|
“Lãnh
vực thánh” là phạm vi của phụng vụ, bao gồm
các hoạt động
có tính cách thiêng
liêng,
mà cho đến gần
đây làm như là thuộc lãnh vực dành riêng cho
các giáo sĩ hoặc tu sĩ. Chắc chắn có những
tác vụ đòi phải có chức thánh mới thi hành
được, như dâng Thánh Lễ, giải tội, v.v... Nhưng, trong phụng vụ, ngay cả trong khi cử hành
bí tích, cũng có nhiều vai trò và nhiệm vụ
không cần đến chức thánh; thế thì còn cần
phải nói chi đến lãnh vực của á bí tích và
các việc đạo đức khác. Ngoài ra, nhận chức
tư tế chung khi chịu phép Rửa là giáo dân đã
trở thành thừa tác viên thường vụ của bí
tích hôn phối và, do đó, toàn bộ đời sống
hôn nhân mặc lấy tính chất
thánh của hành vi
tư tế.
Bao quát hơn
nữa là sự việc chịu phép Rửa, bởi qua đó,
họ có khả năng lãnh nhận các bí tích khác, và “nhận
được quyền lợi cùng bổn phận trong trách vụ
thi hành công tác tông đồ” (TÐ 3). Có
một vấn
đề đang được
bàn luận đến tại nhiều nơi trong Giáo Hội, đó
là vấn đề “thừa tác vụ của giáo dân trong
Giáo Hội” (Lay
Ecclesial Ministry).
[1]
Theo vấn đề
đặt ra thì thừa tác vụ này bao gồm nhiều tác
vụ trong Giáo Hội, chẳng hạn như làm tuyên úy
tại một đại học hay một bệnh viện, phụ trách
việc chuẩn bị cho dự tòng và tân tòng, v.v.
Ðã chịu các bí tích
Rửa tội và Thêm sức,
đã nhận các đoàn
sủng và ơn gọi riêng, tất, theo cách quan niệm
của Giáo Hội học hiệp thông (x. GH 31, TÐ 10, Christ.
laici 52, v.v.), giáo dân được thông phần vào
các chức vụ tư tế, tiên tri và vương giả của
Ðức Kitô (x. GH 31, Giáo
luật 204.1); chính vì thế, họ giữ một phần
trách nhiệm trong Giáo Hội. Vaticanô II
xác quyết: “Mẹ Giáo Hội tha thiết ước mong
toàn thể
tín hữu được
thúc đẩy để tham dự một cách trọn vẹn,
ý thức và sống động vào việc cử hành
các nghi lễ phụng vụ. Do tự bản chất, Phụng
vụ đòi hỏi một việc tham dự như thế; lại
nữa, do phép Rửa tội, việc tham dự ấy trở
thành quyền lợi và
bổn phận của dân
kitô giáo
‘là giống nòi
được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả,
là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa’ (1Pr
2:9, x. 2:4-5)” (PV 14). Vì thế, giáo phẩm có thể
trao phó cho giáo dân một số các phận vụ của
các chủ chăn, trong các công tác “như dạy
giáo lý, thi hành một vài nghi thức phụng vụ,
hoặc chăm sóc các linh hồn” (TÐ 24f). Muốn được như
vậy thì phải làm thế nào? ThỪa Tác VỤ Bàn Thánh Sau công
đồng, Ðức Phaolô VI đã bắt đầu canh tân các
thừa tác vụ với tự sắc Một số thừa
tác vụ (Ministeria
quaedam).
