Công giáo tiến hành là một phương tiện truyền giáo và chỉ có mục đích truyền giáo.” Từ CGTH đã phát sinh nhiều tổ chức khác, như Caritas và Cursillo ở Tây ban nha, chẳng hạn. Khởi đầu năm 1867, phát triển mạnh dưới thời Ðức Piô XI, CGTH Ý đại lợi đã bừng lớn hẳn lên dưới thời Ðức Piô XII, đạt đến con số 3.372.000 thành viên trong năm 1953, và gây được ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và chính trị. Sau Thượng Hội Ðồng Giám Mục 1987, CGTH Ý đã thành lập một ủy ban đối ngoại để cổ võ giáo dân tham gia truyền giáo và dấn thân hoạt động cho hò |