|
IV. ThỪa Tác VỤ Hành Chánh
Tham dự vào thừa tác vụ
vương giả của Ðức Kitô là giáo
dân có khả năng và bổn phận
phục vụ Dân Chúa trong những công
việc quản lý.
[1] Có lẽ đây là điểm tế
nhị nhất trong quan hệ giáo sĩ và giáo
dân. Lý do là vì bao giờ quyền bính cũng
mang tính chất nước đôi: một
đàng, xã hội nào cũng đều
phải nhờ đến quyền bính để
mà tồn tại an toàn; đàng khác,
quyền bính thì khó mà đội trời
chung với Phúc Âm... Các tài liệu chính
thức ít khi đề cập đến
quyền bính của giáo dân; làm như trong Giáo
Hội, toàn bộ quyền hành đều
nằm trong tay hàng giáo phẩm. Có thể là
đã có thời giáo dân nhúng tay vào sinh
hoạt của Giáo Hội một cách quá
đáng, chẳng hạn như khi các hoàng
đế tự tặng phong cho mình quyền
triệu tập công đồng, như khi hàng
quý phái nắm quyền bổ nhiệm giám
mục hoặc quyết định ai sẽ làm
giáo hoàng, v.v. Tuy nhiên, sau đó dường
như con lắc đã chuyển về phía ngược
lại, và giáo dân chỉ còn nhiệm vụ
vâng lời. Suốt nhiều thế kỷ
thời trước, đa số giáo dân
đều thuộc giới ít học hoặc
mù chữ, không có thế lực giữa xã
hội; nhưng ngày nay, hoàn cảnh đã
đổi hẳn: không thiếu chi giáo dân có
khả năng chuyên môn trong nhiều lãnh
vực như hành chánh, quản lý, xã hội
học, v.v. vượt hẳn cả giáo sĩ
lẫn giáo phẩm. Mặt khác, bối
cảnh trí thức thời nay nhấn
mạnh đặc biệt đến
những giá trị dân chủ, bình đẳng,
tập thể, v.v. Hẳn là Giáo Hội không
thể bỏ qua mà không đón nhận
những giá trị ấy. Dĩ nhiên, Hội thánh có cơ
cấu do chính Ðức Kitô đã thiết
lập, giáo phẩm không có quyền thay đổi;
tuy nhiên, trong cơ cấu ấy, những
điều thực sự bất khả di
dịch thì rất ít. Thế nên, trong Giáo
Hội, là rất rộng khoảng trống dành
cho tự do và sáng kiến, dành cho nỗ
lực canh tân và hội nhập văn hóa,
cho nhu cầu thích nghi với thời đại
và đón nhận những giá trị mới,
v.v. : dấu chỉ thời đại cũng
là tiếng của Thần Khí nói với Dân
Chúa. Nguyên TẮc Căn BẢn: Công đồng
Vaticanô II đã khởi sự một phong trào
đổi mới trong Giáo Hội chưa
từng thấy kể từ thời công
đồng Trentô. Năng động của
Dân Chúa đã
bừng
lên
dưới
sự hướng dẫn của Thần Khí,
trong một Giáo Hội học hiệp thông,
dồn thúc tất thảy các tín hữu can
đảm nhận lấy trách nhiệm đức
tin trao phó.
[2] Hiện
trạng thế giới đã làm cho chúng tôi
ý thức rằng giáo dân có vai trò đặc
thù và tất yếu trong Giáo Hội. Ðừng
ngạc nhiên nếu thấy rằng tinh
thần trách nhiệm chung của toàn
thể dân Chúa
đối với toàn bộ đời
sống Giáo Hội đã khơi dậy
nhiều tiếng nói khác nhau; đó chính là
nguồn sinh động, là
thế
căng thẳng sáng
tạo.
[3] Do ơn
Rửa tội,
mọi giáo
hữu đều có bổn phận lo cho
sứ mệnh của Giáo Hội và, vì
thế, phải chịu trách nhiệm về
những hoạt động trong việc
thực thi sứ mệnh ấy. Thượng
hội đồng giám mục năm 1985,
nhắc nhở rằng: nếu tự bản
chất Giáo Hội là hiệp thông, là đoàn
thể, tất mọi thành phần trong Giáo
Hội giám mục cũng như linh mục,
giáo sĩ cũng như giáo dân đều có
trách nhiệm chung.
[4] Trách
nhiệm theo hai chiều kích: thực thi
mệnh lệnh của bề trên và góp
phần vào quá trình quyết định. Tông
huấn Kitô
hữu giáo dân (Christifideles laici), dành chương
ba bàn về trách nhiệm chung của giáo sĩ
và giáo dân đối với sứ mệnh
của Giáo Hội, dựa theo mẫu Giáo
Hội học hiệp thông. Tông huấn
viết: Trong sứ mệnh chung của Giáo
Hội, Chúa trao
phó một phần trách nhiệm lớn cho giáo
dân chu toàn, trong niềm hiệp thông với
hết thảy các thành phần khác của Dân
Thiên Chúa (số 32).