[2]
Ngài bãi bỏ
các chức giữ cửa, đọc sách, trừ quỷ và
giúp lễ
mà trước kia gọi
là “chức
nhỏ” và
được dành cho
giáo sĩ; quả vậy, có thể coi đó là những
bậc thang tiến lên chức linh mục. Trong hiến chế
về Phụng vụ thánh, Công đồng đã dạy: “Trong
các cuộc cử hành Phụng Vụ, khi chu toàn phận
sự mình, thì mỗi người, dù thừa tác viên hay
là tín hữu, nên thi hành trọn vẹn những gì
thuộc lãnh vực mình tùy theo bản chất sự việc
và các quy tắc Phụng vụ” (PV 28). Giáo hoàng
đã muốn đổi mới những phận vụ liên quan hơn
tới bàn thờ là chức đọc sách và giúp lễ;
nhưng bây giờ, vấn đề không còn vì
các phận vụ này
đã được trao cho giáo dân. Ngài cũng cho phép
các giám mục thiết lập những chức vụ khác
nếu xét thấy có lợi ích cho Giáo Hội địa
phương. Ðọc sách
không còn phải là “chức thánh” (ordo)
song chỉ là
“thừa tác vụ” (ministerium)
và được trao ban qua nghi thức phụng vụ do giám
mục hoặc bề trên dòng cử hành. Các thừa
tác viên giữ phận sự đọc các bài Kinh Thánh
trong phụng vụ – trừ Phúc âm ra – đọc hoặc
hát Thánh vịnh hay lời kinh dân Chúa, và giúp
huấn dục giáo dân đón nhận các bí tích. Linh
đạo
của họ phải được
thấm
nhuần Lời
Kinh Thánh. Chức giúp lễ
có nhiệm vụ giúp phó tế và linh mục ở nơi
bàn thờ, có thể phân phát Mình Thánh và –
một cách ngoại thường – đặt Mình Thánh để
chầu, nhưng không được quyền ban phép lành. Linh
đạo của họ phải được ghi đậm
bởi Thánh Thể tính. Hai chức
vụ này được luật Giáo Hội coi là chính
thức, và được dành riêng cho nam giới (đ.
230.1). Còn có
nhiều tác vụ khác liên quan đến bàn thờ mà
giáo dân có thể thi hành. Thí dụ: mang lễ vật
lên bàn thờ lúc dâng lễ, quyên tiền trong nhà
thờ, giúp lễ hoặc chuẩn bị bàn thờ, trải
khăn bàn thờ, v.v. Nhiều nơi còn có những “thừa
tác viên bàn thờ” (Ministers
of the Table) lo trông coi – tựa như các
trưởng ban nghi lễ – để làm cho mọi sự tiến
hành chỉnh tề. Giáo luật điều 230.2 ghi rằng: 2. “Các
giáo dân (laici)
có thể được chỉ định tạm thời đảm nhiệm
việc đọc sách trong các nghi thức phụng vụ.
Cũng thế, tất cả các giáo dân đều có thể
thi hành những công tác của người chú giải,
ca trưởng hoặc những công tác theo quy tắc luật
định.” 3. “Nơì
nào nhu cầu Giáo Hội đòi hỏi và thiếu thừa
tác viên, thì các giáo dân dù không có tác
vụ đọc sách và giúp lễ, cũng có thể thay
thế họ làm một số việc, tỉ như thi hành thừa
tác vụ Lời Chúa (ministerium verbi), chủ tọa các buổi cầu nguyện, rửa
tội và cho rước lễ theo các quy tắc luật định.” Ðây là
câu hỏi Tòa Thánh nhận được: “Có phải các
tác vụ phụng vụ mà giáo dân, nam nữ, được
quyền thi hành theo Giáo luật điều 230.2, là
thuộc servitium ad altare (việc phục vụ nơi bàn thờ) hay
không?” Uỷ ban Giáo hoàng đặc trách Giáo luật
đã trả lời (30.06.1992) là:
“Có, theo chỉ thị
Tòa Thánh” do Ðức Gioan Phaolô II phê chuẩn
ngày 11.07.1992. Ðức hồng y Antôniô M. Javierre,
bộ trưởng bộ Phụng tự, đã gửi thư cho các
chủ tịch Hội đồng giám mục (15.03.1994) để báo
tin về điều trả lời trên đây, với những
huấn thị như sau: dùng điều luật 230.3 hay không
là tùy giám mục, không bắt buộc; giáo dân nam
nữ có thể thi
hành các nhiệm vụ ấy mà không
có quyền đòi hỏi; giám mục phải giải thích
cho các tín hữu về quyết định trên, nếu muốn
tạm thời dùng nó. Trong những trường hợp
xét là cần, linh mục dâng Lễ có thể cho phép
giáo dân giúp để trao Mình Thánh. Các thừa
tác viên Thánh Thể giúp phân phát Mình Thánh
trong Thánh Lễ và mang cho bệnh nhân hoặc người
già cả không thể đến nhà thờ được.
