|
VII VẤn đỀ
Suốt dòng lịch
sử và trong tất cả các nền văn hóa, phụ nữ đã
bị coi tựa như là một “cái gì” của cha, của
chồng, của gia trưởng... Dù thánh Phaolô đã khẳng
định rõ: “Không còn có chuyện phân biệt Dothái hay
Hylạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà...”
(Gl 3:28), thì số phận của nô lệ và phụ nữ cũng
chẳng đổi mới được bao nhiêu. Trong vấn đề này,
Giáo Hội và xã hội không khác nhau là mấy; chính
Ðức Gioan Phaolô II đã nhìn nhận phần lỗi của Giáo
Hội; trong thư gửi cho các phụ nữ, ngài viết: “Khách
quan mà nói, đặc biệt là trong một vài hoàn cảnh
lịch sử, nếu phải quy lỗi cho nhiều phần tử trong
Giáo Hội, thì tôi xin được nói lên lời xin lỗi.”
[1]
Ở Tây phương, trong
các thế kỷ 19 và 20, phụ nữ đã đứng lên đấu
tranh cho nữ quyền; dẫu đã có nhiều bước tiến
bộ, tuy nhiên, nữ
giới vẫn
chưa thấy được đối xử ngang
hàng với nam giới. Ở
Châu Á, tại nhiều nơi, số phận phụ nữ vẫn còn
rất tệ, thấy rõ qua: ác tập của hồi môn, giết
nữ thai nhi, cắt xén cơ quan sinh dục, loạn luân, hành
hạ, hãm hiếp, mại dâm,
v.v.;
vì thế, các giám mục
đã viết: “Không những là một yêu cầu nhân bản,
mà còn là một đòi hỏi thiết cốt của Phúc Âm
việc nhìn nhận nhân phẩm của một nửa loài người
cùng phục hồi phẩm cách của họ, và để họ đóng
giữ vai trò xứng đáng cả ở giữa thế giới lẫn
ở trong Giáo Hội.”
[2]
Và năm 1995, FABC 6,
đã
nhắc lại:
“Là một công tác mục
vụ bách thiết
việc tạo cho nữ giới
có điều kiện hành sử quyền của mình, giữ những
địa vị và phận vụ ngang hàng với nam giới, ở
giữa xã hội cũng như ở trong Giáo Hội” (số 15.2).
Vậy, vấn đề là: giữa xã hội cũng như trong Giáo
Hội, phụ nữ chưa được đối xử xứng với phẩm
giá của họ. Tại nhiều nơi, phụ nữ, kể cả nữ tu,
đã lên tiếng phê bình lối tổ chức và cách Giáo
Hội cư xử đối với họ. Ðã đến lúc cần phải
xét lại vấn đề và tìm cho ra cách giải đáp. vài hàng lỊch sỬ Hiểu cho tường
tận lịch sử là chuyện khó. Còn lấy những phạm
trù hiện tại để mà giải thích những biến cố
hoặc trạng huống xa xưa thì càng khó hơn nữa. Dù
sao, lịch sử vẫn là “magistra
vitae” (thầy cuộc đời), cho nên cần phải nhìn
lại xem các tài liệu cũ dạy cho ta những bài học
nào. Phúc Âm cho
thấy Ðức Giêsu khai mở một thể cách mới trong
lối đối xử với phụ nữ, trong ý thức họ là “nữ
tử Abraham” (Lc 13:16), và không chỉ trò chuyện với
họ (như với phụ nữ Samaria: Ga 4:7tt) hoặc kết thân
với họ như bạn hữu (như với Máctha và Maria: Ga 11), mà
còn để họ đi theo làm môn đồ (x. Lc 8:1-3).
[3]
Sau đó, thánh Phaolô
đã có thái độ song đôi: trong Gl 3:28, ngài nói tất
cả đều ngang nhau, còn ở trong 1Cr 14:34-35, thì lại
cấm phụ nữ “lên tiếng giữa cộng đồng” (x. 1Cr
11:2-16); nhưng nhiều lần ngài lại nhắc đến các nữ
phụ tá của ngài (x. Rm 16:1.3.7.12). Trong Giáo Hội sơ
khai, đã có “tu hội quả phụ” gồm các bà góa
có nhiệm vụ cầu nguyện cho
Giáo
Hội. Khi
tuần tự kể giám mục, linh mục và
phó tế theo trật bậc, thì Ôrigênê nhắc đến họ (Homilia in Lc. 17);
Téctullianô gọi họ là ordo
(trật bậc) trong Giáo Hội với chỗ ngồi dành riêng
trong cộng đoàn (De pudicitia 13.4); hồi thế kỷ 4, họ cũng
phụ trách việc từ thiện. Trong các xã hội với
phong tục đặc biệt, như ở Syri, Tiểu Á, Ba tư, v.v.,
để phục vụ nữ giới, thì Giáo Hội đã thiết lập
hàng nữ trợ tá, như thấy được ở trong sách Ðiđaskalia (thế kỷ 3), và trong những miền nói
tiếng Hylạp, thì gọi họ là “nữ phó tế,” như
đọc thấy trong các tác phẩm của Clêmentê
Alêxănđria và Ôrigênê. Công đồng
Nixêa (năm 325) liệt
kê nữ trợ tá là “giáo dân,” còn Canxêđônia
(năm 451) chấp
nhận các nữ trợ tá và xác
định một
số chi tiết
về nếp sống cùng hoạt
động của họ ở trong Giáo
Hội; chẳng
hạn như: họ phải sống
độc thân (đ. 15), và dưới 40
tuổi phụ nữ không được chịu chức phó tế. Còn
bên Tây phương (nói tiếng Latinh) thì công
đồng Orange
(năm 441) đã
cấm phong chức trợ tá cho phụ nữ. Bên Ðông
phương, các nữ trợ tá như thế biến dần rồi mất
hẳn từ thế kỷ 11 trở về sau. Trong lãnh vực
trí thức, nữ giới kitô đã góp phần quý giá cho
nền văn học tôn giáo. Triết gia Giuxtinô ở Rôma
cũng như Ôrigênê ở Alêxănđria đã có các nữ
môn đồ. Ðặc biệt là ở Rôma, hồi thế kỷ 4, đã
có một nhóm phụ nữ quý phái tụ họp để học Kinh
Thánh và các Giáo phụ, với sự ủng hộ tích cực
của thánh Hiêrônimô;
một nhóm khác
thì được Rufinô giúp đỡ để học tập;
nổi tiếng nhất nhóm là
bà Malania,
sau này trở thành sáng
lập viên của một đan viện tại Giêrusalem. Thời Trung cổ,
vai trò nữ giới trong Giáo Hội tập trung vào các tu
viện, tương tự như hàng giáo sĩ/tu sĩ đối với
phía nam giới.