Mục
đích của việc trao phó như thế là
nhằm
xây
dựng những cộng đoàn giáo hội
trưởng
thành (số 34), tức biết tự mình
quyết định trong những gì thuộc
phạm
vi trách nhiệm của mình,
chứ
không phải chỉ biết ngồi chờ
chỉ thị của giáo phẩm. Sáng
kiến của giáo dân là yếu tố then
chốt cho tương lai của Giáo Hội.
Ắt là phải đổi mới cơ
cấu của các cộng đoàn ấy,
tức của giáo xứ, giáo phận và
cả giáo triều Rôma, làm sao để giáo
dân có thể
đảm
nhận trách nhiệm của mình như là
những kitô hữu trưởng
thành.
FABC
4 (Tokyo, 16-25 tháng 9, 1986) đã ý thức rõ
về việc ấy: Ba nguyên tắc về
hiệp thông, tập đoàn tính và đồng
trách nhiệm, mà Vaticano II đã nêu bật,
đòi hỏi phải xem xét lại các cơ
cấu của Giáo Hội...
Chủ
yếu là để tạo nên bầu khí thích
đáng cho tinh thần hiệp thông, tập
đoàn tính và trách nhiệm chung, ngõ hầu
giáo dân được chuẩn bị, tham gia
và hoạt động cách tích cực và
đầy đủ hơn (4.5.2) trong các
sinh
hoạt của Giáo Hội.
Thiết
nghĩ
mỗi
đơn
vị
(như
giáo xứ hay giáo phận) nên thử kiểm
điểm lại xem trong hơn hai mươi
năm qua, những gì đã thực sự
thay đổi và đưa giáo dân đến
chỗ góp phần tích cực và chủ động
vào trong tiến trình quyết định và
điều hành tại các Giáo Hội địa
phương. Qua điều
khoản 129, giáo luật giới định
quyền bính trong Giáo Hội như sau: 1
Quyền cai trị trong Giáo Hội là
do thiên định,
và cũng
được gọi là quyền tài phán.
Chủ thể có năng cách của quyền
ấy
là những người
có chức thánh,
chiếu theo qui
tắc
luật định. 2 Trong
việc hành sử quyền ấy, các giáo dân
có thể cộng tác theo qui tắc của
luật. Như
vậy, quyền tài phán không phải là độc
quyền của giáo
sĩ, bởi giáo dân được quyền
cộng tác, tức dùng quyền theo
luật. Tự
bản chất,
luật mang tính
tối thiểu; như thế, còn có
nhiều
lãnh
vực ngoại
luật,
trong đó,
giáo dân có
thể hành sử quyền quyết định
của mình như là những tín hữu trưởng
thành. Và lẽ dĩ nhiên, luật cũng có
thể thay đổi... Nguyên TẮc Phân NhiỆm
HoẶc
BỔ TrỢ Sách
Giáo lý Công giáo
lưu ý rằng: Theo nguyên tắc bổ
trợ, một tập thể lớn không có
quyền lấn át sáng kiến và trách nhiệm
của
các
cá
nhân
và các tổ chức nhỏ
(số
1894).
Nguyên tắc
bổ
trợ (subsidiarity
principle)
là nền
tảng của giáo lý công giáo về xã
hội.
[5] Ðược
Ðức Piô XI nêu lên trong thông điệp Quadragesimo
anno
(n. 1931),
Ðức Piô XII thường nhắc tới, và
Ðức Gioan XXIII dùng đến trong Mater
et magistra (n. 1961), nguyên tắc này xuất
hiện rõ ở trong công đồng Vaticanô
II (MV 86; GD 3; 6) cũng ở trong thông điệp
Centesimus
annus (n.
1991) của Ðức
Gioan Phaolô II:
Cần phải
bảo toàn nguyên tắc bổ trợ:
một tổ chức cấp trên không
được can thiệp vào nội vụ
của một tổ chức cấp dưới,
làm cho cấp dưới mất đi
chức năng riêng của mình, trái lại có
bổn phận ủng hộ nếu cần và
giúp phối hợp hoạt động
của cấp dưới với hoạt
động
của toàn
bộ
cộng đoàn xã
hội,
nhằm
xây
dựng công ích
(số 48). Nguyên tắc này đã trở thành
viên đá gốc của Cộng đồng
Châu Âu.
[6] Thuộc
lãnh vực triết lý xã hội, và theo cách
Giáo Hội hiểu là luật tự nhiên,
nguyên
tắc bổ
trợ phải được áp dụng trong
mọi lãnh vực sinh hoạt chính trị,
kinh tế, tôn giáo, v.v. Bàn về nhiệm
vụ của chính quyền, thánh Tôma tiến
sĩ nhận định rằng: Chính
quyền có bổn phận chỉnh đốn
những gì lộn xộn, bổ túc những
gì thiếu sót, và hoàn thiện những gì
khả năng cho phép làm cho tốt hơn.
