|
V
Trong phần
này, xin bàn cách riêng về các thừa tác vụ
phát sinh từ “đoàn sủng tiên tri,” nhận
được trong Phép Rửa. Quả vậy, chịu Phép Rửa
là kitô hữu được thông phần vào sứ mệnh
“tiên tri” của Ðức Kitô. Ðức Kitô, “Tiên
tri và Thầy dạy,”
như
Christifideles
Laici
đã nhắc lại, đã “tuyên bố
vương quyền của Chúa Cha qua chứng cứ đời
sống và quyền bính của lời Ngài. Vì thông
phần vào sứ mệnh ấy, giáo dân nhận được
khả năng cùng trách nhiệm đón nhận Tin mừng
với cả lòng tin, để dùng lời nói và việc
làm mà tuyên bố Tin mừng ấy, không chút do
dự đem hết can đảm mà nhận dạng và tố cáo
sự dữ. Hiệp nhất
với Ðức Kitô, Vị ‘Tiên tri lớn’ (Lc 7:16),
và được Thần Khí làm cho nên ‘chứng nhân’
của Ðức Kitô phục sinh, giáo dân dự phần
vào cảm thức đức tin siêu nhiên của Giáo
Hội – ‘để một khi tin thì chẳng có thể sai
lầm’ – và
vào ‘ơn lời nói’ (x. Cv 2:17-18; Kh 19:10)” (số 14). Nói cách khác: vì là tín hữu, giáo
dân có năng quyền
giảng dạy trong Giáo Hội. Ðã từ
rất lâu, trong Giáo Hội, thường nghe nói về “Giáo
Hội chủ huấn” và “Giáo Hội thụ huấn.”
Lối phân biệt ấy đã khiến giáo dân, nói
chung, giữ thái độ thụ động. Hẳn là cách
phân biệt ấy – ecclesia docens, tức giáo phẩm, và ecclesia discens, tức các giáo hữu khác – mang một
ý nghĩa tích cực hơn: trong Giáo Hội, “nhiệm
vụ giáo huấn” là duy nhất và là của
Giáo Hội toàn
thể (x.
Giáo luật, đđ
747tt), nhưng lại được chia sẻ cho mọi phần tử
theo “giai trật,” tức tùy cương vị của từng
chi thể: đứng đầu là tín hữu số một, tức
giáo hoàng – ngài được đặc ân giáo huấn
bất khả ngộ (đ. 749 §1) – sau đó là đoàn
thể các giám mục
– các vị cũng hưởng đặc ân này trong tư thế
là tổng thể (đ. 749 §2) – và tiếp đến là
các chi thể khác với phần riêng của mình trong
sứ mệnh chung ấy. Giáo luật nói rằng
hệ quả đầu tiên của quyền ấy là rao giảng Tin
Mừng, cũng theo giai trật: trước tiên là giáo
hoàng (đ. 756 §1), và cuối
cùng là
các giáo dân (đ. 759). Như thế nghĩa
là giáo
dân có bổn phận
thi hành nhiệm vụ giáo huấn của mình trong Giáo
Hội, ý thức đó là quyền hạn mà đức tin
và các bí tích Rửa tội cùng Thêm sức trao
phó cho. Về
nhiệm vụ này – qua FABC 4 (Tokyo 1986) – Giáo Hội
Châu Á đã bình luận như sau: “Không thể nào
sứ mệnh tiên tri của Giáo Hội lại bị giới
hạn vào trong phạm vi chức năng giáo huấn của
giáo phẩm... cần phải lắng nghe Dân Chúa và tham
khảo ý kiến của họ để nhận ra tinh thần và
khôn ngoan của Thiên Chúa ở dân chúng, đăïc
biệt là trong lãnh vực đời sống trần thế
của họ và trong những vấn đề liên hệ”
(4.4.3). Nghĩa là
các giám mục chấp
nhận sự
giáo huấn của giáo dân,
ý thức rằng trong rất nhiều lãnh vực xã
hội, giáo dân biết rõ tình trạng và vấn đề
hơn hẳn mình. Trong các kỳ đại hội của FABC,
bao giờ cũng có
các “thủ lãnh giáo dân” (lay
leaders) tham dự và tham dự một cách tích
cực; nhiều văn kiện (Papers) của FABC là do
chính giáo dân biên soạn. phỤc
vỤ đỨc tin Kho tàng
đức tin bao gồm cả tín điều lẫn lòng tin; Giáo
Hội có bổn phận gìn giữ và chuyển thông nội
dung kho tàng ấy cho các thế hệ. Chủ thể của
việc chuyển thông này là Hội thánh toàn thể,
mà giáo dân không chỉ là đa số nhưng còn là
yếu tố quan trọng nhất, bởi đại đa số các
tín hữu công giáo đã tiếp nhận đức tin từ
cha mẹ. Khí cụ đặc thù của nhiệm vụ này là
lời nói: “Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà
nghe giảng là nghe công bố lời Ðức Kitô” (Rm
10:17). Lời Chúa được giảng trước tiên ở
trong “Giáo Hội tại gia” – để dùng cách
Vaticanô II gọi các gia đình công giáo (GH 11b) –
cha mẹ thi hành sứ mệnh giáo huấn cơ bản trong
Hội thánh. Tông huấn Christifideles
laici nói rằng: “Là ‘Giáo Hội tại gia,’
gia đình kitô
cũng là trường
học tự nhiên và cơ bản, để đào tạo tín
hữu: qua bí tích hôn phối, cha mẹ đã lãnh nhận
ơn trợ giúp và thừa tác vụ để giáo dục con
cái trong đức tin kitô; họ làm chứng và
chuyển thông cho con cái những giá trị nhân bản
và tôn giáo. Khi học nói lời đầu, các con em
cũng học biết những lời ca tụng Chúa, Ðấng
mà chúng cảm thấy gần gũi như một người Cha
đầy yêu thương săn đón. Khi học làm cử chỉ
tình thương đầu tiên, các em cũng học biết
cách mở lòng mình ra cho người khác, và khi
học biết trao ban chính mình là các em biết về
thế giới loài người. Chính đời sống thường
nhật của
gia đình công giáo
sẽ làm nẩy sinh kinh nghiệm đầu tiên về Giáo
Hội” (số 62). Ðã đến lúc phải nhìn nhận và
nêu bật vai trò chủ yếu này của gia đình –
đặc biệt là của người mẹ –; khen suông
không đủ, cần phải có hành động cụ thể.