[4]
Thường thì nhờ có
địa vị xã hội, giáo dân “thuần túy,” nam cũng
như nữ, mới can thiệp được vào trong sinh hoạt của
Giáo Hội: nhiều khi hàng quý phái có quyền trao các
chức vụ; trí thức thì viết sách hoặc dạy thần
học. Khó mà liệt kê ra hết được số các phụ
nữ đã góp phần độc đáo cho sinh hoạt của Giáo
Hội: thánh nữ Scôlaxtica – em của thánh Biển Ðức
(thế kỷ 6) – Hild Whitby ở Anh quốc – bà đã sáng
lập đan viện cho cả nam lẫn nữ tu sĩ, và là thành
viên của hôïi đồng (thế kỷ 7) – Walburge (thế kỷ
8) – đã hợp tác với thánh Bônifaxiô ở Ðức
– Solange de Berry (thế kỷ 9), công chúa Olga ở Nga
(thế kỷ 10), Margaret Scotland (thế kỷ 11), Hildegard thành
Bingen (thế kỷ 12); trong thế kỷ 13, thì có: thánh
Clara Asissi,
thánh Catarina Siena,
thánh Elisabeth Hungari,
Mechtild Magdeburg; trong thế
kỷ 14: thánh Gerthrude Cả, thánh Bridgit người Thụy
Ðiển, Julian Norwich;
Catarina Genoa (thế kỷ 15); thánh Têrêxa Avila (thế kỷ
16) tiến sĩ Giáo Hội,
và bao nhiêu tác giả nổi tiếng khác. Ðã có rất
nhiều phụ nữ tham gia các phong trào thiêng liêng
giữa giáo dân, đặc biệt là các dòng ba (nhất là
từ thế kỷ 13) theo các linh
đạo Cát Minh, Ða
Minh và Phanxicô. Có một nhóm đặc biệt gọi là
Beguines (xuất hiện hồi thế kỷ 12 ở Bỉ), gồm những
phụ nữ sống chung ở giữa thế gian với mục đích
phục vụ người nghèo. Mặt khác, suốt
thời Trung cổ, tại Châu Á nữ giới đã phải trải
qua nhiều nỗi thăng trầm khốn khổ. Nói chung, địa vị
xã hội của nữ giới thì rất là thấp, kém xa nam
giới; họ chỉ đóng vai thụ động. Trong thế kỷ 13,
nhiều phong trào cải cách đã xuất hiện; có nhiều
phụ nữ tham gia; nhưng đa số các nhóm ấy đã đi
vào con đường sai lệch, biến thành lạc giáo. Phụ
nữ bị nghi ngờ, và – nhất là ở Trung Âu – bị
tố cáo là phù thủy; từ đó bắt đầu chính sách
thanh trừ phù thủy – cả từ phía Giáo Hội lẫn
từ phía nhà nước – khiến hàng ngàn phụ nữ bị
thiêu sống. Từ thời phục hưng trở về sau, nữ
giới bắt đầu ý thức rõ hơn đến phẩm giá của
mình, và từ đó số
phận nữ giới được cải thiện dần. Trong Giáo
Hội, vai trò tích cực của nữ giới thường hiện
rõ qua các dòng tu. Từ giữa thế kỷ 19 cho đến
thời công đồng Vaticanô II, số dòng nữ đông hơn
gấp bội các dòng nam. Chẳng hạn, năm Vaticanô II kết
thúc (1965), tại Hoa kỳ, số linh mục (triều và dòng)
là 58.632; trong khi đó, số nữ tu lên đến 179.974;
hồi năm 1996, trong thế giới, đã có 404.336 linh mục,
còn nữ tu thì 828.660. Riêng tại Việt Nam, trong năm
2000, nếu con số linh mục đã đếm được 2.303, thì con
số các nữ tu đã lên tới 9.739. Thế nhưng, quyền
quyết định trong Giáo
Hội hầu như vẫn còn
nằm trọn trong tay nam giới. Nữ giới bao
giờ cũng bị kém thua nam giới trong quyền hạn. Trong
xã hội Tây phương, nữ giới đã đấu tranh dành cho
được quyền hạn ngang với nam giới.