[7] Xét theo ánh
sáng đức tin, nguồn gốc nhân
quyền là nhân phẩm của con người
đã được Thiên Chúa dựng nên
theo hình ảnh Người (x. St 1:26). Vaticanô
II lưu ý: Bao nhiêu
có thể, cần phải tôn trọng tự
do con người, và không được
giới hạn quyền tự do ấy
trừ trường hợp cần thiết
(TD 7). Giữa lòng Giáo Hội,
Chúa Thánh Thần
làm cho giáo dân ý thức được trách
nhiệm của họ cùng thúc
dục họ
phục vụ Ðức Kitô và Giáo Hội trong
mọi trường hợp (TÐ 1). Vì thế và
dĩ nhiên, nguyên tắc bổ trợ
phải được áp dụng trong
cuộc sống của Giáo Hội. Trong
một xã hội công bằng, nguyên tắc
bổ trợ đi đôi với nguyên
tắc liên đới hầu cổ vũ công
ích trong phạm vi địa phương, cũng
như trên bình diện quốc gia và quốc
tế. Trong đời sống Giáo Hội, hai
nguyên tắc này đồng hành sát cánh trong
tinh thần hiệp thông, làm cho tất cả
cá nhân và tập thể cộng tác để
thực hiện sứ mệnh chung, ngõ
hầu vinh quang Chúa được cả sáng
rạng ngời hơn,
và ơn cứu
độ được tỏa rộng đến
với nhiều linh hồn hơn. Trong Giáo
Hội,
có một
trật
bậc tổ
chức
truyền
thống được hiểu
là
thiên
định;
thế
mà
trong
đó
tối thượng quyền của giám
mục Rôma thường
để các thượng phụ khác tự
do quyết định mọi sự trong lãnh
vực thẩm quyền của họ, và cũng
ứng xử như thế đối với
các cấp thấp hơn, như các đấng
bản quyền giáo tỉnh, giáo phận;
rồi cách ứng xử tương tự
lại được áp dụng cho các
cấp khác, như giáo xứ, v.v... Ðành là
cả Giáo Hội
lẫn
Nhà
nước đều
bị lôi kéo đi vào con đường
tập quyền tối đa với cơ nguy
trở thành chế độ cực
quyền. Nỗ lực cải cách của
Vaticanô II là phần lớn nhằm tới
việc phân quyền, tức chia gánh nặng
của giáo triều và chuyển trách
nhiệm cho các thẩm quyền cấp dưới;
nỗ lực ấy đã thành công hay
thất bại là một chuyện khác. Nhưng
nếu đã đòi xã hội trần
thế vốn dựa theo quan hệ quân
thần áp dụng nguyên tắc bổ
trợ, tất Giáo Hội dựa theo quan
hệ huynh đệ mà cũng phải áp
dụng nguyên tắc ấy vào trong cơ
chế và cách thức điều hành của
chính mình. Chế độ bổ trợ
giả thiết là những quyết định
phải được bắt đầu
từ những tầng lớp thấp
nhất (tức giáo dân), và các thẩm
quyền cao hơn chỉ can thiệp khi
cần. Bởi vậy,
trước
hết cần phải định giới rõ
các lãnh vực thẩm quyền; rồi
tiếp đến cần phải tiến hành
đúng theo thứ trật và vì công ích:
cấp trên để
cấp
dưới
tự do hoạt động trong phạm
vi trách nhiệm
của mình, giúp cho họ có khả năng
thi hành nhiệm vụ và thay thế khi vì
một lý do nào đó họ
không thể
tiến hành công tác; còn cấp dưới
thì lo
phát huy
sáng kiến,
sẵn sàng đón
nhận ý kiến cùng sự trợ lực
của bề trên, và hăng say thi hành
phận vụ thường nhật, tiếp
tay với cấp trên khi họ cần. Ðặc
biệt, Giáo Hội áp dụng nguyên tắc này
vào các lãnh vực
giáo dục, xã
hội và kinh tế,
trong mỗi nước
cũng như trên bình diện quốc tế.
Ðiều này giả thiết là phải
biết tin tưởng lẫn nhau. Tinh ThẦn CỦa ThỜi ĐẠi Nếu
thời xưa, giáo dân đã giữ thái
độ thụ động, thì điều
đó có thể hiểu được; nhưng
nếu ngày nay mà còn như thế thì không
thể nào
chấp nhận được.
Thứ nhất là
vì nhiều giáo dân đã đạt đến
mức hiểu biết cao; cả trong lãnh
vực triết thần, có khi giáo dân đạt
đến những mức chuyên môn cao hơn
giáo sĩ; còn trong các ngành khoa học khác thì
khỏi cần phải nói. Thứ đến
là vì
kinh nghiệm xã hội họ có:
giáo dân thường
giữ những chức vụ rất cao trong
các ngành hành chánh của nhà nước
hoặc của những tổ chức tư
khác, như công ty, nghiệp đoàn,
trường
học,
v.v. Thứ ba
là
vì thời nay
là thời đại
của trào lưu dân chủ và tham gia, tham gia
của hết mọi tầng lớp trong xã
hội và Giáo Hội cũng là một xã
hội! Các lý do vừa nêu cho thấy rất
rõ dấu chỉ thời đại, tức là
điều Thần Khí muốn nói với Giáo
Hội nhằm tới việc xây dựng cho
hiện tại và chuẩn bị cho tương
lai. FABC VI
(1995) đã kêu gọi xây dựng một
chế độ tham gia
dân chủ, một thể dạng chính
trị nhân đạo và một xã hội
công bằng, an bình cho mọi nơi (số
7). Chắc hẳn Giáo Hội không thể
đứng ngoài lề, bởi không thể
khuyến khích người khác làm một
điều chính mình không làm! Thế nên, các
giới cấp trong Giáo Hội, từ giáo
triều trung ương cho đến các
họ đạo địa phương
phải nêu cho thế gian thấy được
một xã hội tham gia là như thế nào.