[3]
Giáo Hội đặt
một số điều kiện trong
việc cắt đặt các
thừa tác viên Thánh Thể:
phải là những
người đã
chịu các bí tích khai tâm (Rửa tội, Thêm sức,
Thánh Thể), đã gia nhập Giáo Hội ít là một
năm, sống đạo tích cực, thuộc một giáo xứ,
đã được huấn luyện và sẵn sàng phục vụ
cộng đoàn khi cần. Các “chú” giúp lễ là những hình bóng quen thuộc ở trong phụng vụ công giáo và chính thống. Trong tiếng Hylạp các “chú” được gọi là akolouthos, và là acolytus trong tiếng Latinh, tức “người đi theo” [trợ giúp]. Trong Giáo Hội thời xưa, đó là chức vụ dành cho giáo sĩ như đọc thấy được trong các thư của giáo hoàng Cornêliô (n. 251-253) [4] nói về Rôma, và của Xyprianô († 258) nói về Carthagô. Hồi thời Trung cổ, vì không có chủng viện, nên khi một thanh niên muốn trở thành linh mục, thì thường được cha sở huấn luyện như người “học nghề,” tức giúp các việc trong nhà thờ, đặc biệt trong phụng vụ. Sau công đồng Trentô, mọi sự diễn tiến giống như đang thấy hiện nay. Giáo Hội đã chọn các thánh Tarsicio và Gioan Berchmans làm bổn mạng của họ. Gần đây, có nơi đã để các thiếu nữ giúp lễ; bởi có người hỏi về điểm này, Thánh Bộ Phụng tự đã trả lời bằng cách nhắc lại điều 230.2 và quyền quyết định của giám mục đối với vấn đề. [5]
ThỪa Tác VỤ LỜi Chúa Bởi thông
phần vào sứ vụ tiên tri của Ðức Kitô, các
giáo dân nam nữ cũng có thể cử hành những
tác vụ liên quan đến Lời Chúa. Chính thức
sẵn có là chức vụ đọc
sách như điều 230.1 của Giáo luật quy định:
“Các giáo dân thuộc nam giới có đủ tuổi và
điều kiện do nghị quyết của Hội Ðồng Giám mục
ấn định, có thể lãnh thừa các tác vụ (ministeria)
đọc sách hoặc
giúp lễ, qua
một nghi lễ phụng vụ đã qui định. Tuy nhiên,
việc trao thừa tác vụ này không cho họ quyền
được Giáo Hội trợ cấp hoặc trả lương.” Ministeria
quaedam, số 5, miêu tả
chức vụ này
như sau: “Người
đọc sách được
bổ nhiệm để thi hành một chức năng riêng là
đọc Lời Chúa trong cộng đoàn phụng vụ. Thế
nên, thừa tác viên có phận sự công bố các
bài đọc Kinh Thánh – trừ Phúc âm ra – trong
Thánh Lễ và trong buổi cử hành phụng vụ khác;
đọc Thánh vịnh giữa các bài đọc, khi không
có xướng ca viên; đọc lên các lời nguyện
giáo dân, khi không có phó tế hoặc xướng ca
viên; hướng dẫn cho cộng đoàn tín hữu hát
và tích cực tham dự; dẫn giải giúp các tín
hữu biết cách lãnh nhận các bí tích cho xứng
đáng. Nếu cần,
thừa tác viên đọc sách cũng có thể huấn
luyện cho các giáo dân khác, những người
được bổ nhiệm tạm thời vào tác vụ đọc
Kinh Thánh trong các buổi cử hành phụng vụ.”