Suốt nhiều thế kỷ, Kitô giáo đã dần dần
trở thành một tôn giáo “quy giáo sĩ” với
lối sống đạo tập trung cả vào giáo xứ. Lịch
sử cho thấy Kitô giáo đã thất bại trong các
xã hội sống rải
rác hoặc du mục. Bởi lệ thuộc quá nhiều vào
giáo sĩ và nhà
thờ, Kitô giáo đã biến mất ở Trung Á sau
thế kỷ 14. Nếu thật sự xác tín gia đình là “Giáo
Hội tại gia” thì phải sáng tạo những nghi
thức thích hợp cho Giáo Hội ấy, chẳng hạn:
phải dồn
vào việc đào tạo
“hàng tư tế” (cha mẹ) ấy những
phương tiện – nếu không nhiều hơn, thì – ít
nhất là bằng số phương tiện dành cho việc huấn
luyện các thừa tác viên chức thánh; phải nhìn
nhận giá trị hợp pháp của các nghi thức tại
gia đối với việc giữ ngày Chúa nhật; phải
đưa đại diện của các bậc làm cha làm mẹ
công giáo vào các hội đồng mục vụ và kinh
tế của địa phần và của xứ đạo, v.v. Thử nhìn
qua về giáo huấn hấp thụ từ trong gia đình. Ða
số trong loài người, cả khi tuổi đã lớn và
cho đến chết, vẫn giữ còn ghi khắc sâu, bền
trong tâm khảm những lời khuyên, những lẽ
khôn, những nguyên tắc luân lý mẹ đã dạy
lúc còn thơ ấu. Huấn quyền ấy phát sinh từ
cảm thức đức tin, được Hiến chế tín lý về
Giáo Hội của Vaticanô II xác nhận là có tính
cách bất khả ngộ (x. GH 12). Thế mà từ nhiều
thế hệ nay,
huấn quyền của giáo phẩm và lòng vững tin của
đại đa số gia đình tín hữu làm như vẫn còn
ở trong tình trạng phân ly gián cách. Phải chăng
là vì giáo phẩm đã không lưu ý đủ đến ý
kiến của giáo dân? Năm 1859, John Henry Newman đã
khôn ngoan đề nghị là giáo phẩm nên hỏi ý
kiến của giáo dân ngay cả trong vấn đề giáo
lý;
[1]
nhưng rồi chẳng
ai nghe theo. Hẳn đã đến lúc ngành luân lý về
gia đình phải biết chú tâm lắng nghe các gia
đình công giáo. Giáo
dân
với
giáo huấn về đức
tin. Quan
hệ giữa cảm thức đức
tin của dân Chúa
và đoàn sủng giáo huấn của giáo phẩm là quan
hệ giữa hai chức năng trong cùng một cơ thể:
nội dung và mục đích chỉ là một. Nếu giáo
huấn tối cao có ơn bất khả ngộ thì chính là
để định tín nội dung của niềm tin dân Chúa.
Thánh Thần không mạc khải riêng cho giáo huấn
ấy một điều gì mới khác, song chỉ để trợ
giúp cho quá trình khám phá và định giới nội
dung của đức tin cổ truyền trong dân Thiên Chúa.
Thần học xác định rằng giáo dân credendo docent: họ dạy khi tin. Lịch sử cho biết nhiều
lúc giáo phẩm bị
lay chuyển trong khi
giáo dân vẫn vững chắc trong đức tin, như trong
thời lạc giáo Ariô (thế kỷ 4-5) hay trong gian
đoạn khủng hoảng vì chủ hướng Gallican (Gallicanisme)
ở Pháp (thế kỷ18-19). Hai tín điều mới về
Ðức Mẹ vô nhiễm và về Ðức
Mẹ
hồn xác lên
trời
là
kết quả của
việc
lòng tin dân Chúa
soi sáng cho thấy chân lý trong kho tàng đức tin.
