CÔNG CUỘC CỨU ÐỘ

VẤn đỀ và mẦu nhiỆm

 II. khái LƯỢC

                                                                                                       Jean Millet [1]

             Nhập Đề

             I-Những cách giải thích về vấn đề Cứu Ðộ

                             . Học thuyết thần nghiệm của thánh Irênê

                             . Học thuyết chuộc lại

                             . Học thuyết thay thế

                             . Học thuyết đền thay của thánh Anxenmô

                             . Cách giải thích khả thể

II Những điểm then chốt trong vấn đề Cứu Ðộ: sự dữ và tội lỗi

                             .Vấn đề sự dữ

                                      - Những phản ứng trước vấn đề sự dữ

                                     - Những dạng thái của sự dữ

                             . Sự đau khổ

                                      - như thách đố đối với quán tính

       - như là điều không thể tránh được

                   . Lời vặn hỏi: thế giới này là thế giới hoàn hảo nhất có thể?

                             . Ðón nhận thánh ý Chúa

                             . Tội lỗi loài người:

                                      - tội lỗi là tình trạng hổn loạn

                                       - tội lỗi dưới những hình thức khác nhau

                             . Tội nguyên tổ

              III - Công trình Cứu Ðộ bởi thập giá        

                             . Tính cách khẩn thiết của ơn cứu độ

                             . Nhờ đến lễ tế hy sinh (René Girard)

                             . Nhờ đến luận đề tiêu hủy

     . Công cuộc Cứu Ðộ: biểu chứng tình yêu vô biên

             IV - Mầu nhiệm Cứu Ðộ trong đời sống thiêng liêng

     . Thánh giá: biểu tượng của Kitô giáo giữa nhân loại

                             . Thánh giá trong đời sống cá nhân mỗi người

             Kết luận: 

Chúng ta là những người được cứu độ.

     

Trong các bài nghiên cứu có tính cách triết học như thế này, chúng tôi đã thường có dịp bày tỏ thái độ đáng tiếc về tình trạng thiếu thông hiểu nhau giữa những khẳng định trong đức tin và tư tưởng của thời đại. Lý do là vì các từ được dùng bị hiểu sai; các tư tưởng đề xuất không được diễn giải cho đúng. Có lẽ tình trạng hiểu lầm này đã dâng cao tột đỉnh khi đề cập đến các biểu đề thần học về công cuộc Cứu Ðộ. Những điểm thường được nhắc đến là hậu quả tác hại do tội lỗi gây nên, sự cần thiết của một dạng ơn cứu độ, tính cách hữu hiệu của một loại lễ tế hy sinh cứu độ... Thế nhưng, hầu như tất cả các ý niệm này đều hoàn toàn xa lạ đối với tư tưởng của thời đại nói chung. Quả thế, hiện không còn ai nói đến tội nữa; cũng chẳng ai thấy cần được cứu độ; vì đâu có ai thấy mình đang sống cảnh sa đọa hư mất! Ngoài ra, người ta cũng chẳng hiểu tại sao cái chết của một người lại có thể cải thiện được thân phận của toàn thể nhân loại (ngoại trừ để thỏa mãn những nhu cầu bù trừ lặn sâu trong những vùng tăm tối của tiềm thức... như các độc giả của Freud và René Girard vẫn nghĩ). Quả xã hội hiện đang sống qua một thời hổn độn.

Thế nhưng, đề tài Cứu Ðộ lại đóng giữ một vai chính yếu trong toàn bộ suy tư thần học Kitô giáo. Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta Ðức Giêsu Kitô đã từ trời xuống thế, đã chịu đóng đinh vào thập giá dưới thời Phongxiô Philatô, chịu khổ hình và mai táng. Bài giảng thuyết nào, buổi suy niệm nào rồi cũng đều hướng về cuộc hy tế của Ðức Kitô và cái chết của Ngài trên thập giá. Không sao kể hết được những tác phẩm văn chương tôn giáo viết về cuộc tử nạn cứu độ của Ðức Kitô; và đó vẫn mãi là vấn đề đặc biệt phong phú ở bất cứ thời đại nào. Ngành ảnh thánh (iconographie) cũng tỏ ra không kém phong phú trong cách thức biểu đạt vấn đề. Khoa hội họa cũng như thuật điêu khắc thì tha hồ tranh tài diễn trình về cái chết của Ðức Kitô trên thập giá... từ Ðức Kitô của Grunwald cho đến Ðức Kitô của Rouault... từ tượng Ðức Kitô của Perpignan cho đến tuyệt tác điêu khắc Ðức Maria ẵm xác con mình của Michel-Ange.

Trước những tác phẩm hoài niệm vô số như thế, tư tưởng thời nay hết sức phân vân, tự hỏi tại sao các thế hệ trước lại tán dương sự khổ đau của Ðức Kitô đến như thế. Một số người còn dám nghĩ đó chỉ là những triệu chứng bệnh hoạn. Càng nghi ngờ hơn nữa khi thấy văn chương tôn giáo cũng như ngành ảnh thánh theo cảm hứng Cận Ðông thì lại khác, không sáng tác chi mấy về chủ đề khổ đau của Ðức Kitô. Nhìn các ảnh thánh Ðông phương (icônes) là thấy cả một bầu khí an bình, thanh thản, chứ không phải là khổ đau. Các ảnh thánh biểu họa Ðức Kitô-Toàn năng (Christ-Pantocrator) trên các vòm trần đền thờ thuộc nghi lễ bidăntinô (Ðông Phương) có sức truyền cảm làm cho sống dậy Vinh quang của một Ðức Kitô khải hoàn, hơn là gợi lại những khổ đau của một Ðức Kitô bị chối bỏ, bị nhục mạ. Phải chăng chúng ta, người Âu Tây, đã rơi cả vào trong một thứ suy chiêm có phần bệnh hoạn, coi thất bại hấp dẫn hơn thành công? Một vài người cho rằng, nếu thế thì quả đó là một dấu hiệu thật đáng lo ngại, bởi nó vén mở cho thấy thái độ tự mãn của một xã hội đang bước vào hồi xế chiều (Hegel).

Vậy, thực hư ra sao? Phải hiểu thế nào về vấn đề Cứu Ðộ trong bối cảnh tư tưởng ngày nay với vô số yêu sách về mặt phê bình lịch sử và phân tâm học? Có thể sống mầu nhiệm Cứu Ðộ với trọn ý nghĩa sung mãn của nó không? Ðó là những câu hỏi bài viết nêu lên trước khi bước vào công tác suy tư triết học này. Có nhiều cách khả thể trong phương thức nghiên cứu vấn đề: trước hết, vấn đề cần bàn đến, thực ra là gì, và phải hiểu thế nào là Cứu Ðộ? Quả vậy, dù đã trải qua bao nhiêu thế kỷ suy tư thần học, ý niệm Cứu Ðộ vẫn còn rất mù mờ trong đầu óc của nhiều người. Ðâu là những điểm then chốt trong thảm cảnh ấy? Có người cho đó là một cuộc hành quân để giải thoát con người ra khỏi vòng thống trị của sự dữ và tội lỗi. Nhưng sự dữ là gì? Tội lỗi là gì? Và hơn nữa, tội nguyên tổ là gì mà cứ đặt đè nặng trên đầu trên cổ của hết mọi con cái loài người? Ngày nay, đâu đâu các câu hỏi này cũng cứ lảng vảng trong tâm trí con người. Vậy thì ơn cứu độ ấy là gì mà được hứa ban cho loài người, cho cả những kẻ không chút quan tâm gì đến chuyện được hay không được cứu độ, bởi đơn giản là vì họ không mảy may thấy mình đang hư mất? Sau khi thử đề ra một vài câu trả lời cho các nghi vấn trên đây, bài viết sẽ cố tìm xem làm thế nào để người của thế kỷ 20 này có thể đi đến chỗ nhận thức được vấn đề Cứu Ðộ. Mầu nhiệm thập giá vẫn còn có thể giữ được chỗ đứng của mình hay không, ở trong tâm thức của một nhân loại đang hăm hở tìm cách chinh phục và thống trị mọi sự? Ở trong tâm thức của mỗi một người chúng ta, là những con người yếu hèn, đang tiến bước đi về Quê Hương trên trời?