Hẳn là loài người không có quyền
thay đổi
cơ chế
thần
quyền
cố
định
với phẩm trật ba bậc trong Hội
thánh. Tuy nhiên, cũng còn có thần luật
phúc âm dựa trên lời Ðức Giêsu:
những người làm lớn giữa
thế gian thì áp đặt trên dân chúng
quyền hành của họ; nhưng giữa
anh chị em trong Giáo Hội thì không phải
như vậy, và ngược lại, ai đứng
đầu thì
phải phục vụ mọi người (x.
Mt
20:25;
Mc
10:42), bởi
tất cả đều là anh chị em
với nhau (x. Mt 23:8). Các giám mục Châu Á
đã nhiều lần nói đến sự
cần thiết phải đổi mới các
cơ cấu trong Giáo Hội.
[8] Chắc
hẳn không phải là vứt bỏ đi
thể chế giáo sĩ-giáo dân theo như
chủ trương quá giản dị của
một số người song là thực thi
tinh thần phúc âm trong mọi bình diện và
mọi lãnh vực cũng như trong mọi
thừa tác vụ, thế nào để
những thủ lãnh thực sự trở thành
tôi tớ và để giáo dân thi hành trách
nhiệm nơi những hội nhóm hoặc
tổ chức khác nhau trong Giáo Hội. Thể
chế giáo
phẩm thường được quan
niệm như là chế độ quân
chủ. Giáo Hội có thể chọn lối
sinh hoạt theo thể chế dân chủ không?
Trên nguyên tắc thì có thể; nhưng
sẽ là một dạng dân chủ đặc
biệt. Thực ra, từ dân chủ mang
những ý nghĩa khác nhau tùy theo cách
hiểu theo thời xưa hay thời nay. Trước
hết, cần lưu ý: quyền bính,
hoặc exousia,
trong Giáo Hội không phát sinh từ các thành
viên trong cộng đồng, song là từ Ðức
Kitô; và thứ đến, Giáo Hội không
chỉ là một xã hội
(Dân Chúa)
mà
còn là một Bí
tích, một
thể chế do Ðức Kitô thiết
lập. Trong dòng
lịch sử,
Giáo Hội đã
mặc lấy nhiều dạng cơ cấu mượn
từ xã hội chính trị, như thấy
trong cách tổ chức các địa phận
và giáo xứ, chẳng hạn. Suốt
nhiều thế kỷ, các hoàng đế kitô
(nhất là bên Ðông phương) đã
giữ quyền bổ
nhiệm và bãi
chức các giám mục.
Chẳng thế mà
Giáo Hội đã thực sự sống qua
một cuộc giải phóng lớn, khi Ðức
Grêgôriô VII giành lại được
quyền ấy và dành riêng nó cho một mình
giám mục Rôma (thế kỷ
11).
Tuy nhiên, sau đó
các vua vẫn còn giữ một vai trò hơn
kém tùy chế độ trong viêbổ
nhiệm
ấy.
Ðồng thời,
lịch sử Giáo
Hội thời xưa cũng cho thấy dân Chúa
tích cực dự phần vào việc
tuyển chọn giám mục, vào trong các công
đồng, nhất là những khi cần
phải quyết định chính sách chung.
Theo Cv 6:3-7, 1Tm 3:7, Clêmentê 44.3, v.v., Giáo Hội
đã giữ đúng nguyên tắc sau đây
của luật khoa
Rôma: Những gì ảnh hưởng đến
tất cả, thì tất cả phải
dự phần bàn luận và phê chuẩn,
[9] đến
độ châm ngôn này đã được
đưa vào giáo luật thời Trung cổ.