Công đồng Vaticanô I dạy rằng trước khi định
tín một chân lý đức tin, Ðức Giáo Hoàng có
bổn phận phải nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc
biệt là về “ý kiến của Giáo Hội rải rác
trong khắp hoàn cầu” (DS 3069), như chính cả Ðức
Piô IX lẫn Ðức Piô XII đã làm. Vì vậy, giáo
dân có bổn phận học hỏi giáo lý cho thấu
đáo để biết rõ về những điều mình tin và
sống đạo với một niềm tin kiên vững. Giáo
huấn đức tin tỏ
hiện đặc
biệt khi các tín
hữu sống đức tin bằng việc làm, tức là làm
sao để thái độ, cử chỉ, lời nói
và việc làm, nhất
là việc làm chuyên môn, của người
tín hữu thấm nhuần sâu đậm tinh thần phúc âm:
nhà báo kitô viết bài theo đạo lý kitô, chính
trị gia kitô đưa dẫn xã hội đi theo các nguyên
tắc kitô, chủ công nghiệp, luật sư, sĩ quan, bác
sĩ, v.v. thì cũng vậy; không cần phải làm điều
gì đặc biệt, chỉ cần chu tất cho hoàn hảo
những gì thuộc bổn phận của mình. Nếu có khả năng
thì đem ra dùng để làm cho đức tin tỏa sáng,
như một Maurice Blondel, một Jacques Maritain, một
Christopher Dawson, v.v.; hoặc để miêu trình sinh hoạt
của đời sống kitô giáo đích thực, như các
thiên tiểu thuyết của George Bernanos, Endo Shusaku,
như thơ của Hàn Mặc Tử, v.v. Còn có trường
hợp đặc biệt của các nghệ sĩ: họ dạy, họ
giảng về đức tin qua các tác phẩm nghệ thuật;
bao nhiều người “thấy” được vẻ cao đẹp
trong Kitô giáo qua các tác phẩm hội họa và
điêu khắc của Michelangêlô, hoặc “nghe”
được Phúc âm trong âm nhạc của J.S. Bach.
Những cử chỉ thường nhật đã hóa thành
những “bài giảng.” Như được thuật lại thì
có lần thánh Phanxicô Assisi đã đề nghị với
một tu sĩ trẻ: “Nào chúng ta đi giảng một vòng
đi.” Cả hai đi qua đi lại mấy vòng ngoài
đường phố, không nói nên một nửa lời, rồi
trở về nhà. Tu sĩ trẻ hỏi: “Thầy Phanxicô,
thầy quên không giảng hay sao?” Phanxicô trả
lời: “Chúng ta đã giảng, giảng Tin Mừng cơ
mà!” Sống bác ái, khiêm hạ, phục vụ... là
rao giảng. Ðã là thánh, thì dĩ nhiên mọi cử
chỉ đều là lời giảng, đều là giáo huấn.
Hồi cuối thế kỷ trước, mẹ Têrêxa Calcutta
đã diễn giải Kitô giáo một cách dễ hiểu và
hữu hiệu nhất. Trong cuốn Ðon Quijote,
Cervantes viết: “Ai sống tốt ấy là kẻ giảng hay.” nhỮng
cách giáo huẤn minh nhiên Ngày xưa,
trong Giáo Hội, nhiều giáo dân đã giữ phận
vụ giảng dạy thần học. Nổi tiếng nhất là
Giuxtinô, Clêmentê, Téctullianô, Ôrigênê...
tiếp sau đó đã có Lactantius, Prospêrô
Aquitanô...
[2]
Bên Ðông
phương thì có Sôdômênô, Êvagriô
Scôlasticô... Một số giáo phụ đã bắt đầu
giảng dạy thần học khi còn là giáo dân, như
thánh Badiliô, Grêgôriô Nadiăndô, Hiêrônimô,
Paulinô de Nôla, và cả thánh Âugutinô. Còn
thời Trung cổ thì có Hugô Êthêrianô làm giáo
sư ở Conxtăntinốp; nhiều vua chúa cũng đã
soạn bài giảng.
[3]
Ở Châu Âu, sau
cuộc ngoại xâm hồi thế kỷ 5 làm cho đế quốc
Rôma sụp đổ, văn hóa, chữ nghĩa chỉ còn tồn
tại ở trong phạm vi Giáo Hội, còn giáo dân,
kể cả vua chúa, thường là mù chữ; vì thế,
chỉ một mình hàng giáo sĩ là có kiến thức
để mà làm công tác dạy dỗ, giảng huấn, cách
riêng là trong phạm vi tôn giáo. Thời
phục hưng, giáo dân đã
lấy lại
chỗ đứng ở trong văn hóa và từ giữa giáo
dân đã xuất hiện một số nhà thần học lừng
danh như Silviô Piccôlômini, Contarini, Reginald Pole,
Staphylô, v.v., Angêlô Massarelli đã giữ vai thư
ký trong công đồng Trentô, và vua Henry VIII, Anh
quốc, đã viết sách thần học. Trong thời
gian từ Tân đại cho đến Vaticanô II, giáo dân
đã góp phần rất lớn trong phạm vi tư tưởng
tôn giáo; nhưng thần học theo nghĩa hẹp thì vẫn
còn là lãnh vực coi như dành riêng cho giáo sĩ.