I - NHỮNG GIẢI THÍCH VỀ VẤN ÐỀ CỨU ÐỘ

Vấn đề này đã được giải thích nhiều suốt trong dòng lịch sử, và cho đến bây giờ, Giáo Hội vẫn nhìn nhận nhiều cách giải thích khác nhau. Nhưng công thức tín lý thì lại rất hiếm hoi: điều này cho thấy đó quả là một vấn đề phức tạp, không dễ nghiên cứu. Dẫu sao, ghi lại những cách giải thích nổi tiếng nhất vẫn là việc làm hữu ích, bởi sẽ giúp soi sáng cho các cuộc tranh luận còn tiếp tục diễn ra trong cách kiểu thời nay.

Trước hết, nên cùng với tất cả các thần học gia, ghi nhận rằng khác với điều mọi người vẫn tưởng, cho đến nay lịch sử chưa bao giờ thấy được một minh định tín lý nào về chủ đề Cứu Ðộ. Ai cũng nhận nhận là: các bản tuyên tín liên quan đến vấn đề đều vắn gọn và có tính cách chắp nối từ nhiều mảnh. Và còn có thể đi xa hơn nữa để nói rằng: Kinh Thánh không giới thiệu một giáo lý có hệ thống nào về vấn đề Cứu Ðộ. [2] Có mặt một cách rải rác và thoáng mờ ở trong các Phúc Âm, vấn đề đã được chính thánh Phaolô nêu lên minh bạch. Có thể nói là vấn đề Cứu Ðộ nằm ở tâm điểm của tư tưởng thánh nhân. Ngài thường nhắc rằng: Ðiều mà Ađam đầu đã đánh mất thì Ađam mới đã chuộc lại, thì Ðức Kitô đã chuộc lại qua cuộc hiến dâng mạng sống mình trên thập giá. Vì chúng ta, Ngài đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Cái chết của Ðức Kitô không phải là một cảnh ngộ ác nghiệt nằm trong một định mệnh phải được kết thúc trong vinh quang chói lọi, nhưng là một dữ kiện chủ yếu, là thời điểm then chốt, là thời điểm quyết định... đã thực sự làm cho chúng ta có được trọn quyền đi vào trong Nước Thiên Chúa.

Sau đó, các giáo phụ đã tiếp tục ra sức để tìm hiểu về ý nghĩa của thảm cảnh ấy, thảm cảnh ẩn chứa trong những Mầu Nhiệm thánh thiêng nhất. Nhưng, phải nhận rằng khó mà hiểu cho thấu hết những suy tư phức tạp và thường lại được biểu đạt quá công phu của các ngài. Các suy tư ấy chỉ thực sự bắt đầu hình thành từ thế kỷ 3 (mặc dầu trước đó đã có nỗ lực đóng góp của thánh Irênê). Từ các dữ liệu khác nhau đó thành quả suy tư của các giáo phụ thì đã có thể thử rút ra được một mẫu định nghĩa sơ khởi. Theo một công thức đề xuất gần đây nhất thì có thể hiểu Cứu Ðộ là mầu nhiệm về cuộc giải phóng khỏi một cảnh nô lệ, đã được thực hiện do quyền năng của Thiên Chúa, và trong công trình giải phóng này, Con Thiên Chúa nhập thể đã đem chính mạng sống mình mà đền bù. [3] Ðành rằng đây là một mầu nhiệm như đã được nói lên trong tựa đề của bài viết và không ai dám nuôi tham vọng giải thích tất cả những gì đã xảy ra. Ðược biết rằng kết quả của công trình ấy là một cuộc giải phóng khỏi tội lỗi và khỏi ách nô lệ của tội lỗi. Và cũng được biết rằng công cuộc giải cứu này đã được thực hiện bởi quyền năng của Thiên Chúa: đây không phải là một cuộc thanh luyện đơn thuần loài người.

Và điều thường được nghe nói là cuộc giải phóng ấy có được là nhờ Con Thiên Chúa, Ðức Kitô, đã đem chính mạng sống mình mà trả giá. Ðây là điểm làm cho óc phê bình ngày nay gặp khó khăn: tại sao lại phải trả giá? Nhất thiết phải nạp một giá chuộc sao? Thiên Chúa nào lại đi đòi một giá chuộc như thế? Việc đòi buộc đó từ đâu mà tới? Ðặc biệt là ở điểm này, trí óc con người cảm thấy như bị hụt chân và đâm ra choáng váng nhiều hơn hết. Trước tiên, hãy thử xem những người đi trước đã nói gì về vấn đề này?

Học Thuyết Thần Nghiệm ( thánh Irênê)

Thánh Irênê (~130-200, giám mục thành Lyon, Pháp) đồ đệ của thánh Polycarpe, và thánh Polycarpe lại là đồ đệ của thánh Gioan Tông đồ; như thế là hãy còn rất gần với cội gốc đã đoán biết những khó khăn; chính vì vậy mà trong cuốn Chống Lạc giáo (Adversus Haereses) ngài đã đặt câu hỏi như sau: Bằng cách nào cái chết của Ðức Kitô trên thập giá đã có thể làm cho chúng ta đáng được vào Nước Trời? Câu trả lời của ngài là câu trả lời thuộc loại thần nghiệm. Ngài viện dẫn học thuyết đã nổi danh thời đó của thánh Phaolô nói về việc thâu họp (récapitulation) nhân loại đã được tái sinh trong Ðức Kitô. Ngài còn cho rằng việc thâu họp đó đã được niêm ấn bằng máu thánh trên đồi Canvê, nhưng lại không nói rõ về các cách thức thể hiện của sự việc ấy. Về sau, luận đề đã được nhiều giáo phụ khác lấy lại, như Hippôlyte, thánh Athanase, thánh Grégoire de Nysse, v.v...

Nhưng, theo các nhà bình giải thì luận đề vẫn còn nhiều thiếu sót và không rõ ràng đủ. Ðau khổ trên đồi Canvê có mang thêm được gì cho cuộc tổng thâu họp nhân loại? Sau này, đưa ra nhận xét trong chiều hướng đó, Duns Scot nói rằng: chỉ cần nhập thể, chứ chẳng cần phải chịu đau khổ, thì Ðức Kitô cũng đã có thể hoàn thành công cuộc thâu họp kia; còn việc cứu độ thế giới thì cũng đã có thể được thực hiện chỉ đơn thuần bằng một nguyện ước nội tâm không thôi của Ðức Kitô! Vì thế, nhận xét trên đây cần được đào sâu thêm.

Học Thuyết Chuộc Lại

Ôrigênê là người đề xuất học thuyết này, dựa vào ý niệm mua chuộc, lấy từ thông tục mua bán nô lệ thời xưa. Luận đề cho là: Vì tội lỗi, con người đã trở thành nô lệ của Satan. Vậy, theo lẽ đương nhiên, nếu muốn đảm bảo hạnh phúc cho con người, thì chính Ðức Kitô phải chuộc họ lại từ tay Satan. Vì thế, Ðức Kitô đã phó nộp cho Satan mạng sống của Ngài làm giá chuộc. Nguôi lòng và thỏa mãn với lễ tế hy sinh của Ðức Kitô một lễ tế có giá trị vô biên Satan bằng lòng để con người được tự do khỏi vòng nô lệ của nó. Dù có quái dị, luận đề cũng đã được rộng rãi phổ biến trong những thế kỷ đầu lịch sử Kitô giáo. Thánh Ambrôxiô tán đồng; thánh Âugutinô lấy làm quan điểm của mình. Cho đến thời Trung Cổ cũng còn gặp thấy học thuyết ấy: thánh Tôma Aquinô vẫn nói đến quyền của quỷ dữ trên con người trước khi được Ðức Kitô cứu chuộc. [4]

Ðành là hấp dẫn đối với trí tưởng tượng con người, nhưng luận đề thiếu hẳn nền tảng thần học cũng như triết học. Quỷ dữ được dành cho quá nhiều quyền hành, mà thực ra, nó cũng chỉ là tạo vật, và phải được coi là như thế. Vậy thì, để nói cho có lý sự, không thể có chuyện trao cho quỷ dữ quyền được đặt điều kiện cho Ðấng Tối Cao. Chấp chứa quá nhiều thần thoại và để cho chúng tự do thao túng, lối giải thích này thuộc loại không thể chấp nhận được.