Trong
việc chọn giám mục hoặc cha sở,
giáo dân thời xưa
được quyền can thiệp chẳng
hạn như đề cử hoặc gạt
bỏ các ứng viên
nhưng chỉ giáo sĩ mới có quyền
tuyển chọn. Giáo dân không có quyền
cứ luật để quyết định,
nhưng có một thứ quyền mạnh hơn
là sức mạnh hiệp thông, vì đối
với giới lãnh đạo trong Hội Thánh,
hiệp thông là bổn phận quan trọng hơn
cả pháp luật, như Ðức Xêléxtinô I
đã nhận định qua câu nói nổi
tiếng sau đây: Nullus
invitis detur episcopus, Ðừng bổ nhiệm
vào chức giám mục người người
ta không muốn (PL
50.434). Ngày xưa, nghi thức phụng vụ
phong chức rất chú ý đến quyền
này của giáo dân; ngày nay, chỉ còn
đơn thuần là một nghi thức! Ðấy
là một điểm cần được
thay đổi. Còn đối với dự
phần vào trong các công đồng, hội
đồng, hội nghị, v.v. giáo dân đã
và vẫn còn tiếp tục đóng góp
phần mình trong tư cách là cố vấn,
chuyên viên,
học giả uyên bác, v.v. Không khi nào giáo dân
dự phần qua việc bỏ phiếu: dù có
triệu tập công đồng thì các hoàng
đế cũng không bao giờ bỏ
phiếu. Còn
một lý do khác, không kém quan trọng, đòi
giáo dân phải tham dự tích cực hơn vào
trong tổ chức và sinh hoạt của Giáo
Hội, đó là để thái độ
cởi mở minh bạch nói lên sự
thật và lòng thành thực trong mọi
sự hiện rõ trước mắt mọi
người như đáng phải có và như
dư luận thường đòi hỏi trong
sinh hoạt của một tổ chức công
cộng. Giáo Hội đã bị nghi kỵ và
hiểu lầm vì giữ bí mật quá kỹ
về quá nhiều điều, bởi các
chế độ độc quyền thường
làm như thế. Nếu để giáo dân
đảm trách những vai trò chủ yếu
hơn trong cơ cấu và các bộ phận
hành chánh của Giáo Hội, nếu việc bàn
luận và quyết định các
sự
việc
diễn ra
đường
đường hơn,
thì việc hướng
dẫn dân Chúa sẽ trở nên dễ dàng hơn
cho hàng giáo phẩm, và đồng thời,
cảm tưởng tiêu cực kia cũng
sẽ tan biến dần đi. Ðối
với công
tác đại
kết,
hình ảnh
mới mẻ
và trong suốt này
của Giáo Hội quả là một yếu
tố đóng góp thực sự tích cực và
hữu hiệu. Giáo Dân Trong Giáo TriỀu Rôma và
Các PhỦ Giáo PhẬn Giáo
luật công nhận giáo dân có thể giữ
một số
chức vụ luật pháp trong Giáo Hội.
Trong Giáo triều Rôma, dễ nhận ra
nhất là sở an ninh của Tòa thánh,
tức biệt đội lính Thụy sĩ
gồm toàn giáo dân trừ vị tuyên úy
hoặc các nhân viên truyền thông đại
chúng mà đại đa số cũng đều
là giáo dân. Trong tòa án,
thì có luật sư,
chưởng ấn và lục sự. Quan tòa
duy nhất
của lãnh địa Vaticanô là một giáo dân,
và toàn bộ luật sư cũng đều
là giáo
dân; rồi Chủ tịch của Hàn Lâm
Viện Khoa Học Tòa thánh cũng là một
giáo dân. Ngoài ra, còn có nhiều giáo dân
phục vụ trong các Bộ của Tòa thánh
và các Hội đồng Giáo hoàng. Hiện các
chủ tịch của hai Hội đồng
Giáo dân và Gia đình đều là hồng y;
nhưng, xét cho cùng thì cũng có thể
bổ nhiệm giáo dân được
chọn giữa những bậc làm cha làm
mẹ vào các chức vụ đó? Còn trong các
Giáo Hội địa phương, tại
phủ giáo phận, thì giáo dân có thể
đảm nhiệm phận vụ chưởng
ấn (đ 483.2), lục sự (đ 483.2) và
biện lý của giáo phận (đ 494); có
thể làm thẩm phán
trong một tòa án
tập đoàn (đ 1431.2), cố vấn
thẩm phán (đ 1424),
chưởng lý
và bảo hệ
viên (đ 1435); có
thể làm kiểm toán
viên
(đ
1428.2)
và thụ
ủy (đ 1483).