Cả đến cha Yves Congar cũng nghĩ: “Thật ra, thần
học theo nghĩa chính thực, tiêu biểu, là kiến
thức của giáo sĩ, hoặc còn hơn thế nữa, của
các linh mục.”
[4]
Cuộc cải cách của Vaticanô II
đã đem lại những thành quả to lớn trong lãnh
vực này.
Giáo luật chỉ thị
rằng: “Những
người dạy các môn thần học trong bất cứ một
học viện cao đẳng nào, đều phải có ủy nhiệm
thư của nhà chức trách có thẩm quyền” (đ
812), và đồng thời khuyên các giáo dân “lấy
các cấp bằng chuyên môn” về thần học để
một “khi đã chu tất những gì luật
đòi buộc, họ có năng cách
để được
thẩm quyền hợp pháp của
Giáo Hội ủy nhiệm
dạy các thánh khoa” (đ
229
§3). Hiện có nhiều
học viên giáo dân (chứ không phải là tu sĩ
không chức thánh) theo học tại các phân khóa
thần học, và nhiều giáo dân – nam cũng như
nữ – phụ trách việc dạy thần học tại các
đại học cũng như tại các đại chủng viện. “Chức
trách có thẩm quyền” (đ 812) nói trên đây là
các giám mục. Theo hồng y Lustiger, tổng giám mục
Paris: “Vai trò đích thực của giám mục là
giáo huấn về đức tin và, vì thế, cũng là
giảng dạy thần học.” Bằng cách nào? “Vai trò
của giám mục cũng bao
gồm cả việc khích lệ giáo dân nghiên cứu
thần học, tức là
không chỉ là cho phép họ học hỏi những khoa
môn của giáo sĩ không thôi, mà còn phải lấy
thái độ kính trọng và tin tưởng mà cung cấp
tất cả những điều kiện thiết yếu để họ
được đào tạo đầy đủ trong mối hiệp thông
của chức tư tế chung.”
[5]
Uỷ ban Thần học
Quốc tế của Tòa thánh hiện có một thành viên
giáo dân (năm 2002). Những sự kiện như thế
đang đổi khác bầu khí trí thức trong Giáo Hội,
và không thể không có ảnh hưởng trên các cơ
cấu hành chánh. Thử hỏi tâm trạng giáo sĩ sẽ
như thế nào khi phải dùng cách xưng hô “thưa
thầy, thưa cô” với giáo dân? Có phải chính
vì thế mà Ðức Giáo hoàng đã viết: “Chính
thế, giáo dân có thể và phải giúp các linh
mục, tu sĩ trong đường thiêng liêng và mục vụ
họ đang đi.”
[6]
Công tác giảng
huấn chuyên môn này còn cần phải được mở
rộng nhiều hơn trong Giáo Hội. Có lẽ
trường hợp điển hình của công tác giảng
huấn này là việc làm của giáo lý viên. Xưa
nay đa số các giáo lý viên đều là giáo dân.
Giáo Hội Việt Nam đã có kinh nghiệm đặc biệt
về điểm này, kể từ Anrê Phú Yên cho đến
bây giờ. Cũng không thể quên được rằng
người mẹ trong gia đình chính là thầy dạy đức
tin đầu tiên; vì thế, không thể bỏ qua mà
không nói đến thừa tác vụ làm mẹ công giáo
trong “Giáo Hội tại gia” tức là gia đình. Trong
môi trường này, cha mẹ thi hành trọn vẹn nhiệm
vụ vương giả, tư tế và tiên tri đã lãnh
nhận. “Thông
thường,
lời mời đầu
tiên nghe được để trở thành phần tử của
Giáo Hội, là một lời vọng lên từ trong gia
đình. Ngay cả trước khi được biết như thế qua
xứ đạo, hoặc trước khi trí óc hiểu được
truyện thánh mời mình lớn lên và trưởng
thành trong Chúa Kitô, thì ở trong gia đình, các
con trẻ đã có dịp thấy, nghe và cảm nhận ra
được sự việc thuộc về Dân Thiên Chúa có
nghĩa là gì.”