Học Thuyết Thay Thế

Ở đây, câu chuyện không xoay quanh quỷ dữ, nhưng chú trọng đến quyền năng của Thiên Chúa. Tội lỗi con người là hành động xúc phạm đến tính Thiên Chúa uy nghi, đến Thiên Chúa chí tôn chí thánh. Hành động xúc phạm đó đã gây ra một tình trạng gián đoạn không thể nào con người hàn gắn được. Cần phải có một sự đền bù tương xứng với phẩm vị của Ðấng đã bị xúc phạm, để tái tạo cho được thế cân bằng giữa đôi bên. Ðó là điều hợp lý. Vì thế, Ðức Kitô đã dâng hiến chính mình làm của lễ tế đền bù thay thế, và lễ tế của Ngài đã tái lập thế cân bằng về quyền và tình trạng hài hòa hợp lý. Luận thuyết này đã xuất hiện từ từ trong suy tư của một vài giáo phụ Hy Lạp (như thánh Gioan Kim Khẩu và sau này thánh Gioan Ðamasênô), và có phần nổi tiếng trong thời Trung Cổ, bởi đã tỏ ra khá phù hợp với nội dung của mạc khải. Nhiều đoạn Kinh Thánh xác chứng cho điều đó. Cựu Ước đã từng báo cho biết trước: Cha không ưng nhận lễ vật chiên bò, vì thế, này đây, con xin đến để làm theo thánh ý Cha. Thánh Phaolô cũng thường nhắc đến điều ấy (đặc biệt là trong thư gửi tín hữu Thêxalônica). Ngoài ra, ít mùi thần thoại, luận thuyết này cũng làm cho đầu óc được nhẹ nhõm hơn nhiều, chứ không như các giả thuyết nhắc đến trên kia.

Tuy nhiên, cũng còn nhiều điểm chưa được sáng tỏ cho đủ. Giả thuyết không thể chứng minh được rằng sự việc Ðức Kitô phải chết là cần thiết. Bởi trong cương vị là Con Thiên Chúa nhập thể, Ngài chỉ cần có mặt để chuyển cầu thay cho là đủ, trừ phi cho rằng bản tính Thiên Chúa đòi phải có hy lễ đổ máu, nhưng giả thiết như thế thì thật là quá ghê rợn. Về ý kiến cho rằng phải có một thế cân bằng, một mức độ tương đương đã bị tội lỗi phá vỡ trong lòng thần phục đối với Thiên Chúa, thì cũng chưa có gì rõ ràng cho lắm. Một vài người (Harnack) cho rằng đó chỉ là dấu vết còn sót lại từ các pháp định đặc biệt trong Bộ Luật bên Ðức hồi thời Trung Cổ. Xúc phạm phải được đền bù bằng máu (thói lệ đấu tay đôi, duel). Lối giải thích còn cho thấy là đã đi quá xa, không dẫn trưng chứng cứ cho đủ. Cách hiểu về ý niệm thay thế để đền bù hình như còn quá mù mờ, bấp bênh.

Học Thuyết Đền Thay (thánh Anxenmô)

Học thuyết này rồi sẽ nổi tiếng lớn, và mãi cho tới thế kỷ 19, vẫn còn được dùng đến trong nhiều bộ sách thần học. Khó chịu nếu không nói là bực bội vì lối giải thích không rõ ràng các học thuyết trước ngài đã đưa ra, thánh Anxenmô đã quyết ra sức xét lại vấn đề và cố tìm cho ra một câu trả lời có cơ sở vững chắc hơn. Ngài đã dành một phần xứng đáng của tác phẩm Cur Deus homo [5] để thực hiện ý định ấy. Ðành rằng luận thuyết của Ngài có phần giống với học thuyết chuộc lại, nhưng không vì thế mà đã không tiến hành cuộc biện luận một cách nghiêm túc hơn. Ngài nói đến sự cần thiết phải có một cuộc đền thay (satisfaction vicaire), nghĩa là với lễ tế hy sinh của Ngài, Ðức Kitô đã đền bù tất cả những gì một trật tự phải lẽ đòi hỏi, và phải hiểu việc đáp trả ấy là một việc làm thay thế (hiểu theo từ nguyên), tức có sự can thiệp của một người thay thế. Quả hai học thuyết chuộc lại và thay thế xuất hiện rõ dưới hình thức phối hợp trong giải thuyết đền thay.

Cần xác định rõ: tự bản chất (chớ không chỉ ở trong lương tâm của tội nhân), tội là một tình trạng hỗn độn (désordre). Hiểu như thế, tội quả là một hành động xúc phạm tận gốc đến trật tự Thiên Chúa đã an bài. Do đó, có thể tiên dự được rằng để tái lập trật tự, cần phải có Thiên Chúa can thiệp, bằng một hành động can thiệp có thể nói là tàn bạo (brutalement). Hình phạt đang đe dọa, và con người thì yếu hèn bất lực, không thể tự sức mình khẩn cầu để chặn đứng mối đe dọa ấy; thế nên, Ðức Kitô đã phải can thiệp. Là Con người-Chúa, Ngài có đủ thế giá để chuyển cầu với sức năng thần linh. Ngài đã hiến chính thân mình làm của lễ tế toàn thiêu dâng lên Chúa Cha. Và bởi động lòng xót thương, Chúa Cha đã bãi bỏ hình phạt đi.

Ðó là nội dung của luận thuyết được nhiều người hoan nghênh, và vẫn còn được dùng làm cơ sở cho một số bài giảng thuyết. Luận thuyết đâm rễ sâu vào trong tác phẩm của các giáo phụ cũng như của chính thánh Phaolô (cả trong thư gửi tín hữu Do Thái). Ngoài ra, luận thuyết cũng làm cho trí óc được thỏa nhiều hơn. Ý nghĩ cho rằng tội lỗi hắc ám được đền bù bằng lễ tế hy sinh của một Ðấng Công Chính làm nảy sinh lên trong tâm trí một tác dụng bù trừ, khá hấp dẫn... ít ra là theo nhận định phỏng chừng phút đầu. Học thuyết này được toàn thể các thần học gia và triết gia cuối thời Trung Cổ chấp nhận. Thế nhưng, chưa hoàn toàn thỏa mãn, Duns Scot nhận xét rằng để trò chơi bù trừ ấy được hoàn tất, thì cần phải có sự ưng thuận của Chúa Cha, vì Ngài vẫn có thể từ chối lễ tế dù là do chính Con Một Ngài, Con người-Chúa, dâng hiến: Con người phải dâng lên Chúa Cha một lòng biết ơn bao la vì đã vui nhận lễ tế hy sinh ấy. Và rồi vấn đề lại được đặt ra, xoay quanh thái độ ưng nhận của Chúa Cha.

Tất cả những ngập ngừng, những cố gắng giải thích của buổi đầu vẫn tiếp tục hằn rõ nhiều thế kỷ sau, trên nỗ lực nghiên cứu vấn đề. Công đồng Trentô đã nhận là vấn đề chưa được giải quyết. Chính cái chết của Ðức Giêsu Kitô đã mang lại ơn cứu độ cho loài người: về điều này không hề có ai nghi ngờ bao giờ. Nhưng là bằng cách nào? Chưa ai biết phải trả lời như thế nào. Với thời gian, ý niệm đền thay được từ từ chấp nhận (như các thần học gia Salamanca chẳng hạn...). Nhưng cách giải thích về nền tảng của đòi hỏi phải đền thay như thế vẫn còn mập mờ. Tuy nhiên, để cho khách quan thì xin nêu lên đây luận đề gần đây nhất của René Girard theo đó, việc tự hiến tế của Ðức Kitô phải được đối chiếu song song với việc sát tế oan dương (con dê gánh tội). Ngài đã gánh lấy mọi tội lỗi của chúng ta (thánh Phaolô) và đã tự hiến tế chính mình thay cho chúng ta. Nhưng René Girard lưu ý lần này hành động hy sinh mạng sống mang một ý nghĩa mới: nhân vật hiến sinh tự do bước vào cuộc tử nạn của mình. Chính nhờ sự tự do này lần đầu tiên thấy nói đến trong bối cảnh cứu độ mà cuộc sát tế sẽ là cuộc hiến tế cuối cùng; bởi một khi đã thăng hoa được mặc cảm tội lỗi, thì lương tâm sẽ cảm thấy nhẹ nhàng. Và như thế, không còn cần đến lễ sát tế nữa (trong một phần sau, bài viết sẽ có dịp bàn thêm về giả thuyết mới này) [6]

Cách Giải Thích Khả Thể

Không có tham vọng đề xuất một giải thuyết mới, bài viết chỉ muốn lập lại những gì trí thông minh thời nay trang bị đầy ắp với những đòi hỏi rất cao về mặt khái niệm, và với một óc phê bình tỉnh táo, không gì qua mặt nổi đã tiếp thu được từ những cố gắng suy tư của các thế hệ đi trước.