Sự hiện diện của giáo dân trong các
nhiệm vụ vừa kể chắc chắn
sẽ thay đổi hình ảnh dư
luận thường có về Giáo Hội. Giáo
Hội khuyên các giám mục nên đặt giáo
dân vào các chức vụ nói trên, theo điều
228, trong tinh thần hiệp thông và tham gia. Giáo
phủ có nhiều phận vụ giáo dân có
thể đảm trách,
chẳng hạn
như giữ vai thư ký, quản lý, chủ
tịch của các hội đồng, trưởng
lễ nghi, phụ trách việc xuất
bản, lưu trữ viên, thư viện trưởng,
đại diện giám mục hoặc cha
sở để giàn xết các cuộc tranh cãi
trong cộng đoàn hoặc với người
ngoài, v.v. Các HỘi ĐỒng Giáo PhẬn
Và Giáo XỨ Giáo
luật đòi phải có những hội
đồng khác nhau, chuyên trách về các lãnh
vực khác nhau, như hành chánh, mục
vụ, phụng vụ, v.v. Ðiều 492 §1 ghi
rằng: Trong mỗi giáo phận, phải
thiết lập một Hội đồng kinh
tế, do chính giám mục giáo phận
hoặc một người được
ủy nhiệm làm chủ tịch và gồm
ít nhất là ba tín hữu do giám mục
bổ nhiệm: cần phải là những người
thành thạo về kinh tế và về dân
luật, và thanh liêm. Như vậy, luật
định là phải có ít
nhất ba giáo dân làm thành viên, và vị
chủ tịch cũng có
thể là một giáo dân. Theo đ. 494,
Quản lý của điạ phận có
thể là một giáo dân. Lịch sử
đã dạy nhiều bài học đáng
buồn về điểm này, vì thế Giáo
Hội tỏ ra rất thận trọng. Hội
đồng
mục
vụ
phải gồm có những thành viên giáo
dân, được lựa chọn cách nào
để có thể phản ảnh được
phần dân Chúa cấu tạo thành giáo
phận, dựa vào các khu vực khác nhau
của giáo phận, các điều kiện xã
hội và nghề nghiệp, và cả tới
phần vụ mà các tín hữu đóng góp
trong hoạt động tông đồ
hoặc với tư cách cá nhân hoặc liên
hiệp với những người khác (đ.
512 §2). Hội đồng này chỉ có
quyền tư vấn (đ 514 §1). Các giáo
xứ cũng có thể có hội đồng
mục vụ (đ. 536) và kinh tế (đ.
537), với tư cách tương tự như
ở cấp địa phận. Trong các
hội đồng này, giáo dân có thể có
ảnh hưởng lớn, bởi giám
mục hoặc cha sở có bổn phận
lắng nghe tiếng nói của
họ.
Còn
trong họ đạo
thì giáo dân có thể phối trí các công tác
tông đồ dưới quyền chỉ
đạo của cha xứ, và nếu không có
linh mục, môﴠgiáo dân có thể phụ
trách cả họ đạo (đ 517.2); và dĩ
nhiên, để lo về các việc đòi
hỏi chức thánh thì phải có một linh
mục. Giáo Hội khuyến khích giáo dân tham
gia vào các hội đồng này; tông huấn
Christifideles laici
nhận định rằng: Việc các giáo dân
tham gia vào các hội đồng cố
vấn sẽ giúp cho tiến trình tham khảo
cũng như nguyên tắc hợp tác mà trong
một số trường hợp có thể
bao gồm cả những thể thức để
lấy quyết định
được áp dụng cách rộng rãi
và kiên định hơn
(số 25).
Giáo
Hội Châu Á
cũng mạnh mẽ thúc dục hợp tác:
Là nhu cầu đặc biệt thiết
yếu việc cổ vũ giáo dân và
những người sống đời
tận hiến (tu
sĩ) ra sức
tham gia nhiều hơn
trong việc
thiết đặt
các kế hoạch mục
vụ và trong
thể thức đưa tới những
quyết định qua các cơ cấu tham
gia như hội đồng mục vụ và
các hiệp
hội của giáo
xứ
(số 25).
Mục đích là để giáo dân ý
thức rõ rằng Giáo Hội chính là của
mình chứ không phải của riêng
các giáo sĩ, và
để trong Giáo Hội, giáo sĩ biết
tránh thái độ cư xử như là
chủ nhân ông, song như là người
quản lý, ý thức rằng nếu biết
tận dụng các tài năng của giáo dân
thì tác vụ chăm lo cho các linh hồn và
quản lý tài sản của Giáo Hội
sẽ hữu hiệu hơn.
[10] Trong
nhiều nước, giáo dân đã đáp
ứng tích cực lời mời gọi
của giáo phẩm để hợp tác vào
trong các tổ chức của giáo
xứ và các cơ chế của Giáo Hội;
chỉ tại Hoa
kỳ
không thôi,
hiện có hơn
180 ngàn thủ lãnh
giáo dân (lay
leaders) làm việc trong Giáo Hội.
[11] Tại
một vài Giáo Hội địa phương,
thấy
có một sáng
kiến mới gọi là giáo dân mục
tử (lay pastors):
họ quy tụ thành hội để
hợp tác với các linh mục, trong việc
giữ liên
hệ với từng tín hữu một trong
xứ đạo, nhất là với các tín
hữu không đi nhà thờ và với lương
dân.
[12] Theo giáo
luật (đ. 231.2), Giáo Hội có bổn
phận thù lao cho họ hệt như cho các
giáo sĩ phụ trách một thừa tác
vụ. NhỮng TỔ ChỨc TrẦn
Th Trong Giáo
Hội, giáo dân cũng có thể thành lập
và điều khiển những tổ
chức nhằm tới những mục đích
khác nhau. Theo giáo luật: Các tín hữu có
quyền tự do thiết lập và điều
khiển các hiệp hội nhằm mục
đích từ thiện hoặc đạo
đức... (đ. 215). Những tổ
chức này rất khác nhau: có thể là Caritas
hay Legio,
hoặc những
đoàn thể địa phương,
quốc gia hay quốc tế, như đã
thấy ở trên. Nếu công khai mang danh
hiệu công giáo hoặc Giáo Hội thì
phải chấp nhận sự giám sát (ít là
tổng quát) của giáo phẩm; mà cũng có
thể thành lập một tổ chức hoàn
toàn đôlập, nhất là với
chủ đích văn hóa, kinh tế hoặc
chính trị (như một đảng hay
một nghiệp đoàn). Tuy
nhiên,
vẫn
cần phải
giữ tinh thần
kitô.