[7]
Danh hiệu “giáo
lý viên” thường được hiểu theo nghĩa chỉ về
các tín hữu phụ trách việc dạy giáo lý cho
trẻ em một cách thường xuyên. Trong tông huấn Catechesi
tradendae, Ðức Gioan Phaolô II đã công khai nêu
bật công trình của họ: “Nhân danh toàn thể
Giáo Hội, tôi muốn nói lên lòng biết ơn đối
với anh chị em, những giáo lý
viên nam cũng như nữ – cách riêng là nữ –
của các giáo xứ ở khắp nơi trong Giáo Hội,
đã quảng đại xả thân làm công tác giáo dục
đức tin cho các thế hệ con em. Dù thường là
khiêm tốn, và ít được ai để ý đến, nhưng
việc làm của anh chị em bao giờ cũng là một
công tác đượm đầy nhiệt tâm và tính chất
cao cả, là một việc tông đồ quý giá, và
đặc biệt quan trọng ở những nơi mà vì một
lý do nào đó, các trẻ em và giới thiếu niên
không được đào luyện cho đầy đủ trong gia
đình của họ” (CT 66). Dịch bệnh đang hoành hành
trong Giáo Hội tại nhiều nước, là đa số
tín hữu chỉ có được một vốn kiến thức
giáo lý rất kém cỏi, thậm chí gần như không
biết gì về nội dung của đức tin; thế thì, có
gì là lạ khi “bị dụ dỗ,” họ bỏ đạo hoặc
đi theo một tôn phái, tín ngưỡng khác. Vì vậy,
giáo dân mọi tầng lớp phải ý thức về nhiệm
vụ trọng yếu và thiết bách này để, nhiều ít
theo khả năng của mình, góp phần vào việc dạy
giáo lý cho các thế hệ trẻ trong các họ đạo.
Thừa tác vụ này thích hợp đặc
biệt với các giáo hữu có học vấn. Trong
nhiều nước, các
giáo dân hưu trí hăng hái đảm trách công tác
ấy, coi đó như là sứ mệnh cuối cùng của
cuộc đời, một sứ mệnh cao cả, rất cần thiết
và tối hữu ích. Trong lãnh
vực này, thiên niên thứ ba đặt ra một số
vấn đề mới. Chỉ dạy giáo lý theo thông lệ
ở nhà thờ, tại trường học mà thôi, thì
không còn đủ; để việc dạy này trong tay của
một mình các giáo sĩ và tu sĩ, cũng không đủ.
Các giáo dân phải
đem sáng kiến “tiên
tri” của mình ra mà đề nghị lên các giám mục,
cha sở, hội đồng mục vụ, v.v. những phương
pháp mới. Chẳng hạn tổ chức các lớp giáo
lý tại nhà riêng cho các gia đình ở trong cùng
một xóm, một khu nhà, v.v. nơi các thành phố
lớn; một số gia đình lân cận tụ họp và chia
sẻ lời Chúa tại một nhà thuận tiện; những
người có khả năng trong nhóm lo việc chuẩn bị
đề tài và chia sẻ; các bậc làm cha làm mẹ
phụ trách chuẩn bị con cái trong nhóm rước lễ
vỡ lòng hoặc chịu bí tích hôn phối; thỉnh
thoảng một người “chuyên nghiệp” có thể
đến giúp bổ túc. Ðể đảm bảo cho kết quả
được tốt đẹp, cha sở hoặc ủy ban giáo lý
(hoặc mục vụ) của giáo xứ sẽ phối hợp
những “điểm giáo lý” khác nhau trong giáo
xứ, huấn luyện sẵn những cán bộ phục vụ,
cung cấp cho họ tài liệu và sách vở, v.v. Ðiều
then chót là giáo dân đứng ra đảm trách công
tác – với quyền lợi và bổn phận – dạy
giáo lý trong cộng đoàn, cho nhau, người nhiều
kẻ ít tùy khả năng của mỗi người. Chẳng thế
mà thánh Phaolô nhắn nhủ: “Thưa
anh em,
tôi tin chắc rằng
anh em có đầy thiện chí, thừa hiểu
biết
và có khả năng
khuyên bảo nhau” (Rm
15:14); “anh em hãy
dạy dỗ khuyên bảo nhau với tất cả sự khôn
ngoan” (Cl 3:16). Trong “Giáo Hội tham gia,” tất
cả đều phải nghe và nói, học và dạy, lấy tinh
thần huynh đệ mà giúp đỡ nhau cho niềm tin lớn
lên và phong phú hơn, ứng đáp kịp thời và
dễ dàng những thách đố gặp phải. Chia sẻ
lòng tin với nhau sẽ giúp nhau hiểu biết thêm
giáo lý và được thúc đẩy cũng như biết
cách áp dụng đức tin vào cuộc sống. Thêm vào
đó, còn có việc chia sẻ tài liệu: nếu mỗi gia
đình mua một cuốn sách thì các gia đình đều có
thể đọc, và nếu biết trao đổi như thế thì số
sách trong cộng đoàn sẽ được nhân lên gấp
trăm gấp ngàn; các nhóm cũng có thể lập tủ
sách giáo lý và trao đổi với nhau. thỪa
tác vỤ truyỀn giáo Mục đích
của việc chia sẻ nói trên là để gìn giữ và
phát triển đức tin giữa các giáo hữu. Nhưng,
giáo lý viên còn có thừa tác vụ truyền
giáo, nghĩa là ra sức làm số giáo hữu tăng
thêm lên, hầu mở rộng Giáo Hội, và góp phần
đẩy mạnh đà tăng triển Nước Trời. Tự bản
tính, chân lý Phúc âm hướng tới mọi người;
vì thế, những ai đón nhận đức tin thì cũng
nhận được
ơn gọi
gieo truyền chân lý
ấy cho những người chung quanh
trong
mức độ hoàn
cảnh
cuộc sống của mình
cho phép. Vì thế, Giáo luật khẳng định: “Tất
cả các giáo hữu có nghĩa
vụ và quyền lợi phải làm sao cho sứ điệp
cứu độ của Thiên Chúa càng ngày càng được
truyền tới mọi người, thuộc mọi thời và
mọi nơi” (đ. 211). Ðức Phaolô VI đã mạnh mẽ
quả quyết: “Không thể nào hiểu được nếu
có người sẵn sàng đón nhận Lời và muốn
vào Nước Trời mà lại không muốn làm chứng
và
vận động cho Nước
Trời”
(Evangelii nuntiandi
24). Chistifideles
laici nhắc lại dụ ngôn thợ làm vườn nho (x.