[5]
Phụ nữ được
quyền bỏ phiếu ở Anh và Ðức quốc năm 1918, ở Hoa
kỳ năm1920, ở Tây ban nha năm 1931,
ở Pháp năm 1945. Tại
các phần thế giới còn lại, số phận của nữ
giới còn thua kém hơn nhiều. Tại đa số các nước
Hồi giáo, phụ nữ chẳng có được một quyền hạn
nào. Riêng tại Việt Nam, phụ nữ đã phải giữ “đạo
tam tòng”
và, dù được
luật pháp bênh vực, nữ
giới vẫn
phải tiếp tục nhường
bước cho nam giới.
Năm 1946,
phụ nữ được
quyền bỏ phiếu; nhưng vẫn còn quá ít phụ nữ giữ
những địa vị quan trọng trong các lãnh vực chính trị
và xã hội. Trong thế giới, 70% người nghèo là phụ
nữ. Phụ nữ bị hành hạ ở mọi nơi và bằng mọi
cách: hiếp dâm, mại dâm, đánh đập, khinh bỉ, trả
công thấp hơn, cưỡng hôn, chồng ruồng rẫy bỏ rơi,
v.v. Vì vậy, gần
đây đã xuất hiện phong trào và ý thức hệ “nữ
quyền” (feminism) cả ở trong việc đạo lẫn ở giữa việc
đời. Ở đây chỉ xin giới hạn ở trong phạm vi tôn
giáo. Nhiều phụ nữ đã nghiên cứu và cho thấy
được một “mặt kín” của lịch sử: không những
đã bỏ “quên” vai trò của phụ nữ, rất nhiều
sách lịch sử còn dùng thành kiến chống họ.
[6]
Dù đôi lúc tỏ ra
quá khích, các nữ tác giả này cũng đã góp phần
tích cực cho việc hiểu về quá khứ một cách khách
quan hơn. Họ có lý khi đòi hỏi nam giới phải đổi
thái độ lệch lạc đối với phụ nữ và đánh giá
đúng mức việc làm của phụ nữ ở trong gia đình,
ở giữa xã hội, ở
trong các sinh hoạt tôn giáo. Họ
nêu bật phong cách nữ tính của mọi sự, cả đến
của Thiên Chúa! Các nhà nữ chú giải cắt nghĩa Kinh
Thánh và trình bày thần học với những sắc thái
mới. Linh đạo kitô nhờ đó cũng trỡ nên phong
phú hơn, khi có được lối nhìn năng động hơn đối
với phụ nữ và biết nhận ra những khả năng mới.
Trước trạng huống bi đát nữ giới phải sống qua
tại nhiều nơi, trào lưu nữ quyền không chỉ đã gây
được ý thức cho công luận về vấn đề, mà còn
đưa đến việc giải phóng phụ nữ thật sự.
[7]
Họ cũng đã gây
sức ép trên việc dùng ngôn từ để thay đổi một
số cách nói, đặc biệt là ở trong phụng vụ và
thần học: đối với lối nói gồm hàm (inclusive
language). Giữa xã hội, họ đã dành được – ít
là trên nguyên tắc – quyền bình đẳng nam nữ, trong
các lãnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, cả đến
trong quân đội. Thế nên, họ mạnh dạn hỏi: còn trong
Giáo Hội thì sao? Một
số nhóm “nữ quyền” thường
tỏ thái độ cực đoan, chối
bỏ hết những gì thuộc “truyền thống phụ
quyền,” coi đó là những yếu tố làm nhiễm độc
văn hóa và tôn giáo. Ngôn ngữ họ dùng thường
có tính cách khiêu khích; họ giải thích Kinh Thánh và
khai triển các chủ đề thần học theo lối lý luận
chịu ảnh hưởng nặng của chủ nghĩa nữ quyền. Có
nhóm còn tỏ rõ thái độ chống đối “thể chế
Giáo Hội” và bất phục tùng, tự xưng là “tiên
tri” và hành động theo lối “việc đã rồi.” Ðó
là trường hợp của những nhóm cử hành phụng vụ
theo kiểu nữ quyền hoặc đã kiếm cách để chịu
chức thánh.