Công đồng
mong rằng: Trong khi cộng tác với hàng Giáo
phẩm theo thể thức riêng
của mình,
người
giáo dân đảm
nhận trách nhiệm và đem kinh nghiệm
riêng để điều hành các tổ
chức như thế, để tìm những
điều kiện thích hợp cho hoạt
động mục vụ của Giáo Hội cũng
như để soạn thảo và theo đuổi
một chương trình
hành động sáng
suốt
(TÐ
20d).
Giáo Hội
muốn thấy
rằng không thụ động ngồi
chờ lệnh công tác từ giám mục
hoặc cha sở, giáo dân tự động
đề xuất sáng kiến và dấn thân
vào việc, như các giám mục Châu Á đã
từng nói rõ: Việc mục
vụ
phải dành
chỗ nhiều hơn nữa cho sáng kiến
và quyền quyết định từ phía giáo
dân, cũng như phải biết đáp
ứng nhu cầu
thực tế
của dân chúng.
[13] Vì
sống ở
giữa môi trường dân chúng, giáo dân thường
ý thức rõ hơn về những nhu cầu
cụ thể, và nhận ra cũng như
đánh giá tức thời được
những trào lưu dư luận, những gì
quần
chúng cảm nghĩ
về Giáo Hội,
v.v.
để rồi
qua các tổ chức và hoạt động
nằm ngay giữa lòng thế sự, họ
nhanh chóng tìm ra cách thức ứng xử thích
đáng. Trong lãnh
vực thế trần, giáo dân có ưu
thế, vì đó là lãnh vực của
họ.
[14] Ðiểm này
sẽ được bàn thêm trong phần dưới.
Ở đây, chỉ xin nói về vai trò lãnh
đạo của giáo dân trong các công tác trên
đây, vai trò lãnh nhận từ thừa tác
vụ vương giả. Ðặc biệt, các
chuyên gia được mời gọi
thực ra là đặc ân
đầu tư tài năng của mình vào
trong những sáng kiến có ích lợi cả
cho Giáo Hội lẫn cho riêng họ: nghề
nghiệp phải trở thành
thừa
tác
vụ. Chức năng
vương giả
của giáo dân làm
cho họ tích cực
thông phần vào việc xây dựng Nước
Thiên Chúa (x. Evangelii
nuntiandi, số 70), và vì thế, họ có
quyền và bổn phận dùng sáng kiến
của mình cho mục đích ấy. Lãnh ĐẠo
Các CỘng Đoàn Cơ
BẢn Xuất
hiện ở Châu Mỹ Latinh, Phong trào Các
cộng đoàn cơ bản đã vén mở
cho thấy nhiều dấu chứng để
hy vọng vào Giáo Hội, nhất là vào các
Giáo Hội trẻ hoặc thiểu số. Ðặc
điểm của các cộng đoàn này là
ở chỗ giáo dân đóng giữ vai trò
chủ yếu.
[15] Thông điệp
Sứ mệnh Ðấng
Cứu độ (Redemptoris missio) nhận
thấy rằng các cộng đoàn cơ
bản này phải được
coi là một trong
những ưu tiên hàng đầu trong kế
hoạch mục
vụ của
nhiều hội đồng giám mục; thông
điệp định nghĩa cộng đoàn
cơ bản là một nhóm kitô hữu tụ
họp hoặc trong môi trường gia đình
hoặc trong một bối cảnh giới
hạn tương tự, để cầu
nguyện, đọc Kinh Thánh, học giáo lý,
bàn luận về các vấn đề xã
hội và Giáo Hội, ngõ hầu tích cực
dấn thân hoạt động. Các cộng
đoàn này là dấu hiệu sống động
giữa lòng Hội thánh, là khí cụ
huấn luyện và truyền giáo, và là
khởi điểm vững chắc cho một
xã hội mới dựng xây trên nền móng
của văn minh tình thương. Các
cộng đoàn này áp dụng
nguyên tắc phân
quyền và tổ chức giáo xứ theo phương
cách mới... Tín hữu sinh hoạt trong các
cộng đoàn cơ bản, có kinh nghiệm
sống về cộng đoàn, và vì thế
cảm thấy mình có bổn phận giữ
một vai trò tích cực cũng như
được thúc giục để dấn
thân hợp tác vào trong tác vụ chung (SMÐCÐ
51). Các giám
mục Châu Á
đã không
ngừng lên
tiếng cổ võ việc thành lập
các cộng đoàn
nhỏ này
với những tên
gọi khác nhau,
như: cộng đồng khu xóm, cộng
đoàn Giáo Hội, cộng đoàn cơ
bản, cộng
đoàn nhân
bản,
v.v.