Mt 20:1-16) và ghi
lại lời Chúa nói:
“Cả các anh nữa, hãy
đi vào vườn nho!” Lời mời gọi này
không chỉ là việc của các mục tử, các giáo
sĩ và tu sĩ. Ðó là lời mời gọi mọi tín
hữu: hết mọi giáo dân cũng đều được Chúa
mời gọi và sai đi làm việc ở trong vườn
nho của Ðức Kitô
tức Giáo Hội và ở giữa thế gian” (CL 2).
Ðức Gioan Phaolô II nhận định tiếp: “Trong hoàn
cảnh hiện tại, các giáo dân có khả năng để
hoạt động trong nhiều công tác và nhiều lãnh
vực; vì thế, họ phải tận lực hoạt động cho
giáo xứ để củng cố niềm hiệp thông trung
thực và đánh thức lòng nhiệt thành truyền
giáo cho lương dân, cũng như lòng tin của các
tín hữu đã bỏ đạo hoặc sống đạo thờ ơ”
(CL 27). Nhiệm vụ này cốt ở tại việc “giới
thiệu” Ðức Giêsu cho những ai chưa biết Ngài. Trong lịch
sử Giáo Hội, giáo dân đã từng sáng lập
nhiều cộng đoàn tín hữu – hoặc một mình bởi
không có linh mục, hoặc hợp tác với các giáo
sĩ thừa sai – và hướng dẫn làm cho đời
sống đức tin sinh động trong các cộng đoàn.
Tại Châu Á hiện
nay,
giáo dân truyền
giáo hoặc theo tư cách cá nhân, hay ở trong các
phong trào tông đồ, hoặc theo tư thế là giáo
lý viên “chuyên nghiệp.” Là thiểu số ở
giữa nhiều dân nước, Giáo
Hội thấy có bổn
phận phải tìm ra một phương cách mới để “phúc
âm hóa” xã hội. Hết mọi tín hữu – giáo
dân cũng như giáo sĩ, già trẻ, nam nữ, quý
tộc và tiện dân...
– đều phải làm việc truyền giáo: Nếu
mỗi năm một tín hữu chinh phục được một
người đón nhận đức
tin,
thì thiết nghĩ chẳng
bao lâu cộng đồng
nhân
loại sẽ trở thành
cộng đồng công giáo. Muốn được như vậy, thì
mỗi giáo xứ phải huy động quần chúng, tổ
chức các khóa đào tạo thiêng liêng và kỹ
thuật, chuẩn bị tài liệu cho giáo dân, lương
dân và tân tòng, cũng như phải biết dành một
phần tài chánh tương ứng với tầm quan trọng
của sứ mệnh này. Thanh thiếu niên truyền giáo
ở nhà trường, đại học hoặc sân vận động;
công nhân truyền giáo ở xí nghiệp; công chức
thì tại văn phòng, v.v. Lý do không phải vì muốn
giành giật cho có nhiều người về với tôn
giáo mình, nhưng là vì
yêu mến Ðức
Kitô, làm
như lời Ngài dạy, và vì yêu thương tha nhân.