Hai điều chủ yếu cần nhắc tới:

Trước hết, khi giải thích vấn đề, cần phải biết đề phòng để tránh cho khỏi các cạm bẫy của chủ thuyết nhân hình (anthropomorphisme). Ðừng cứ dựa theo lối hành xử loài người để suy đoán ra cách hành xử của Thiên Chúa. Thường thì nên giữ thái độ lặng thinh và nhận là vấn đề vượt quá tầm hiểu biết của mình, hơn là cứ khăng khăng, với bất cứ giá nào, đưa ra cho được một lối giải thích, và rồi chỉ có được một lối giải thích chủ yếu rút ra từ những tập tục loài người hơn là từ sự thật sâu sắc tiềm ẩn nơi các dữ liệu. Nói tóm lại, về mặt tôn giáo cũng như khoa học, nếu không để ý thì con người thường bị những lối miêu tả tượng trưng ngây ngô theo kiểu nhân loại của mình dẫn đi lạc hướng. Nên cẩn thận đề phòng những ảo ảnh do trí tưởng tượng dựng lên. Ðành rằng đã có một kho tàng vô giá là mạc khải, để nói cho con người về Thiên Chúa và các công trình của Người bằng những lời lẽ nhân loại; nhưng khi văn bản thật sự hoặc gần như, không lên tiếng, thì đừng ra sức quảng diễn nhiều hơn là những gì văn bản muốn nói.

Ðó chính là trường hợp mầu nhiệm Cứu Ðộ. Kinh Thánh cho biết những điều cần thiết về tương quan giữa cuộc hiến tế của Ðức Kitô và công cuộc cứu độ nhân loại, cũng như về mối liên hệ chặt chẽ giữa thân phận tội lỗi của con người và cuộc tử nạn của Ngài. Các bậc thầy trong đời sống thiêng liêng (như thánh Catarina Siêna, thánh Têrêxa Avila, thánh Gioan Thánh Giá...) đã từng sống qua mầu nhiệm này... mà không tìm cách tháo tung ra từng mảnh nội dung của thực thể bí nhiệm ấy. Vậy, khiêm tốn là thái độ phải có. Nói thế không có nghĩa là không được phép gạt bỏ đi những sai lầm hiển nhiên của những ai muốn diễn giải nhiều quá. Thế nên, để tiếp tục ứng đáp cho đúng mức những đòi hỏi chính đáng của tư tưởng hiện đại, bài viết thấy cần phải lên tiếng tố giác những lạm dụng tỏ tường nhất trong việc dùng thuyết nhân hình.

Lạm dụng cần nêu rõ trước hết là việc dựa vào thế của ý niệm chuộc lại một cách lệch lạc: không thấy ý niệm ấy có gì ăn khớp được với kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Ở đây không thể có chuyện làm như đang sống giữa một nền kinh tế thị trường, và càng không phải là chuyện mặc cả mua bán. Cứu chuộc con người thoát khỏi ách nô lệ của ma quỷ, khỏi tình trạng ghê tởm của tội lỗi... thực ra tất cả những công thức kiểu này chẳng mang được ý nghĩa gì đáng kể.

Mặc khác, viện dẫn ý niệm về một cuộc đền bù, một sự thay thế cần phải có... thì cũng chẳng có ý nghĩa gì hơn. Có nên giả sử như thế này chăng: mục đích cuộc tử nạn của Ðức Kitô là để làm lắng dịu những đòi hỏi khẩn thiết của một Ðấng Thiên Chúa uy hùng, tựa một ông hoàng như vua Louis 14 xưa kia bị xúc phạm? Ðiều giả thiết này làm cho liên tưởng đến một đoạn trong bài thánh ca bình dân Minuit, chrétiens! (Nửa đêm, hỡi các kitô hữu!) trong đó, có câu hát đại ý là Ðức Kitô đã làm người và đã chết trên thánh giá để làm cho cơn phẩn nộ của Chúa Cha dịu xuống. Những lời ca tiếng hát với âm điệu lãng mạn này không mang được một ý nghĩa nào đối với những ai để tâm suy nghĩ cho sâu xa một chút. Vậy thì phải bỏ đi tất cả những lối suy tư có dây dưa như thế với những ý niệm mua chuộc, đền bù, thay thế... vì tất cả đều chịu quá nhiều ảnh hưởng của thuyết nhân hình (hay quy nhân luận).

Thứ đến, theo đường hướng suy tư truyền thống cũng như tư tưởng tôn giáo hiện đại, thì có thể chấp nhận và hơn thế nữa, phải cầm chắc là: cuộc mạo hiểm Cứu Ðộ nhằm mang lại phần rỗi cho con người, cuộc mạo hiểm được thực hiện qua sự đau khổ và cái chết của Ðức Kitô, chỉ có thể hiểu được trong ánh sáng của toàn bộ kế hoạch vĩ đại Tình yêu [Thiên Chúa] đã đề ra. Tiên nghiệm, và trước cả mọi suy tư thần học hay triết học, thì đã có thể dự cảm được rằng chỉ có một công thức duy nhất để bắt đầu, đó là: Ðức Kitô đã chết vì yêu thương loài người: hết mọi người kitô đều sẵn sàng chấp nhận định đề này. Nhưng vẫn có thể đi xa hơn để thử ra sức hiểu với tất cả thái độ cẩn trọng cần có như đã lưu ý trên kia vì yêu thương loài người có nghĩa là gì.

Quả thực, điều chắc chắn có thể nói trước tiên là Ðức Kitô đã hoàn toàn tự do đón nhận giải pháp tự hiến chính mạng sống mình làm lễ tế. Không có gì không cho phép nghĩ rằng do bởi quyền năng tuyệt đối (de potentia absoluta), Ðức Kitô đã có thể chết một cách tự nhiên sau một cuộc đời làm tròn tác vụ; nhưng, tất cả các dữ liệu đều cho thấy là Ngài đã chấp nhận một cách hoàn toàn tự do, cũng như với trọn ý thức trách nhiệm, hồi chung kết bi thảm đó. Ngài đã tự [do] hiến thân chịu tử hình như đọc thấy trong Kinh nguyện Thánh Thể IV.

Vậy, cần phải tìm hiểu và nếu được thì cả phân tích nữa, hành động tự do ấy. Tại sao Ðức Kitô đã muốn nhận lấy cuộc chung kết bi thảm đó? Câu hỏi làm cho liên tưởng đến một câu nói của Pascal: Tôi chỉ tin những ai dám làm chứng, dù phải mất mạng. Có lẽ đó chính là đường hướng phải theo để giải thích hành động bi thảm của Ðức Kitô, và có lẽ đó cũng chính là đường hướng sẽ giúp cho nhận ra được ý nghĩa sâu kín của công trình Cứu Ðộ.

Cuộc tử nạn đau thương ấy đã được chấp nhận một cách hoàn toàn tự do và được giới thiệu cho cả thế giới sùng kính... như một chứng cử. Ðối lại với biển đời ngập tràn lỗi tội của thế gian (chủ đề này, thánh Âugutinô cũng đã có dịp bàn đến), thì cần phải có cả một đại dương tình thương vô bờ. Hành động hy sinh của Ðức Kitô chính là đại dương Tình thương vô bờ ấy. Ngài đã có thể tránh cho khỏi đi qua cuộc chung kết bi thảm kia (Ta có thể gởi 12 đạo binh thiên thần...), nhưng Ngài đã không muốn làm thế, bởi vì sứ mạng của Ngài cũng như việc cần phải làm cho toàn thể loài người hiểu ra được ý nghĩa của sứ mạng ấy, đòi phải có một chứng cứ bằng máu. Ngài đã yêu thương chúng ta đến độ đã chết vì chúng ta, tất cả các nhà thần nghiệm đều xác quyết như thế.