Dù có dành riêng
cho nam giới,
“tác vụ” này
cũng có thể được trao cho các giáo hữu thuộc
cả hai giới. Phần dẫn nhập Sách Lễ Rôma năm
1969, ghi rằng nếu đọc sách, thì nữ xướng
viên không được phép lên cung thánh, và vì
thế, không được đọc từ đài giảng kinh (số
66). Về điểm này, huấn thị
năm 1970
để các Hội
đồng Giám mục tùy nghi quyết định; còn
Sách Lễ in lần
thứ hai thì phê chuẩn. Việc phân
biệt nam nữ trong
tác vụ đọc các bài đọc Phụng vụ hiện không
còn nữa. Ðọc Lời
Chúa đâu phải là đơn thuần đọc như đọc mọi
thứ sách báo khác. Tín hữu nghe
Lời, một Lời được loan báo cho Giáo Hội
vâng theo. Vì thế, người đọc quả thực là
sứ giả tuyên cáo làm cho Kinh Thánh thành lời,
một lời sống động. Người tuyên cáo như thế
phải làm sao để có được sức thu hút, làm
cho thính giả chú tâm lắng nghe, chứ không ru
ngủ hoặc gây chia trí. Trừ những trường hợp
đặc biệt như bị nặng tai hoặc không hiểu tiếng
nói, tín hữu không nên đọc riêng các bài
đọc trong giấy hoặc sách của mình! Nghĩa là
người đọc phải chuẩn bị trước để có thể
nắm vững mạch văn, ngữ cảnh của các bài
đọc, suy nghĩ và cầu nguyện theo nội dung; người
đọc
phải làm
sao để Lời Chúa một phần nào đó trở thành
xác tín của chính mình: không chỉ là người
đọc, mà phải là chứng nhân. Rồi cần phải
đọc chậm, đọc rõ, đọc trân trọng... đọc mà
nghĩ đến những người nghe ở đằng xa, ở
cuối nhà thờ. Người dẫn lễ cũng
được Hiến chế về Phụng vụ nhắc đến: “Cả những
người giúp lễ, đọc
sách, dẫn
giải và
những người thuộc
ca đoàn cũng chu toàn tác vụ đích thực phụng
vụ. Vì vậy, họ phải thi hành phận sự mình
với lòng đạo đức chân thành và trong trật
tự, phù hợp với tác vụ trọng đại ấy; đó
là điều dân Chúa có
quyền đòi hỏi nơi họ” (số 29). Thật vậy,
người dẫn giải (commentator)
được đồng hóa với trưởng ban nghi lễ dạng
đơn giản. Phần dẫn nhập Sách Lễ năm 2000 cắt
nghĩa
như sau: “Người dẫn giải
dùng lời bình chú
và giải thích vắn gọn tùy theo sự việc, để
đưa dẫn tín hữu vào các nghi thức và giúp
họ hiểu rõ hơn. Phải chuẩn bị rất tỉ mỉ những
lời dẫn giải, những lời đơn giản và vắn
gọn. Lúc thi hành tác vụ, người dẫn giải
đứng ở một chỗ thuận tiện, sao cho mọi
người thấy
được, nhưng không
phải là trên đài giảng kinh” (số 105). Rồi
còn nhiều chi tiết thực tiễn khác, như cần
phải nói ít mà nói sao cho dễ hiểu, tránh lặp
lại khi không cần, tránh giảng thuyết (thay
người giảng), đưa ra những chỉ dẫn (đứng,
ngồi, tiến lên...) cần thiết cho buổi lễ, v.v... Khi nói chung
về “thừa tác vụ Lời,” giáo luật cũng đề
cập đến tác vụ rao giảng; điều 766
ghi rằng: “Giáo dân
có thể được nhận giảng thuyết trong nhà
thờ hay nhà nguyện,
nếu nhu cầu đòi
hỏi, trong những hoàn cảnh nhất định, hoặc ích
lợi xui khiến trong những trường hợp đặc
biệt dựa theo các chỉ thị của Hội Ðồng Giám
mục và tuân hành điều 767, triệt 1.” Triệt trên đây nói về bài giảng homilia, tức bài diễn giải Phúc âm hoặc Thánh Lễ, coi đó “là phần chính của phụng vụ” cho nên bài giảng giải Thánh Lễ được “dành riêng cho linh mục hay phó tế.” Trong truyền thống, thuyết giảng như thế thường là phận vụ của Giám mục, hay của người chủ tọa phụng vụ. Hiện nay, Tin lành hoặc Anh giáo (nhất là ở Mỹ) thường để cho giáo dân giảng. Cv 20:11 cho thấy sau khi bẻ bánh, thánh Phaolô, “nói chuyện khá lâu” (homilesas trong tiếng Hylạp), tức diễn giải Tin Mừng; sau này, từ homilia được dùng để gọi tên bài giảng trong phụng vụ Lễ Tạ Ơn.
|