Thường không cần phải học cao mới có thể
truyền giáo, nhưng chỉ cần biết “trả lời cho
bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của mình”
(1Pr 3:15). Các phong
trào tông đồ là hoa trái phát sinh từ ơn tiên
tri trong dân Thiên Chúa. Giáo Hội gọi là “phong
trào” các tổ chức có mục đích tông đồ theo
nghĩa rộng. Ở đây, chỉ xin nói đến các phong
trào có quan hệ với việc truyền giáo, vì trong
đó, công tác phục vụ Lời Chúa có một tầm
quan trọng đặc biệt. Trong lần các phong trào
nhóm họp đại hội tại Rôma (5.6.1998), Ðức
giáo hoàng nhận rằng các phong trào trong Giáo
Hội quả đã đạt đến mức “trưởng thành,”
nghĩa là – như hồng y Ratzinger lưu ý – tránh
được việc can thiệp quá nặng của bộ máy quan
liêu trong địa phận hoặc giáo xứ vào trong các
sinh hoạt của họ. Ngoài các phong trào đã có
từ lâu như Legio Mariae, hiện giờ còn thấy xuất hiện một số tổ chức
giáo dân truyền giáo, như chẳng hạn: Hội Ba
Ngôi Truyền Giáo (Blessed Trinity Missionary Institute),
sáng lập ở Philadelphia (Mỹ) năm 1950; Giáo dân
Claret (Seglares Claretianos) sáng lập năm 1988;
Hội giáo dân truyền giáo thánh Anphong (Instituto Misionero Seglar Alfonsiano); Hội giáo dân truyền
giáo Philippines
(Philippine
Catholic Lay Missionaries);
Huynh đoàn giáo
dân truyền giáo (Fraternité
Laðque Missionnaire); Hội giáo dân truyền giáo (Associazione
Laicale Missionaria), sáng lập năm 1976; Hội nữ giáo dân truyền giáo Ðức Mẹ Ðồng
công
(L'Istituto Missionario Laiche di Maria Corredentrice),
sáng lập năm 1990),
v.v. Thêm vào đó là các dòng tu truyền giáo
có giáo dân tự nguyện hợp tác với các tu
sĩ, khi thì suốt đời, khi thì trong một thời gian. Thừa tác
viên đặc thù trong lãnh vực này là các giáo
lý viên “chuyên nghiệp”
[8]
Trong các lãnh
địa truyền giáo, đã từng có các nhân viên
như thế; họ là những người tận hiến đời
mình để hợp tác với các linh mục thừa sai:
dạy giáo lý cho
dự tòng và giáo
dân khác, điều khiển các cộng đoàn nhỏ. Tông
huấn Catechesi tradendae ca
ngợi gương dấn thân của họ: “Từ ‘giáo
lý viên’ được áp dụng, trước hết, cho
giáo lý viên ở các lãnh địa truyền giao (x. đ.
790.1). Sinh ra trong gia đình đạo gốc hoặc tụ mình
trở lại công giáo và được các thừa sai
hoặc các giáo lý viên khác đào tạo, họ xả
thân, năm này qua năm khác, cho việc dạy giáo
lý các trẻ em và người lớn, đồng bào của
mình. Biết bao Giáo Hội hiện đang sống mạnh đã
không được xây dựng nếu không có bàn tay
hợp tác đắc lực của họ” (số 66). Hơn bao
giờ hết, hiện nay sự có mặt của các giáo
lý viên thừa sai giữa đồng bào của họ đang
trở nên hết sức thiết bách. Ở Việt Nam, các
xứ đạo tổ chức rất tốt các lớp giáo lý
cho tín hữu; nhưng giáo lý viên thừa sai thì
hiếm có.
Một cộng đoàn
kitô không
truyền giáo là một cộng đoàn vong bản, bởi
đã mất đi bản chất truyền giáo của Giáo Hội
Chúa Kitô. Ðã đến lúc các giáo xứ – giáo
phẩm – phải thành lập các hội giáo dân
truyền giáo, hoặc độc thân hoặc có gia đình,
làm việc tại chỗ hoặc được sai đi nơi khác.
Dĩ nhiên là cần phải huấn luyện họ.
[9]
FABC 5 đã nói
lên ước mơ: “Các kitô hữu đã được đào
tạo đầy đủ sẽ thành thừa sai đối với bạn
đồng cảnh của mình: thanh niên thì phúc âm hóa
thanh niên, công nhân thì phúc âm hóa công
nhân, chuyên nghiệp thì phúc âm hóa các bạn
đồng nghiệp, công chức thì phúc âm hóa công
chức, gia đình thì phúc âm hóa gia đình; và như
thế, tất cả sẽ trở thành men để biến đổi
xã hội Châu Á” (5.2). Muốn vậy thì giới hữu
trách trong Giáo Hội phải đặt kế hoạch và
dành tài nguyên cần thiết cho công trình ấy. 3.
thỪa tác vỤ giáo dỤc Giáo giới
công giáo cũng có một ơn gọi đặc thù để
góp phần vào sứ mệnh của Giáo Hội, sứ mệnh
xây dựng Nước Trời ở dưới đất. Họ chu
toàn nhiệm vụ này bằng nhiều cách, đặc biệt
là trong tuyền thống nho giáo: vừa làm nguồn
kiến thức, vừa làm mẫu gương đạo lý, theo ý
nghĩa trọn vẹn của chữ “thầy.” Việc tông
đồ giáo dục đã từng là khí cụ rất sắc
bén trong các xã hội kitô giáo cũng như giữa
các xứ lương dân. Ngày 28 tháng 12, 1997, Bộ Giáo dục Tòa thánh đã
công bố một văn kiện đầu đề “Các nhà
trường Công giáo trước ngưỡng cửa Thiên
niên Thứ ba.”