Quả là có vấn đề đối với công thức vì chúng ta. Vì chúng ta có nghĩa là để tỏ cho con người thấy thái độ tuân phục sâu thẳm của Ngài đối với Thiên Chúa, để nêu rõ cho thấy Ngài đã muốn chứng tỏ điều đó với một chứng cứ bằng máu, ngay cả lúc bị đe dọa và bị chối từ: Ngươi có phải là Ðức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống không? Ðể làm chứng về sứ mạng của Ngài, sứ mạng thiết lập Nước Thiên Chúa, Vương Quốc Tình Yêu vô biên, Ngài đã không tránh né, nhưng đã bằng lòng chịu chết, và chết cách ô nhục nhất. Hành động tuyệt đỉnh ấy của tình yêu chưa từng bao giờ xảy ra một hành động cao cả tột bậc như thế: cao cả tột bậc xét vì xuất xứ và phẩm vị của chủ thể hành động là bằng chứng hùng hồn, hiển nhiên, nồng cháy nhất đối với con người, là bằng chứng cuối cùng, và là bằng chứng không bao giờ phai mờ về bản chất ghê rợn của tội lỗi nguyên nhân gây ra mọi thảm cảnh trong nhân loại mà con người phải gánh chịu cũng như về lòng tin và lòng sốt mến con người phải sống mạnh để xả thân (đến độ cũng dám hy sinh cả mạng sống của mình...) xây dựng Nước Thiên Chúa.

Ðó là một vài tư tưởng có thể nêu lên liên quan đến ý nghĩa công cuộc Cứu Ðộ... hầu tránh cho khỏi rơi vào những kiểu nói quá dễ dàng theo lối nhân hình về Thiên Chúa, và để tôn trọng các đòi hỏi của kế hoạch Tình Yêu, kế hoạch trong đó, công trình Cứu Ðộ nhân loại được triển khai. Nhưng, dù có trình bày như thấy trên đây và dù có được chấp nhận, thì cũng còn rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết nếu muốn ứng đáp để nói theo kiểu triết gia Blondel những đòi hỏi của tư tưởng hiện đại về môn hộ giáo. Bằng cuộc hy sinh trên thập giá, Ðức Kitô đã giải cứu con người khỏi điều gì? Thường nghe nói là để giải thoát con người khỏi ách sự dữ, khỏi gồng cùm thống trị của tội lỗi... Nhưng, nói thế có nghĩa là gì? Ách thống trị song đôi ấy là như thế nào? Công trình Cứu Ðộ đã mang lại được gì cho con người giữa thế giới đầy nham hiểm của loài người chúng ta đây?

 

II- NHỮNG ÐIỂM THEN CHỐT TRONG CHỦ ÐỀ CỨU ÐỘ: SỰ DỮ VÀ TỘI LỖI

Như thế, cuộc Cứu Ðộ là việc dâng hiến của Tình Yêu vô biên, nhằm bù lại những tàn phá gây ra do những gì cũng mang tính chất vô biên, tức sự dữ và tội lỗi. Một khối sự dữ và một khối tội lỗi (thánh Âugutinô gọi là Massa peccati) đã ngập tràn trên toàn thế giới loài người ngày từ đầu. Sự Thiện vô biên đã đến để tái lập thế cân bằng đối lại với sự dữ. Nhưng phải dừng lại để nhìn cho kỹ: sự dữ là chi mà đã bóp méo đi bộ mặt của thế giới? Tội lỗi là gì mà đã làm cho nhân loại ra hư hỏng đến thế (và đã khiến cho nhân loại có được Ðấng Cứu Tinh cao cả dường ấy! như vẫn nghe hát qua bài công bố Tin Mừng Phục Sinh Exultet). Còn cái tội mà giáo lý coi là đã làm cho nhân loại ra ô uế ngay từ ban đầu, và vẫn mang tên là tội nguyên tổ thực ra là gì vậy? Ðể hiểu được ý nghĩa của cuộc Cứu Ðộ, thì cần phải hiểu các vấn đề then chốt của công trình ấy, tức những gì công cuộc Cứu Ðộ nhằm tới, muốn xua trừ, và cố giải thoát con người cho khỏi.

Vấn Đề Sự Dữ và Đau Khổ

Vấn đề sự dữ thường được coi là thách đố thiên cổ đối với triết học cũng như thần học. Nhiều người không ngần ngại coi đó là vấn đề nan giải; một số người khác thì lấy đó làm lý chứng khá phổ biến chống đối sự hiện hữu của một Thiên Chúa tốt lành. Cho đi đó là một vấn đề gai gốc; tuy nhiên, cũng có thể nghĩ rằng với một chút cố gắng suy nghĩ cộng với thái độ thận trọng cần thiết về mặt phương pháp, thì nếu không thể nắm vững trọn vẹn (do bởi tính chất mầu nhiệm của nó), ít ra cũng có thể nhận diện được vấn đề một cách thoả đáng, cũng như đọc thấy vai trò và sự cần thiết không thể bỏ qua một bên được của nó. Và cả đây nữa, chính khuynh hướng suy tư nhân hình về Thiên Chúa sẽ tiếp tục gây cản trở làm cho nỗ lực giải quyết vấn đề không tiến hành một thích hợp và thỏa đáng được: con người giới hạn muốn đoán định mọi sự theo thước đo cụt ngủn của trí khôn mình... trong khi vấn đề thì mang những chiều kích tầm cỡ vũ trụ, vượt quá tầm tay loài người.

Những Phản Ứng Khác Nhau Trước Vấn Đề Sự Dữ Và Khổ Đau

Dĩ nhiên, hằn sâu trong tâm thức con người, vấn đề sự dữ và đau khổ ảnh hưởng đến cả những phản ứng ẩn kín nhất trong đời sống con người. Khi tia sáng ý thức vừa xuất hiện trong lương tâm của một hữu thể dạng người (anthropode), thì nó đã tự hỏi tại sao mình lại phải khổ. Nhưng, qua các thời đại, con người phản ứng rất khác nhau trước vấn đề sự dữ và đau khổ, ít ra là theo những gì biết được. Cũng nên nhắc lại một vài trường hợp điển hình: theo truyền thống thiên cổ xứ Iran ngày trước (dân Ba Tư - Perses) thì đau khổ và sự dữ là một trong những thành tố của thế giới. Làm như xuất phát từ hai nguyên lý, Thiện và Ác chia nhau nắm giữ vận mệnh của Vũ Trụ và Nhân Loại. Ðó là giáo thuyết Mazdéisme; [7] theo giáo thuyết này thì có một Thần Thiện và một Thần Ác. Giữa hai Thần này thường xuyên có xung đột, và nhân loại là chiến trường đặc tuyển. Truyền thống Ðông Phương này tồn tại lâu đời: vẫn còn thấy được nhiều dấu vết thuyết nhị nguyên Manikêô trong những thế kỷ đầu công nguyên. Có một thời, thuyết này cũng đã thu hút được thiện cảm của thánh Âugutinô (và đã để lại nơi ngài một số dấu vết, chẳng hạn như khuynh hướng bi quan đối với con người). Khỏi phải nói thì ai cũng nhận ra được tính cách hoàn toàn hoang đường của lối giải thích vừa nói. Làm sao mà tưởng tượng ra được nguyên lý Ác là gì? Ðâu là những quan hệ về nguồn gốc và về uy lực giữa nguyên lý Ác và nguyên lý Thiện? Lối giải thích theo quan niệm nhị nguyên này sẽ dần dần tan biến đi và chỉ để sót lại một vài xu hướng nhị nguyên, gọi bằng tên chung là chủ thuyết Manikêô, nhưng không còn phải là một cách giải thích về vũ trụ nữa, mà chỉ là một lối suy nghĩ thôi.

Trái lại, có những người tìm cách giảm nhẹ vấn đề, và nghĩ rằng có lẽ sự dữ không phải là cái gì có thực như người ta thường tưởng lúc mới nhìn qua. Ðó là khuynh hướng gặp thấy tại Ấn Ðộ thời xa xưa (Ấn Ðộ của thời các kinh Phệ Ðà, Upanisát...), và đặc biệt đó cũng là khuynh hướng được quy gán cho Phật Giáo: đau khổ chỉ hiện hữu trong cách phản ứng, theo mức cảm nhận của con người; nếu không cảm nhận như thế, thì một phần lớn hoặc cũng có thể là hơn thế nữa, hết mọi đau khổ sẽ tan biến đi. Làm tê cóng hết mọi phản ứng, Niết bàn sẽ giải thoát con người khỏi mọi khổ đau, đặc biệt hơn cả là khỏi mọi đớn đau (xem bài giảng ở Bênarès).