[8]
Kết quả là
đưa tới cãi vã và chia rẽ trong Giáo Hội. Tuy nhiên, vấn
đề đã đặt ra rồi, bây giờ chỉ còn có việc là
phải giải
quyết. Thực tế là:
không biết bao nhiêu phụ nữ liêm trực trong
Giáo Hội hiện đang cảm thấy ngột ngạt. Nhiều tập
quán, nhiều thói lệ của ngày trước không còn có
thể chấp nhận được trong thời đại ngày nay; đã
đến lúc phải thay đổi. giáo hỘi tham gia Ðể xác định
vị trí chính đáng ở trong Giáo Hội của các phụ
nữ thì đã sẵn có những nguyên tắc. Tông Thư Mulieris
dignitatem (Phẩm giá nữ giới, 15.8.1988) khẳng
định rằng: “Phụ nữ đứng ngay ở
trọng tâm của biến cố cứu độ” (số 3). “Hẳn
là nữ giới không kém về khả năng so với nam
giới, chỉ có điều là khác nhau thôi” (số 10). Và
khi muốn ám chỉ về cuộc khổ nạn của Ðức Giêsu, văn kiện
viết: “Có thể thấy được rằng trong cuộc thử
thách ghê gớm nhất đối với niềm tin và lòng trung
thành, phụ nữ đã tỏ ra kiên cường hơn các tông
đồ; trong những giây hiểm nguy, có ‘yêu mến nhiều’
thì mới vượt thắng được sợ hãi” (số 15). “Thái
độ của Ðức Kitô đối với các phụ nữ củng cố
và nêu rõ hơn thêm trong Thánh Thần, chân lý về
sự bình đẳng giữa nam nữ. Phải nói đó là một
‘sự bình đẳng’ căn bản, bởi vì cả hai, nữ
cũng như nam, đều đã được dựng nên theo hình ảnh
của Thiên Chúa,và vì thế cả hai, trong những mức
độ như nhau, đều có khả năng đón nhận ân huệ
của Thiên Chúa là chân lý và tình yêu của Thánh
Thần: cả hai đều có khả năng cảm nghiệm như nhau
về những tác động của Thiên Chúa cứu độ và
thánh hóa” (số 16), v.v. Theo giáo lý
trên đây, tổ chức trong Giáo Hội rồi sẽ như thế
nào? Có lẽ ngày xưa, thời mà trong xã hội, quan hệ
nam nữ khác hẳn, theo cách “hội nhập văn hóa”
Giáo Hội đã lấy lại nguyên dạng quan hệ phân biệt
ấy. Nhưng ngày nay, xã hội đã biến đổi, mà vẫn
còn giữ cơ chế ngày xưa, thì Giáo Hội sẽ bị coi
là lỗi thời. Ðành là trong cơ chế Giáo Hội, có
những yếu tố bất di dịch bởi thuộc “thần quyền”;
nhưng các yếu tố như thế thì chỉ là một số rất
nhỏ. Sự thật về Giáo Hội đòi phải có những cơ
cấu thể hiện rõ các nguyên tắc nói trên đây. Vì
thế, các giám mục Châu Á đã chia sẻ cho thấy: “Các
nghị phụ rất ưu lự lắng lo về sự việc Giáo Hội
phải là một ‘Giáo Hội
tham gia’ trong đó, không một ai
cảm thấy bị phân biệt, loại trừ; đặc biệt, các
ngài ý thức rõ một nhu cầu bách thiết, đó là
cần phải làm sao để các phụ nữ có cơ hội tham gia
nhiều hơn vào trong đời sống và sứ mệnh của Giáo
Hội ở Châu Á.”
[9]
Trong các cơ chế
lãnh đạo chịu trách nhiệm đối với việc quyết
định chính sách trong Giáo Hội, hầu như không có mặt
phụ nữ. Là thành phần đa số trong công đồng kitô
hữu, chắc hẳn nữ giới phải giữ một vai trò chủ
chốt hơn trong các cơ chế lãnh đạo của Giáo Hội.
Ðể đạt được mục tiêu ấy, ắt phải
bắt đầu bằng việc thay
đổi não trạng, thay đổi cách quan
niệm về đường lối tổ chức cơ chế Giáo Hội, về
vai trò của mỗi thành viên trong cộng đồng. Không
chỉ học thần học về nữ giới, giáo sĩ còn
phải học thần học của
phụ nữ.
[10]
Hiện nay, tại nhiều
nước số các phụ nữ học và dạy thần học đã
tăng lên nhiều: đó là điều hợp lẽ và đáng
mừng. Thảo luận về
vấn đề phụ nữ trong khóa họp khoáng đại lần 4
tại Tokyo, năm1986, FABC đã quyết tâm lo sao để họ
có cơ hội đóng giữ vai trò thích đáng với địa
vị của họ, trong Giáo Hội. Rồi năm 1993, FABC đã
triệu tập một hội nghị tại Petaling Jaya (Malaysia) để
nhìn lại “Những sự kiện và kinh nghiệm của phụ
nữ tại Châu Á” và đã quyết định thành lập ngay
trong cơ chế của FABC, một Uỷ ban về Phụ nữ; FABC
cũng khuyến khích các hội đồng giám mục trong vùng
làm tương tự như thế “nhằm cổ vũ việc gặp gỡ
và đối thoại giữa nam nữ trong Giáo Hội, nhất là
trong tiến trình hình thành các quyết
định.” FABC
6 (Manila 1995),
BILA
[11]
I và II (1995, 1998)
đã nhắc lại lời khuyến dụ ấy. Trong FABC 7 (Samphran,
Thailand, 3-12.1.2000) các giám mục đã lại bàn luận
về điểm này, và đã lắng nghe ý kiến của phía
phụ nữ.