Theo văn kiện, đây là mẫu mực của nhà
trường: “Trường học công giáo là nơi làm
công tác giáo dục con người toàn vẹn, qua một
chương trình giáo huấn rõ ràng, đặt
trên nền tảng là Chúa Kitô; mang căn tính vừa giáo hội mà cũng vừa văn
hóa; hiểu sứ mệnh giáo dục như là một công
trình tình thương, như là một công tác phục vụ
xã hội; có một đường lối giáo dục đặc
thù mà toàn thể giáo viên phải theo sát”
(số 4). Tiếp đó, văn kiện lên tiếng ca ngợi
như sau: “Nghề giáo dục là hoạt động hết
sức cao cả về phương diện luân lý, đến độ
có thể nói đó là một trong những hoạt động
cao thượng và
đầy sáng tạo nhất: thật vậy, công việc giáo dục không ra sức ghi khắc vào
một thứ khoáng vật chất trơ ì, mà là ghi tạc
vào chính tâm lòng con người” (số
19). Vì thế Giáo Hội đã không ngừng bênh vực
tự do giáo dục và mạnh mẽ đòi hỏi quyền
thiết lập cùng quản lý các trường tư thục (x.
GD 8b). Tại Châu Á, có rất nhiều trường công
giáo.
Tuy
nhiên, các thể chế chuyên chế vẫn không chịu
nhận quyền này. Nhưng, không phải vì thế mà
đặc biệt quan tâm đến các giáo viên đang phải
thi hành sứ mệnh của mình trong những hoàn cảnh
khó khăn. Các giám
mục Châu Á (FABC 4) nhận xét: “Nói đúng ra,
ở Châu Á giáo dân đóng vai trò chính trong
tác vụ cốt yếu của sứ mệnh giáo dục qua việc dùng trường
học mà giúp
người trẻ lớn lên về mặt nhân bản và
tưởng thành. Vai trò của họ trong việc tông
đồ giáo dục phát sinh từ Phép Rửa, qua đó
họ được thông phần vào sứ mệnh của Ðức
Kitô tiên tri và tôi tớ” (3.5.4). Vì vậy, qua
phận vụ của mình, các giáo viên chia sẻ thừa
tác vụ giáo huấn – làm thầy dậy – của
Ðức Giêsu. Giảng dạy không chỉ là chuyển
thông kiến thức, mà còn là gieo trồng các giá
trị vào trong tâm lòng của học sinh. Chức năng
của họ còn là góp phần cho cả một khối học
sinh và giáo viên với tín ngưỡng, giai cấp,
sắc tộc khác nhau trở nên một cộng đồng huynh
đệ. Giáo Hội phải huấn luyện họ cho sứ mệnh
này.
[10]
Việc
tông đồ của một
giáo viên
công giáo là cốt ở
chỗ dạy như một người kitô, vừa làm một
thầy giáo tốt vừa làm một chứng tá khả tín.
Giáo viên là thừa sai giữa các đồng nghiệp
và các học sinh, trước hết bằng cách giúp họ
trở nên người tốt, rồi sau đó bằng cách chia
sẻ đức tin của mình khi có dịp thuận tiện. Dạy
môn gì, thì giáo viên kitô cũng không quên truyền đạt các giá trị Phúc âm là chân
lý, công bằng, thành thực, khoan dung, hòa giải,
v.v.
[11]
Quan
hệ thầy trò cũng có thể kéo dài để ảnh
hưởng tới cả gia đình và tương lai của học
sinh; và như thế, môi trường tông đồ sẽ
được nới rộng gấp bội. Thừa tác vụ huấn
giáo thâït mênh mông và đa dạng. Vì thế, nên
thành lập những hiệp hội giáo viên công giáo
với những tờ thông tin và giáo dục, cũng như
tổ chức những khóa đào tạo chuyên môn, tôn
giáo, tu đức như tĩnh tâm, v.v. để giáo giới
có dịp trao đổi ý
kiến và kinh nghiệm, trau dồi nghề nghiệp và lý
tưởng của người tông đồ kitô.
[1]
J. H. Newman, “On
Consulting the Faithful in Matters of Doctrine,” The
Rambler, July 1859, xin xem John Henry Newman, Conscience,
Consensus and the Development of Doctrine: Revolutionary Texts
by John Henry Cardinal Newman, ed. James Gaffney, New
York: Image/Doubleday, 1992, 392-428.
[2]
Trích
dẫn trong Denzinger,
số 238, 246, 353, 370, 376, 378-395.
[3]
Chẳng hạn:
Robert II, vua Napoli († 1343) đã để lại hơn 300
bài giảng.
[4]
Y. Congar, Jalons
pour une théologie du laðcat… tr. 431.
[5]
Jean Marie Lustiger, trong Études,
janvier 2000, bài chuẩn bị hội nghị Châu Âu, năm
1999.
[6]
Christifideles
laici, số 61.
[7]
FABC 4, Ðông
kinh, Nhật bản, 16-25 tháng 9, 1986, số 3.4.7.
[8]
Xin xem Bộ
Truyền giáo, Chỉ Nam cho các Giáo Lý Viên,
Vaticanô 1993.
[9]
Chẳng hạn
phương pháp giản dị bàn đến trong bài: Joseph T.
Sullivan, How to Share Your Faith with Others. A Good News
Guidebook, Liguori Publications 2000.
[10]
Tại nhiều nước, có chương trình “Christian
Maturity Formation Seminars” và “Colloquia on the
Ministry of Teaching,” chẳng hạn như ở Naga
(Philippines), hoặc ở
Saint Louis University, Missouri (Mỹ).
[11]
Xin xem FABC Paper
46e, “The Laity in the World of Education” (1986).
|