Quan niệm như thế thì cũng có nhiều điều đúng: qua lối sống đi tìm sung túc mãn nguyện, con người làm cho đau khổ tăng thêm lên; ngược lại, chắc chắn đau khổ sẽ giảm xuống nếu biết dùng lý trí suy luận mà từ khước nó và biết làm cho các khả năng sẵn có trở nên mềm dẻo hơn. Ðó là những gì giải thích cho hiểu về đà thành công như đã thấy và đặc biệt là hiện đang thấy trong thời đại này, của những cuộc thao luyện để nội nhập Niết Bàn, những kỹ thuật Thiền và Suy Chiêm siêu nghiệm. Tuy nhiên, dựa theo đó mà kết luận rằng khổ đau chỉ là chuyện của thế giới ảo tưởng do thế giới hữu hình dựng đứng lên, thì quả đã bước một bước quá dài, bước qua cả một vực thẳm, khó mà vượt qua cho được. Những ai đã từng bị tra tấn trong các chế độ chuyên quyền sẽ phản ứng đúng mức trước những lập luận như vậy. Có thể làm cho đau khổ giảm bớt đi, có thể làm cho ranh mức của đau đớn lùi lại; nhưng không bao giờ loại trừ hẳn được đau khổ ra khỏi thân phận con người.

Có những người khác xuất thân từ truyền thống Hy Lạp hiển hách thì cho rằng: nếu biết cương quyết, tự tín, và làm chủ được vận mệnh mình, tất con người sẽ có đủ sức loại bỏ thành tố chua cay kia của kiếp người bằng thái độ lạnh lùng, khinh khi. Ðó là chủ trương của phái khắc kỷ Stoa. Quả họ đã đề ra nhiều mô mẫu xinh đẹp cho nhân loại, và đã hoạt động nhiều để cổ xúy việc nhìn nhận phẩm chất cao cả của con người; nhưng nói rằng nhất định phải cảm thấy hạnh phúc khi nằm trong bụng bò rừng Falaris, thì hẳn đã rơi sâu vào thế giới thần thoại, ảo tưởng nữa rồi. Ðớn đau là một hiện thực khắc nghiệt mà con người có thể chế ngự đến một mức nào đó, nhưng không bao giờ có thể triệt tiêu hoàn toàn được cả. Qua kinh nghiệm của các bậc minh triết, toàn bộ lịch sử đức khôn cổ thời chẳng hạn như truyền thống Kinh Thánh, kể từ sách ông Gióp cho tới những tiếng kêu than trong sách Khải Huyền nhất trí nhìn nhận và nói rõ cho biết đau khổ là một hiện thực tất định trong thiên nhiên, và cách riêng, là một thành tố không thể triệt tiêu khỏi thân phận con người. Sự dữ và đau khổ hiện diện trong tư tưởng, trong hành động và trong mọi phản ứng của con người. Hai hiện thực tại này là mặt trái của sự vật; không sao chối bỏ được điều đó. Chỉ còn một cách là thích ứng với hiện thực ấy của cuộc sống. Thế nhưng làm sao hiểu cho được sự hiện hữu của thực tại này? Có trả lời được câu hỏi ấy thì mới nắm được ý nghĩa của ơn cứu độ mà trước cảnh tượng và trong thế giới của sự dữ cùng khổ đau, Ðức Kitô đề nghị với con người.

Các Dạng Thái Khác Nhau Của Sự Dữ

Ðã từ lâu từ thời triết gia Aristốt loài người có thói quen phân chia sự dữ thành ba loại. Có một dạng được gọi là sự dữ siêu hình, (métaphysique) phát nguồn từ tính chất hữu hạn của con người. Tất cả mọi loài thụ tạo đều phải sống với nhiều giới hạn, và dù có cảm thấy khổ vì sự kiện hữu hạn này, thì con người cũng không thể làm gì hơn là chấp nhận như một điều không thể tránh được, coi đó là mức giới hạn của sự thiện đã được trao ban cho. Nếu có phải sống qua cảnh già yếu và tử vong, thì đó cũng chỉ là điều tất yếu, không sao tránh được. Ðừng chống đối, than vãn vì đời người quá ngắn ngủi: dù sao đi nữa thì nếu đã có sống tất đời người cũng phải có chết, có lúc chấm dứt. Cũng đừng khó chịu vì cảm thấy yếu kém về thể lý, tinh thần và cả về mặt xã hội: nhất thiết phải có một lúc chấm dứt! Dù ít dù nhiều, bao giờ con người cũng cảm thấy khó chịu vì tình trạng hữu hạn này. Ai biết để tâm suy nghĩ một chút thì sẽ thấy đời là thế và không có lý do gì để than trách cả. Kẻ bi quan thì sẽ tiếp tục rên xiết, người lạc quan thì cứ tiếp tục phấn khởi (đó là câu chuyện về cách nhìn chai nước: chỉ thấy nửa vơi hoặc chỉ thấy nửa đầy). Nếu hữu thể giới hạn hiện hữu, tất phải chịu giới hạn: đó là chuyện hiển nhiên, tất yếu!

Còn có một dạng sự dữ khác nữa, gọi là sự dữ luân lý và chỉ xuất hiện giữa loài người mà thôi, đó là: các lỗi phạm và các tội ác. Tại sao lại có trộm cướp? Tại sao lại có sát nhân? v.v... Mọi người đều hiểu là về mặt này, không có lý do gì để đả kích Ðấng an bài vũ trụ. Có tự do, tức con người có thể xử dụng khả năng đó đúng hay sai, một cách đáng khen hay đáng trách. Là tạo vật có tự do, con người có thể trở thành một Aben vô tội hay một Cain sát nhân. Hẳn là không bao giờ có chuyện thú vật phạm tội giết người hoặc cướp bóc, nhưng cũng không bao giờ chúng biết đến mức hoàn hảo trong đời sống luân lý đạo đức và trong đường thánh thiện. Sự dữ luân lý, như người ta vẫn thường nói, là quả báo của tự do. Thực vậy, nếu sự dữ luân lý đã xuất hiện, thì chỉ vì con người đã dùng tự do sai đi. Thế thì, trong câu chuyện về sự dữ luân lý, thủ phạm là chính con người và chỉ một mình con người mà thôi. Ðức hạnh có hiện diện khắp nơi, thế giới có trở thành thiên đàng hay không là tùy thuộc ở con người. Ðối với dạng sự dữ này, không có gì là khó khăn cho mấy.

Trái lại, đối với sự dữ vật lý (physique), tức đau khổ trên thân xác và trong tâm hồn thì không như thế. Dồn dập, con người đặt câu hỏi: tại sao, là Ðấng đời đời khôn ngoan, Thiên Chúa đã không tạo dựng một thế giới trong đó, không có cái thứ phong hủi, cái tai ương triền miên này: khổ đau của người đang hấp hối, sắp chết đói trong sa mạc, của bệnh nhân giẫy giụa trong các bệnh viện, của người hóa bụa, của kẻ mồ côi... Phải ăn nói thế nào trước những đớn đau ray rức trong cuộc đời khốn khổ như thế của con người? Không thể nào nghĩ ra được một thế giới vận hành hay dở gì cũng được, nhưng không có đau khổ, hay sao? Hay là Thiên Chúa không tạo dựng nổi một thế giới tốt đẹp hơn, một thế giới không có đớn đau và khốn khổ?

Ðó mới là câu hỏi đáng đặt, câu hỏi mà ai cũng tự đặt cho mình và đặt cho những ai đang ra sức suy tầm về vấn đề. Phải nhận đó không phải là một câu hỏi dễ trả lời. Nhưng như đã lưu ý trước đây, không phải vì thế mà nản lòng trước khi thử tìm kiếm. Nếu biết làm chủ óc tưởng tượng và cố tránh đi theo con đường chủ hướng nhân hình, thì mới khỏi rơi vào ngỏ cụt. Trước hết, nên có sẵn một vài yếu tố hoặc nhận xét cơ bản làm nền tảng cho cuộc suy luận.

Yếu tố thứ nhất: đau khổ là một hiện tượng phổ quát, hay ít ra là là như thế đối với các sinh vật. Không chỉ loài người phải đau khổ, mà cả các loài sinh vật gần với loài người về mặt tiến hóa cũng thế; thí dụ: các loài động vật có vú cấp cao, các loài có xương sống, các loài đẻ trứng. Dĩ nhiên là khó mà quan sát cho rõ ràng, chi tiết hơn được, và chỉ có thể đưa ra một số kết luận theo phép ngoại suy (extrapolation) về hiện tượng. Khó mà có thể phủ nhận hiện tượng đau đớn nơi các loài sinh vật vừa kể. Không còn nữa thời ông Descartes, ông Malebranche... thời của chủ thuyết thú vật máy (animaux-machines). Thú vật không phải là những chiếc máy thiết cấu hoàn bị (những con vịt Vaucanson được cải tiến, như de La Mettrie đã nói). Không còn ai phủ nhận việc thú vật biết đau (vì thế đã có hội S.P.A., hội bảo vệ thú vật). Hơn nữa, cũng được biết rằng mức độ đau khổ tương ứng với mức độ ý thức (điều này xem ra đúng đối với loài người; vì thế, có thể dựa theo phép ngoại suy mà áp dụng cho cả các loài thú vật, tùy theo trật bậc tiến hóa...). Do đó, phải coi đau khổ như là một giữa những thành tố trong cuộc phiêu lưu của sự sống.