[12]
Bây giờ, chỉ còn
một điều cần làm là các Giáo Hội địa phương
phải đưa ra những biện pháp cụ thể. Ðối thoại với
phụ nữ có nghĩa là phải lắng nghe không chỉ từng
cá nhân riêng lẻ, mà cả toàn bộ nữ giới theo tư
thế là một tập thể trong Giáo Hội. Ngẫm đọc đoạn
Lc
13:10-16, nhiều phụ nữ
cũng
nhận thấy rằng trong Giáo Hội, phụ nữ đang bị “còng
lưng” tê liệt trong “xiềng xích” của những thái
độ và lối cư xử không xứng đáng đối với nữ
giới ở giữa đời cũng như trong đạo. Cho đến nay,
nhờ nữ giới đã biết nhẫn nhục nín lặng, bầu
khí xem ra ổn thỏa trong Giáo Hội; tuy nhiên, trong một
xã hội đang đổi thay nhanh chóng và sâu rộng như
đang thấy, quả là ngây thơ nếu cứ tưởng tình
trạng ấy có thể kéo dài mãi. Phụ nữ đã ý
thức, đã bắt đầu lên tiếng cũng như đã bắt
đầu ra tay hành động. Giáo Hội sẽ
phong phú hơn nhiều, khi “bộ mặt nữ tính” của mình
lộ hiện rõ. Vì những thành kiến tiêu cực, đa số
phụ nữ không đi được đến chỗ đánh giá cao
chính mình, khiến hơn một
phần nửa Giáo Hội cũng không tự
đánh
giá cho đúng mức. Là
nguồn nhân sinh, người mẹ giữ vai trò làm hợp
tác viên của Ðấng Tạo hóa; hiện đang vận động cho
sự sống, thì đây là lúc Giáo Hội cần phải nêu
bật giá trị này từ giữa lòng cuộc sống của mình.
Cảm nghiệm tôn giáo của nam giới và nữ giới thì
khác nhau; thế nên, cần phải nêu bật và trình bày
một cách thực sự cụ thể ở trong cuộc sống Giáo
Hội, về sự khác biệt này; chẳng hạn trong cách
biểu đạt niềm tin, trong các sinh hoạt phục
vụ và đặc biệt là
trong quá trình
hình thành các quyết định. Quá trình này thường mang
tính cách “đàn ông,” tức nặng nề duy lý; nữ
giới dùng đến cảm tính nhiều hơn và, vì thế, mềm
dẻo hơn. Nếu phụ nữ không tham dự vào quá trình
quyết định, thì Giáo Hội thiếu mất đi những đặc
tính ấy, thiếu mất đi những “tài năng bẩm phú
của nữ giới” như
giáo hoàng đã từng nhận
định.
[13]
Ôn hòa
và dịu dàng hơn, phụ
nữ sẽ hữu hiệu hơn trong những lúc cần phải giải
quyết các vụ xung đột. Trong các tổ chức có nhiều
phụ nữ tham gia, tính cách nhân đạo thường nổi
bật rõ hơn. Và nhân đạo phải là nhân đức đặc
thù của Giáo Hội. Ở Châu Á,
Giáo Hội có một sứ mệnh đặc biệt đối với phụ
nữ: vận động để giải phóng nữ giới. Các
truyền thống Châu Á, phát sinh từ gốc Trung quốc
hoặc Ấn độ, trọng nam kinh nữ, thường đặt phụ
nữ dưới quyền chi phối của phái nam, khiến các
trẻ gái, ngay từ thở bé, có thói quen hướng về
phía nam, làm cho thiếu đi khả năng mở mang cá tính
và tự do, tức nhân phẩm. Chẳng thế mà giáo hoàng
đã gọi việc công nhận
phẩm giá của phụ nữ
là “dấu chỉ thời đại,” và nhận định rằng: “Lời
kêu gọi phục hồi phẩm giá và sứ mạng của phụ
nữ – đặc nét của thời đại chúng ta – phải
được đón nhận với ‘ánh sáng và sức lực’
Thánh Thần ban cho con người, ngay cả giữa thời đại
của không biết bao nhiêu biến đổi này.”