[16] Như
thế,
các cộng đoàn
cơ bản quả là
môi trường sống động và
thuận lợi cho việc
giáo dân
thực thi
thừa tác
vụ của mình ở giữa
lòng Giáo Hội,
đặc biệt là vai trò lãnh đạo (leadership). Nói
về Giáo Hội tham gia là FABC nghĩ ngay
đến các cộng đoàn cơ bản này.
Sáng kiến tổ chức cộng đoàn có
thể phát sinh từ giáo sĩ hay từ giáo
dân, một cách có hệ thống hoặc
một cách tự phát. Nguời lãnh đạo
thường là giáo dân, hoặc vì là người
trong xóm, hoặc vì có uy thế trong nhóm,
hoặc vì là thủ lãnh sắc tộc, v.v.
Họ nhận trách nhiệm về sinh
hoạt cộng đoàn, về quan hệ
hiệp thông với giáo xứ và giáo
phận, về công tác đào tạo các
thừa tác viên, về việc thường
huấn cho các thành viên và hợp tác với
các cộng đoàn khác. Nguyên tắc phân
quyền được áp dụng tích
cực và hữu hiệu. Trong môi trường
như thế, các kitô hữu cảm thấy
một cách sống động mình thực
sự là phần tử của Giáo Hội, mình
là Giáo Hội, và vì thế, ai nấy đều
coi công việc của Giáo Hội là công
việc của mình. Có thế, Giáo Hội
mới là cộng đồng của
các cộng
đồng,
mới thực là
Giáo Hội tham
gia và chức năng tư tế vương
giả của các tín hữu mới được
hành sử thực sự. [1]
Về
quyền vương giả của giáo dân,
xin xem Y. Congar, Jalons
pour une théologie du lạcat,
Paris: Cerf 19542 chương V, tt.
314-366. [2]
Léon-Joseph
Card. Suenens, Corresponsibility
in the Church, Herder & Herder 1968. [3]
Tổng công
hội Dòng Tên 34, Sắc lệnh 11, số
8. [4]
Xin xem
phần II, C, 6, bản văn trong mạng
http://library.saint-mike.org/Synod_Bishops/
Final_Report1985.html. [5]
Gutiérrez
García, José Luis, Introducción
a la doctrina social de la Iglesia, ed. Ariel, Barcelona
2001, 520 trang. [6]
Follesdal,
Andreas, Subsidiarity,
Journal of Political
Philosophy, 6 (1998) 231-259; Gregory R. Beabout, The
Principle of Subsidiarity and Freedom in the Family, Church,
Market and Government, Markets
and Morality, Oct 1998. [7]
De
regno, I, ch. XV. [8]
We
must evolve participative Church structures in order to use
the personal talents and skills of lay women and men (FABC
7, I. A.6, năm 2000).
We cannot
effectively promote our Christian vision of full life unless
the Church as a communion of communities will credibly
expend its moral and spiritual energies to the conversion of
mentalities, the transformation of structures (FABC 6, năm
1995, số 15.2). That the Church, consistent with its
social doctrine, investigate and remove from within its own
structures and practices whatever obstructs human rights and
justice (FABC 5, năm 1990, số 7.3.2.1).
The principles of
communion, collegiality, and coresponsibility stressed by
Vatican II demand that we re-examine our ecclesial
structures with respect to their purpose and thrust and
reorganize them to yield optimum benefit. The renewal of
inner ecclesial structures does not consist only in
strengthening and multiplying the existing parochial and
diocesan organizations, nor in creating new ones. It
consists in creating the right atmosphere of communion,
collegiality and coresponsibility for an active and fuller
lay initiation, participation and action. (FABC
4, năm 1986, 4.5.2). [9]
Xin
xem Yves Congar, Quod
omnes tangit ab omnibus tractari et approbari debet,
Revue
Historique de Droit Fran硩s et Étranger, 36
(1958) 210-259. [10]
Christifideles
laici, 33; xin xem Giáo luật, điều
537. [11]
Xin xem Dr. Zeni
Fox, Laity in
Leadership Roles in the Church in the United
States
Today:
A
Theological and
Pastoral Overview,
Washington: FADICA 2000. [12]
Xin
xem http://www.laypastorsociety.org. [13]
FABC 4, số
4.6.2. [14]
Xin
xem G.
Chantraine, Les
lạcs,
chrétiens dans le monde, Paris:
Fayard 1987. [15]
Về
chủ đề này, xin xem Clark,
Stephen B., Building Christian Communities: Strategy for
Renewing the Church. Ave Maria Press, Notre Dame,
Indiana, 1972; Thomas
A. Kleissler, Mary C. McGuinness, Margo A. Lebert,
Small
Christian Communities:
A Vision of Hope for the 21st Century,
Paulist Press 1997. [16]
Trong tiếng
Anh: NCs (neighborhood communities), BCCs (Basic Christian
communities), BECs (Basic ecclesial communities), SCCs
(Small Christian communities)...
|