Nhận xét thứ hai: cuộc phiêu lưu của sự sống đã thành công, dù ngay từ thời khai nguyên, tất cả đều đối nghịch và đều đồng quy về một điểm là chống lại việc triển nở của vật chất sinh động và gây thất bại cho việc xuất hiện của sự sống. Khoảng 2 tỷ rưởi năm trước đây, những điều kiện lý hóa, thời tiết, v.v.... trong hành tinh hãy còn mạnh mẽ đố kỵ với sự sống. Dù vậy, sự sống vẫn nhất quyết nhập cuộc: ban đầu xuất hiện dưới dạng đơn tế bào, rồi đa tế bào, rồi hữu cơ, sau đó sự sống đã có được chỗ đứng và tiếp tục phát triển vững mạnh. Cuối cùng, đã mọc lên cả một cây phả hệ to lớn của sự sống. Làm sao giải thích được việc sự sống đã thành công trước thách đố ấy? Vì đó quả là một thách đố lớn. Ai cũng biết công thức nổi danh của Bichat: Sự sống là toàn bộ những chức năng đã đồng loạt đứng lên chống lại với sự chết.

Theo định luật đi liền với nội chuyển lực (entropie) hoặc là độ thoái giảm năng lực, thì vật chất sinh động là một thách đố đối với quán tính trong thể tự nhiên của mọi dạng vật chất. Sự sống là một bước nhảy vọt, một chiến thắng trường miên trên quán tính và sự chết. Có thể nói đây là một nghịch lý kỳ lạ: tình trạng tự nhiên của một sinh vật là chết. Ðiều làm cho ngạc nhiên không phải là sự chết, bởi đó là tình trạng tự nhiên của mọi dạng vật chất, mà là sự sống. Ðó là thách đố thường xuyên đối với những điều kiện đối nghịch của môi trường chung quanh. Do đó, một câu hỏi được đặt ra: bằng cách nào thách đố kia đã được giải quyết? Và để giải quyết, thiên nhiên (có nghĩa là Ðấng tác tạo ra nó) đã dùng đến phương thức nào? Ðó chính là câu hỏi đáng phải và cần được đặt ra.

Ðau Khổ: Thách Đố Đối Với Quán Tính

Ðây là luận đề cố cựu xa xưa do triết gia Aristốt đề xuất. Ðiều đáng chú ý là khoa học hiện đại đang tiếp sức củng cố cho luận đề này. Aristốt đã căn cứ vào một nhận xét quen thuộc: có thể nhận ra được rằng mọi sinh vật trong thiên nhiên đều thấy thỏa mãn khi nhận vào cơ thể một chất hữu ích, và ngược lại, thấy khó chịu khi phải tiếp nhận một chất độc. Khoái lạc là phần thưởng của hành vi tốt, và bực bội là kết quả của hành vi xấu. Thiên nhiên làm cho mọi sinh vật hoạt động bằng hai sức mạnh: khoái lạc và đau đớn. Ðó là phương pháp ngàn đời của củ cà-rốt và cây roi: khích lệ với củ cà rốt, nghĩa là với khoái cảm để thúc dục động vật làm điều sinh lợi; kềm hãm hoặc cản ngăn bằng cây roi nghĩa là bằng sự đau đớn để nó biết vứt bỏ đi những gì sinh hại cho nó. Khoái lạc thì thu hút, còn đau đớn thì làm cho tránh xa. Và thế giới thế giới các sinh vật cứ tiếp tục như thế mà tiến.

Lẽ tất, đã có nhiều vấn nạn được nêu lên với những bằng chứng đi ngược lại luận đề của Aristốt, chẳng hạn như những khoái lạc độc hại (xì ke ma túy, rượu chè...) và những đau đớn có lợi (đau đớn lúc sinh con, v.v...). Nhưng có người lại cho rằng các trường hợp ấy rất hiếm so với toàn bộ các trường hợp; mặt khác, cũng có thể dùng luận đề về sự tiến hóa giật lùi hoặc suy thoái để giải thích các trường hợp này. Có lẽ con người nguyên thủy không biết đến các trường hợp ngoại lệ này: họ có một cuộc sống lành mạnh hơn, một cơ thể cường tráng hơn. Cả thú vật cũng không thoát khỏi các tiêu chí của Aristốt, theo đó, đau khổ là kích thích tố tự nhiên buộc sinh vật phải lo đề phòng trước các vụ tấn công đang đe dọa, hoặc phải kháng cự khi bị tấn công. Tóm lại, đó là một luận đề đáng lưu ý.

Có phải chính khổ đau đã giúp cho các sinh vật, đặc biệt là loài người, san bằng được các thách đố của quán tính và sự chết? Ðây cũng là một câu hỏi nên đặt ra. Có thể nêu lên các sự kiện mà các nỗ lực quan sát và phân tích đã cho thấy; đó là vô số những sự kiện đã được các nhà chuyên môn rút ra từ những trường hợp cụ thể. Tất cả đều nói lên rằng không những thiên nhiên đã bất chấp đau khổ, mà còn tận dụng đau khổ vào mục tiêu nhắm tới; mục tiêu đó là việc xuất hiện dưới nhiều hình thức của sự sống, tức là việc xuất hiện các giống loài khác nhau suốt trong 2 tỷ rưởi năm có mặt của lịch sử sự sống trên hành tinh này. Không thể kể ra ở đây tất cả những sự kiện đã được kiểm chứng đầy đủ (xin xem công trình khảo cứu của các nhà sinh vật học lão luyện nhất, từ Jean Rostand cho tới giáo sư Grassé chẳng hạn...). Tuy nhiên, cũng xin được nhắc đến một đoạn viết của giáo sư Jean Hamburger, tổng hợp các nhận xét đưa ra mới đây nhất... và giải thích cho thấy sự xuất hiện của các giống loài đã diễn ra qua việc sát sinh các cá thể không chút thương tâm trước khổ đau chúng phải chịu:

Trong tổ chức nghiêm nhặt đó (trong đà triển phát của các giống loại), tuyệt nhiên không có một chút gì xem ra giống với thái độ tôn trọng cá thể, hoặc giống với bất cứ một cử chỉ phản kháng chống lại đau khổ và sự chết. Thí dụ, theo điều kiện của bản tính, con ngựa trời cái buộc phải giết chết con ngựa trời đực liền sau khi giao cấu, và việc ấy không làm ai khó chịu cả. Nếu tình cờ trong một cuộc biến dịch lại có hai con ong chúa trong cùng một tổ ong thì tức khắc con ong chúa có thừa sẽ bị giết chết, và mọi người đều coi đó là chuyện thường. Thiếu mất đi dù chỉ là một chút sức chạy, thì con dê rừng (linh dương) sẽ bị sư tử rượt bắt và giết chết: nhà sinh vật học sẽ nói đến tình trạng chênh lệch, nhưng chắc chắn là sẽ không bàn đến vấn đề bất công.

Và vị giáo sư nổi tiếng viết tiếp tục như sau:

Không có gì sánh được với cảnh bạo tàn, bất công và khinh khi cá thể, thấy được giữa thiên nhiên trong quá trình phát triển của sự sống. Một vài người còn nói thêm rằng đó chính là bí quyết thành công không những của sự khai sinh và trường tồn của hàng trăm triệu giống loài sinh vật, mà còn của cả thế quân bình lạ lùng trong cuộc sống chung giữa các giống loài với nhau. [8]

Ðói khát, đớn đau do vết thương và bệnh tật gây ra... đó là bao nhiêu động lực đẩy mạnh đà tiến hóa; đó là những gì đảm bảo cho khả năng tự vệ của cá thể, cho đà tiến triển của các giống loài.