[14]
Nếu xã hội, nói
chung, phải đón nhận dấu chỉ ấy, thì còn cần chi
phải nói đến trường hợp của Giáo Hội! Trước
hết, cần phải dạy giáo lý về “quyền nam nữ bình
đẳng” cho các gia đình công giáo: “Nam và nữ đã
được tạo thành ‘cho nhau’... để thành một mối
hiệp thông giữa hai người, nên nơi nương tựa và
giúp đỡ cho nhau, bởi cả hai đều vừa bình đẳng
vừa bổ túc cho nhau;”
[15]
rồi dạy cho họ biết
vui mừng đón nhận và dưỡng dục đồng đều các
con cái, trai cũng như gái, theo tinh thần kitô, không
mảy may phân biệt giới tính. Hệ thống giáo dục
phải chuẩn bị cho thanh niên nam nữ để họ biết dùng
tự do mà chọn lựa người bạn trăm năm theo tiêu
chuẩn kitô, ngõ hầu gia đình trở thành tổ ấm
thực của tình thương và bình đẳng. Phòng liệu cho
những trường hợp bạo lực xảy ra trong gia đình,
Giáo Hội phải sẵn có những cơ cấu tư vấn, nhất
là nhờ các nữ tu và giáo dân chuyên nghiệp; đó
là một công tác phục vụ rất quý báu trong xã hội
ngày nay, và cũng là một thừa tác vụ đặc biệt
thích hợp cho các nữ giáo dân đã được đào
tạo. Nếu gia đình gặp khủng hoảng, thường thì phụ
nữ phải gánh chịu phần lớn những thua thiệt: nào
là ly dị nào là kỳ thị; Giáo Hội cũng có thể góp
phần trợ giúp qua những cơ cấu đặc thù. Giáo Hội phải
ra sức thiết đặt các cơ cấu tham gia để phụ nữ
có thể hợp tác làm việc trong Giáo Hội xứng với
phẩm giá và địa vị của mình. Bàn về chủ đề Phụ
Nữ, BILA II đã đề nghị là trong các ủy ban của
Giáo Hội địa phương, nên có ít là 30% thành viên
thuộc nữ giới, và nếu làm việc thường xuyên,
thì phải được trả lương, nhất là đối với các
nữ tu. Ðôi lúc, người bên ngoài nhìn vào trong sinh
hoạt Giáo Hội, thay vì thấy “nữ tu” thì chỉ thấy
“nữ tỳ”... Tình trạng này mang ý nghĩa biểu
tượng: chiếu lên hình ảnh của một Hội thánh đi
ngược với nguyên tắc và giáo lý “nam nữ bình
đẳng.” Dân ngoài Kitô giáo sẽ coi chế độ quân
chủ công giáo như một tổ chức hình chóp: đứng
trên đỉnh là giám mục hoặc cha sở, ở dưới đáy nữ
giới;
đứng đầu các cơ
cấu quyết định là các giám mục và linh mục quản
xứ; mọi người khác có bổn phận tuân theo... và
làm như không có một sự kiểm sát nào đối với
đầu chóp! “Giáo Hội tham gia” phải ra sức để thay
đổi hình ảnh lệch lạc ấy, cho thấy Giáo Hội thật
là
gia đình của những anh
chị em trong Ðức Kitô, trong đó nam cũng như nữ đều
giữ đúng vai trò thích đáng và đặc thù của mình.
Dù chỉ là
thiểu số ở Châu Á, Giáo Hội có một nhiệm vụ –
một sứ mệnh – lớn đối với nữ giới tại lục
địa này. Ðành rằng phải bắt đầu bằng gương
sáng... Ðối với sứ mệnh này, các nữ tu đóng
giữ một vai trò quả là tích cực, vì họ có mặt
tại nhiều nơi, dấn thân đắc lực vào trong công
tác xã hội, lại được đào tạo để đối phó
các vấn đề của phụ nữ, ngoài ra còn những cơ
sở làm căn cứ vững chắc trong việc vận động
để giải phóng phụ nữ, v.v. FABC đã từng đề xuất
một số sáng kiến cụ thể; việc của Giáo Hội địa
phương bây giờ là phải mạnh mẽ dấn bước vào con
đường ấy: suy tư thần học về chủ đề “nam nữ
bình đẳng,” huấn luyện cho giáo sĩ làm quen với
các suy tư ấy, dùng truyền thông đại chúng để
quảng bá tư tưởng ấy, đẩy mạnh
vai trò và việc hợp tác của phụ nữ trong các cơ
cấu Giáo Hội, thiết lập những cơ chế vừa công
giáo vừa liên tôn nhằm bênh vực và giải phóng
nữ giới trong hết mọi lãnh vực sinh hoạt xã hội,
đào tạo người và đầu tư tài nguyên cho công
trình ấy, v.v. phỤ nỮ vỚi chỨc linh mỤc Ðã bàn đến
vai trò của phụ nữ trong Giáo Hội ngày nay, thì
không thể lặng thinh làm ngơ trước vấn đề này.
Chủ đề quả hiện đang hết sức sôi nổi, nếu không
nói là đang đưa tới tình trạng căng thẳng tại một
số nước, đến độ hai phía thuận và chống không
còn đối thoại được với nhau, sinh ra chia rẽ trầm
trọng; từ đó, một vài nhóm phụ nữ đã tự
động thành lập công
đoàn họ gọi là
“Giáo Hội nữ giới.”
[16]
Vấn đề đã thành “toàn
cầu hóa” sau khi Anh giáo “truyền chức” linh mục
và giám mục
cho phụ nữ; một
số phụ nữ công giáo cũng đã được truyền chức
linh mục một cách bất hợp luật; và trong Chính thống
giáo vấn đề cũng được đặt ra.
[17]
Ðức Phaolô VI
đã lưu tâm đến vấn đề; ngài đặt câu hỏi: phụ
nữ có thể lãnh chức linh mục hay không? Năm 1975,
Uỷ ban Kinh Thánh
nhận định rằng nếu chỉ tầm cứu Kinh Thánh không
thôi, thì không thể trả lời câu hỏi một cách
đích xác được. Sau đó, ngày 15.8.1976, bộ giáo lý
đức tin đưa ra bản tuyên bố Inter
insigniores. Dựa vào cách
thức hành động của Ðức Kitô và các tông đồ,
cũng như dựa vào lề lối tiến hành trong truyền
thống của Giáo Hội, bộ khẳng định rằng: “Vì phải
trung thành với mẫu gương hành động Chúa để lại,
Giáo Hội nghĩ là mình không có quyền để đón nhận
phụ nữ vào chức thánh.” Rồi ngày 27.01.1977, bộ
giáo lý đức tin đã công bố một tài liệu chính
thức, nêu rõ những lý do thần học liên quan đến vấn
đề:
truyền thống bên Ðông
cũng như bên Tây đều nhất trí về điểm có tính
cách tín lý này, và cũng vì thế mà cho đến gần
đây, thần học đã coi giáo lý này là chắc chắn hoặc
thuộc giáo lý
đức tin.
Ðức Giêsu chỉ chọn
những người thuộc nam giới để đặt làm tông đồ
– “mầm mống” của thừa tác vụ thánh – và sau
này các tông đồ cũng chỉ chọn những người thuộc
nam giới để trao cho nhiệm vụ làm niên trưởng và
giám mục trong các cộng đoàn. Không phải là vì
không coi trọng nữ giới – dù văn hóa thời ấy
có tỏ ra là thế – mà các
ngài đã làm như
vậy,
song là vì
muốn hoàn toàn tuân theo ý định của Thiên Chúa
đối với kế hoạch cứu độ diễn ra một cách cụ
thể giữa lòng lịch sử loài người. Sau này, thần
học về bí tích suy giải rằng Ðức Kitô thuộc nam
giới, thế nên, là biểu tượng thay mặt Ngài, linh
mục cũng phải thuộc nam giới. Và nói cho cùng, dù
nam hay nữ, không một ai có quyền đòi hỏi cho mình
ơn làm tư tế; vì thế, đây không phải là vấn đề
công bằng hay bất công. Ngoài ra, cũng cần ý thức
về bản
chất của Giáo Hội
để hiểu rằng quyền bình đẳng giữa công đồng
kitô không triệt tiêu mất đi những khác biệt phong
phú. Và đặc sủng trường mọi kitô hữu có bổn
phận gia công tìm kiếm trước hết và hơn hết, không
phải là chức năng tư tế, song là đức ái (x. 1Cr
12-13); trong nước Thiên Chúa, người lớn nhất không
phải là thừa tác viên tư tế, song là người sống
thánh. Theo
Giáo luật, “Chỉ
người nam đã chịu phép Rửa
tội mới được lãnh nhận hữu
hiệu bí tích truyền chức thánh” (đ.
1024). Trong thư gửi cho
Phụ nữ Bắc kinh (29.6.1995), Ðức Gioan Phaolô II viết
rằng: “Nếu, hoàn toàn tự do – như cả Phúc âm
lẫn truyền thống Giáo Hội thường xuyên cho thấy rõ
– Ðức Kitô đã chỉ muốn trao phó cho những người
thuộc nam giới không thôi, nhiệm vụ làm ‘hình
ảnh’ (icon) của bộ
mặt Ngài theo tư thế là ‘mục tử’ và là ‘tân
lang’ của Giáo Hội qua việc thi hành thừa tác vụ
tư tế, thì việc này không mảy may làm giảm thiểu
phẩm giá và vai trò của phụ nữ, hoặc của bất
cứ thành viên nào khác không chịu chức linh mục
trong Giáo Hội, bởi vì hết
thảy đều đồng chia sẻ phẩm giá của “chức tư tế chung”
do bí tích Rửa tội” (số 11).
Dĩ nhiên là nên đón nhận giáo thuyết chính thức, có luận chứng vững chắc, có sức thu phục, và trên nguyên tắc hưởng ưu tiên về mặt chính xác; tuy nhiên, có nhiều người vẫn giữ lập trường ngược lại. Hai phía đồng ý là Kinh Thánh không nghiêng về bên nào cả. Còn những sự kiện lịch sử thì có thể giải thích nhiều cách khác nhau. Và cần phải cẩn thận khi viện vào “truyền thống trường kỳ” để làm lý chứng, vì Giáo Hội đã từng nếm kinh nghiệm chua cay trong các vụ: Galilêô (việc coi trái đất là trung tâm của vũ trụ), coi Môsê là tác giả của Ngũ thư, cách hiểu tính chất vô ngộ của Kinh Thánh và tính cách lịch sử của Phúc âm, v.v. Tuân theo Ðức Kitô là điều tất yếu; tuy nhiên, thần học cũng nhận ra rằng trong lãnh vực tổ chức cơ cấu, Ngài đã để tự do rộng rãi cho Giáo Hội. Công đồng Trentô dạy rằng Giáo Hội không có quyền trên “bản tính” của bí tích; nhưng phải hiểu thế nào đây về “bản tính” ấy. Hai phía đều nhận biết là thời xưa đã có những phụ nữ đã chịu chức phó tế, và hiện giờ đang có phong trào chủ trương phục hồi chức ấy trong Giáo Hội. [18] Nếu bí tích chức thánh chỉ là một với ba bậc – phó tế, linh mục và giám mục – và nếu đã chịu chức phó tế, tất phụ nữ đã từng lãnh nhận chức thánh. Hẳn, hiện nay thần học về chức phó tế còn rất là mù mờ; rất có thể đó chỉ là ‘chức thánh’ theo tính cách Giáo Hội. “Luật tối cao trong Giáo Hội là phần rỗi các linh hồn” (đ. 1752); thiết tưởng cần phải giải đáp vấn nạn dựa vào hậu cảnh “phần rỗi các linh hồn.” Trong xã hội hiện đại, với nhiều đổi thay trong các nền văn hóa, giá trị “nam nữ bình đẳng” là một dấu chỉ của thời đại, tựa như lời của Thần Khí nói với Giáo Hội. Nếu thần học suy lý không đồng ý về việc truyền chức linh mục cho phụ nữ, thì có lẽ thần học mục vụ sẽ giúp cho thấy rõ hơn điều mà “phần rỗi các linh hồn” đòi hỏi. Trong Thư gửi cho phụ nữ, Ðức Gioan Phaolô II nhận định rằng: “Trong thiên niên thứ ba, đời sống Giáo Hội chắc chắn sẽ không thiếu cơ hội để chứng kiến những biểu hiện mới và bất ngờ của ‘thiên tài’ nữ giới” (số 11). [19] * * * Trong