Một loại quan sát khác do các cuộc nghiên cứu và so sánh có tính cách tổng họp hơn nữa, cũng cho thấy rằng đau khổ là một kích tố giúp phát triển. Một trong những tác giả đã nêu bật rõ nhất điểm này là Cha Teilhard de Chardin. Như tất cả mọi người, ngài đã trực diện với vấn đề đau khổ. Tại sao lại có đau khổ trong thế gian, trong thế giới các sinh vật? Ngài trả lời theo cương vị một nhà khoa học, một khảo sát viên khách quan: ngài nhận thấy đau khổ là thứ kích tố có sức buộc mọi sinh vật phải tự vệ và đưa các giống loài vào vòng thay thế lẫn nhau.

Ngài đã dành cho đau khổ một chỗ đứng nổi bật trong cái nhìn tổng hợp về lịch sử vũ trụ. Ngài đã nhận ra rất rõ rõ đến hoa cả mắt vai trò quyết định của đau khổ; và vì thế, ngài làm như tìm cách để biện hộ cho nó. Có người đã trách ngài là đã quá nhân nhượng với đau khổ; có khi ngài cũng đã bị chỉ trích vì thái độ lạc quan bình thản của ngài. Giữ vững quan điểm như đọc thấy trong tất cả các tác phẩm, từ cuốn Phénomène humain cho đến các thư từ, đặc biệt là các thư viết cho cha Leroy và trước sau một mực, ngài vẫn coi đau khổ là một trong những yếu tố cần thiết cho bước triển phát của thế giới, cũng như cho đà tiến hóa của mọi vật. Theo Ngài, nếu không có đau khổ làm kích tố, thì mọi sự sẽ bị ứ đọng, và từ lâu, sự sống đã biến mất khỏi mặt đất này rồi. Nếu trong gần 3 tỷ năm qua, sự sống đã chiến thắng được mọi trở ngại, thì chính là vì đau khổ đã hiện diện để kích thích và bắt buộc các sinh vật phải phản ứng.

Nếu cứ bình tĩnh khai triển với thái độ khách quan của một khoa học gia, theo lối tổng hợp giáo thuyết, thì sẽ thấy là các luận đề kia xem ra có thể chấp nhận được. Nhưng, đầy tình người, cha Teilhard ý thức rất rõ rằng chủ trương như thế trước những đau khổ của một người sắp chết trên giường bệnh, thì quả là quá khiếm nhã. Hiểu như thế, nên trong các thư viết cho thân nhân đang phải trải qua thử thách khổ đau, ngài đã cố giải thích rõ quan điểm của mình. [9] phải trực diện với những trường hợp thương đau, ngài vẫn giữ vững quan điểm của mình, nhưng đồng thời cũng ra sức cổ xúy thái độ kiên nhẫn chịu đựng. Cần phải biết chấp nhận những định luật lớn trong vũ trụ, xuất phát từ một Trật Tự bên trên. Nổi loạn chống lại đau khổ là một thái độ thiếu suy nghĩ, và nói cho cùng, là một điều vô lý. Tóm lại, cần phải hiểu là tất cả đều đã được khắc ghi trong một trật tự bao quát.

Vậy, hãy thử xét lại để xem tất cả những gì trình bày trên đây có thể được coi là thỏa đáng hay không?

Không Thể Tránh Được Đau Khổ Trong Thế Giới Loài Người

Quả thực, tự phát, suy nghĩ sau đây hiện lên trong tâm trí: Ðấng Tạo Hóa (hoặc Ðấng An Bài cao cả của thế giới, theo cách gọi của một số người) không còn có một cách nào khác để triển khai sự sống hay sao? Ðừng nên coi nhẹ, vấn nạn đáng được suy nghĩ kỹ. Ðể trả lời thì cần phải nhờ đến lịch sử sự sống. Sự sống đã vượt thắng hết mọi chướng ngại sau gần ba tỷ năm. Khi suy về sự kiện ấy, ai cũng phải công nhận đây là một hiện tượng phi thường.

Có người sẽ cố biện minh cho việc coi đau khổ như là lực năng động, bằng cách ra sức làm giảm nhẹ đi tính chất khốc liệt và chua chát của nó. Như đã nói, Phật giáo cho rằng mình có cách để tiêu hủy hết hoặc hầu như hết mọi đau khổ; nhưng đó chỉ là một tham vọng hão huyền, và dù sao thì vấn đề đau khổ của súc vật cũng vẫn còn đó. Còn các người theo phái khắc kỷ thì cho rằng có thể phủ nhận đau khổ; nhưng mọi người đều thấy là kỳ vọng này cũng có giới hạn rất chặt chẽ của nó.

Ðừng bóp méo hiện tượng: đau đớn là chuyện có thật, đau đớn thể lý và cả đau khổ không kém tàn bạo trong tâm hồn nữa. Cứ nhìn vào thực trạng cuộc sống: đau khổ đó, ngay trước mắt. Gabriel Tarde gọi đó là bộ mặt cau có của mọi sinh vật và mọi sự vật. Vâng, đau khổ có thực sự. Người ta còn có thể hỏi xem đau khổ có một giá trị tích cực nào không? Tức là cuối cùng nó có mang lại một kết quả hữu ích nào cho cá nhân hoặc cho giống loài không? Ðã nhìn qua, nhưng cần phải nhìn kỹ và đi cho sát vấn đề hơn nữa. Khoa học nói gì, tâm lý học nói gì về vấn đề này?

Vấn đề đang được nghiên cứu sâu rộng về mặt thuần túy khoa học (đặc biệt là tại Trung tâm y khoa ở Lyon). Câu hỏi được đặt ra cách riêng đối với các vụ tầm cứu về các loại thuốc tê. Hiện người ta đang cố tìm cho ra các loại thuốc giảm đau mạnh bao nhiêu có thể để giúp những người sắp chết có thể ra đi mà không thấy đau đớn: loại thuốc này sẽ giải quyết những khó khăn do vấn đề làm cho chết êm dịu (euthanasie) đặt ra. Kết quả các cuộc điều tra và phân tích hiện chưa cho phép đưa ra được một kết luận nào quyết định. Và còn có thể hỏi thêm là: có thể làm cho tan biến đi hết mọi đau đớn mà không gây nguy hại đến tình trạng sức khỏe của người bệnh hay không? Và đau đớn có hay không có khả năng trị liệu do bởi việc gây ra trong vỏ não và thần kinh não, những phản ứng hữu ích và những kích ứng giúp củng cố các phản ứng cơ bản của sự sống?

Chưa ai trả lời được các câu hỏi này cho dứt khoát cả. Nhưng, dựa vào các cuộc nghiên cứu đang tiến hành hiện nay, nhiều quan sát viên tỏ ra thận trọng và có xu hướng cho rằng đau đớn thể lý có một tác dụng trực tiếp bổ ích trên cơ thể. Nếu không biết đến đau đớn, con người sẽ đánh mất đi sức đề kháng cốt thiết, cần cho sự sống còn. Theo đó, những dữ liệu khoa học có thể cho phép kết luận rằng quả thực đau khổ mang một chiều kích tích cực, hoặc hơn thế nữa, tiềm chứa một sức tác động trực tiếp bổ ích. Nhận định này kéo theo nhiều hệ luận quan trọng về mặt triết học và luân lý học. Nếu đúng thế, thì đau khổ sẽ được thừa nhận là bổ ích, sẽ được coi như liều thuốc thần chữa lành những gì bất chính nơi con người, và sẽ có được một bước tiến quan trọng trong việc hiểu biết về vai trò của đau khổ nơi thế giới các sinh vật. Tiếc thay, hiện giờ, chưa có được một kết luận thực sự dứt khoát về điểm này. Nhưng, hình như có nhiều suy đoán vững chắc xuất hiện dần trong chiều hướng đó. Dù sao, thì cũng phải chờ... và hãy để yên cho các khoa học gia tiếp tục công việc nghiên cứu của họ.

Dù không nắm được một câu trả lời thực sự chính xác về mặt khoa học cho vấn đề, thì vẫn có thể tìm hiểu vấn đề về mặt triết lý (và có lẽ cả thần học nữa). Xin được nhắc lại biểu đề của vấn đề: Có tìm ra được một giải pháp nào khác ngoài đau khổ để bảo đảm đà triển phát của sự sống hay không? Ðối lại với câu hỏi đó, thì tiên thiên (a priori), xin được nêu lên một vấn nạn: hỏi như thế kia thực sự có nghĩa lý gì không? Hay là lại một lần nữa, rơi vào con đường nhầm lẫn về phương pháp làm việc, rời vào cạm bẫy củ