những thời gian gần
đây, thường nghe vọng lên như một lời “tiên tri”
nói rằng: thế kỷ 21 sẽ chứng kiến việc xuất hiện
“Giáo Hội của giáo dân.” Thực ra, Giáo Hội đâu
phải là Giáo Hội của giáo dân hay của giáo sĩ, song
là của Ðức Kitô. Thành viên tất cả làm nên dân
Chúa với hết mọi đoàn sủng, năng động và chức
năng, mà Thiên Chúa phân phát qua các bí tích, đặc
biệt là các bí tích Rửa tội, Thánh chức và Hôn
phối. Nhờ Thần Khí linh hứng Nhiệm thể, hết thảy,
cả giáo dân lẫn giáo sĩ, đều phải đảm nhận
trách nhiệm đối với toàn thân Hội thánh, mỗi
người một cách, tùy ơn gọi và khả năng của mình,
theo cách thánh Phaolô miêu tả: “Chính Ðức Kitô
đã ban ơn cho kẻ này làm tông đồ, người nọ làm
ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin mừng, kẻ
khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ, nhờ đó
các tín hữu được trang bị để làm công việc phục
vụ là xây dựng thân thể Ðức Kitô...” (Ep
4:11-12).
[1]
Letter
to Women, 29.6.1998, số 3.
[2]
FABC 4, Tokyo 1986, số
3.3.3.
[3]
Moltmann-Wendel,
Elisabeth, The women around Jesus: reflections on authentic personhood,
SCM Press London, 1982.
[4]
Xin xem Jo Ann Kay McNamara, Sisters in Arms: Catholic Nuns Through Two Millennia, Harvard
University Press, 1996.
[5]
Xin xem Montreynaud Florence (ed.), Le
XXe siècle des femmes, Paris: Nathan, nouvelle édition,
1999.
[6]
Xin xem Schottroff,
Luise, Lydia's impatient sisters: a feminist social history of early
christianity, SCM Press London 1994. Nói chung, xin xem Gross, Rita M. Feminism
and Religion: An Introduction, Beacon Press, 1996, Anne Marie
Pelletier, Le Christianisme et
les femmes, Paris:
Cerf, 2001.
[7]
Xin xem Fiorenza, Elizabeth Schüssler, ed. The Power
of Naming: A Concilium Reader in
Feminist Liberation Theology,
MaryKnoll, NY: Orbis Books, 1996.
[8]
Những tổ chức
như IMMAC (Internatiơnal Movement We Are Church), hoặc WOW
(Women’s Ordination Worldwide), v.v.
[9]
Ecclesia
in Asia
số 45.
[10]
Xin xem chẳng hạn
Madonna Kolbenschlag (ed.), Women
in the Church I, The Pastoral Press Washington, D.C. 1987; Hyun
K. Chung, Struggle to be the
sun again: introducing Asian women's theology, Orbis Books New
York 1991; Sr
Virginia Fabella, Beyond
Bonding: A Third World Women's Theological Journey, Manila,
1993; Serene Jones, Feminist
Theory and Christian Theology, Minneapolis: Fortress Press,
2000.
[11]
BILA là FABC Lay
Office, Văn Phòng đặc trách Giáo Dân.
[12]
Xin xem FABC Papers số
92c.
[13]
Xin xem
Mulieris Dignitatem số 10.
[14]
Ibid. số 1 và
28.
[15]
Sách Giáo Lý
Hội thánh Công Giáo, số 372.
[16]
Xin xem Miriam Therese
Winter, “The
Women-Church Movement,” Christian
Century, March 1, 1989, tr. 227; tin tức và tài liệu
liên quan đến Giáo Hội và phụ nữ trong http://www.women-churchconvergence.org
và www. womenpriests.org. Hồng y Ratzinger, Monitum về việc một số phụ nữ cố kiếm cách để
chịu chức linh muc (10.7.2002).
[17]
Elisabeth BehrSigel et Mgr Kallistos Ware, L'Ordination
des femmes dans l'Église orthodoxe, Paris: Cerf, 1998.
[18]
Tác phẩm đáng lưu ý nhấ là Dorothea Reininger, Diakonat
der Frau in der Einen Kirche, Schwabenverlag 1999; xin cũng
xem Phyllis Zagano, Holy
Saturday: An Argument for the Restoration of Female Diaconate in the
Catholic Church, Crossroad, 2000.
[19]
Xin xem National
Catholic Reporter, June 1997, Paper
Presented for consideration at the 1997 CTSA convention in
Minneapolis: “Tradition
and the Ordination of Women.”
|